Politics

Sau gần 65 năm lãnh đạo, Đảng CS đã kéo kinh tế đất nước thụt lùi hàng trăm năm, đưa VN vào một trong bốn nước CS có mức thu nhập đầu người thấp nhất trên thế giới. Cái thể chế chính trị quái gở hình thành những thế lực ma quỷ lủng đoạn, điều hành đất nước theo hướng trục lợi cá nhân đã phá hủy nền kinh tế ngay từ gốc rể xã hội, mọi ý kiến đóng góp chân thành bị gạt phăng bởi đụng chạm quyền lợi cá nhân của một nhóm người có quyền lực đã khiến mọi nổ lực xây dựng vô hiệu hóa và đất nước mãi mãi đi vào con đường nghèo đói, chấp nhận mang cái mặt dầy đi xin viện trợ quốc tế, lấy 86 triệu người dân làm con tin để trao đổi những mặc cả chính trị phục vụ cho lợi ích cá nhân.
Trong lịch sử khó có chế độ nào dùng bạo lực mà tồn tại lâu, với nguy cơ TQ lúc nào cũng phá hoại và lăm le thôn tính VN, nếu không chịu thay đổi đường lối chính sách nguy cơ tụt hậu dẫn đến mất nước là hiểm họa có rồi. Khi đó thì cái giàu sang đó chẳng có ý nghĩa gì khi là con của một dân tộc thuộc địa dưới quyền sai khiến của Bắc kinh, bây giờ vẫn còn kịp để thay đổi tư duy thoát khỏi tầm ảnh hưởng phương bắc, mạnh dạn xây dựng một thể chế chính trị độc lập đưa VN phát triển kịp khối Asean và cố gắng hội nhập với thế giới bên ngoài xóa đi ấn tượng rất xấu của VN trong quá khứ.

Dân chủ hóa ở các nước diễn ra như thế nào

Samuel P. Huntington

Dịch giả: Vương Thiện

Giữa những năm 1974 và 1990 hơn 30 nước Nam Âu, châu Mỹ latinh, Đông Á, và Đông Âu chuyển đổi từ chế độ độc tài sang hệ thống chính thể dân chủ. Cuộc “cách mạng dân chủ toàn cầu” này có lẽ là trào lưu chính trị quan trọng nhất cuối thế kỷ 20. Đây là làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba trong kỷ nguyên hiện đại. Làn sóng dân chủ hóa này bao gồm một nhóm các nước chuyển đổi từ chế độ phi dân chủ sang chế độ dân chủ trong một khoảng thời gian nhất định, và số lượng các nước như vậy nhiều hơn nhiều các quá trình chuyển đổi đối nghịch trong cùng khoảng thời gian. Làn sóng thứ nhất diễn ra tại châu Mỹ vào đầu thế kỷ mười chín và lên đến đỉnh điểm vào giai đoạn cuối chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, với khoảng 30 nước đạt được chế độ dân chủ. Cuộc đổ bộ của Mussolini vào thành Rome năm 1922 bắt đầu một làn sóng đối nghịch, và vào năm 1942 chỉ còn lại 12 nền dân chủ trên thế giới. Với chiến thắng của quân đội Đồng minh ở chiến tranh Thế giới lần thứ hai và ảnh hưởng từ phong trào phi thực dân hóa, phong trào hướng tới dân chủ lần thứ hai đã được khởi xướng, mặc dù phong trào lần này yếu dần và thoái trào vào đầu thập niên 60, với khoảng 36 nước hưởng các chế độ dân chủ. Tiếp ngay sau đó là phong trào đối nghịch lần thứ hai hướng về chủ nghĩa độc tài, đánh dấu đột ngột nhất là bằng các cuộc tiếp quản quân sự tại châu Mỹ latinh và cướp chính quyền của những kẻ độc tài như Ferdinand Marcos.

Nguyên nhân khởi nguồn của làn sóng thứ ba, cũng như của các làn sóng trước đó, rất phức tạp và mang tính đặc thù riêng. Tuy nhiên, bài viết này không lưu tâm tới việc tại sao có làn sóng thứ ba này, mà hơn hết lưu tâm với câu hỏi là các tiến trình dân chủ hóa của làn sóng này đã diễn ra như thế nào: các cách thức trong đó lãnh đạo chính trị và quần chúng trong thập niên 1970 và 1980 kết thúc các hệ thống độc tài và tạo ra các chế độ dân chủ. Con đường đi đến sự thay đổi rất đa dạng, cũng như thế về những nhân vật chủ chốt đưa đến sự thay đổi. Hơn hết, điểm bắt đầu và kết thúc của các quá trình này không đối xứng. Có những sự khác biệt rõ rệt tồn tại giữa các chế độ dân chủ: một vài dưới hình thức dân chủ tổng thống, số khác theo hình thức nghị viện, số khác nữa theo trường phái của Charles De Gaulle là sự tổng hòa của cả hai hình thức trên; do đó, một số là hai đảng, số khác đa đảng, và những sự khác biệt lớn tồn tại ở bản chất và sức mạnh của các đảng này. Những sự khác biệt này có tầm quan trọng đáng kể đối với tính ổn định của các hệ thống dân chủ đã hình thành, nhưng không quan trọng lắm trong các quá trình dẫn đến việc ra đời những nền dân chủ này[1].  Sự khác biệt quan trọng hơn cả là trong tất cả các nền dân chủ, viên chức chính của chính phủ được lựa chọn thông qua các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh mà trong đó toàn thể dân chúng đều có thể tham gia. Do đó, các hệ thống dân chủ có một điểm hạt nhân chung về thể chế và đây chính là cái tạo nên đặc tính của các hệ thống này. Các hệ thống độc tài – như từ này được dùng trong nghiên cứu này – được xác định đơn giản là tính vắng mặt của hạt nhân thể chế đó. Ngoài việc không phải là các thể chế dân chủ, các thể chế này có thể không có gì nhiều chung. Do đó, sẽ là cần thiết bắt đầu cuộc thảo luận về sự thay đổi trong các chế độ độc tài bằng việc xác định những sự khác biệt giữa các chế độ này và điểm quan trọng trong những điểm khác biệt đó đối với các tiến trình dân chủ hóa.

CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Trong lịch sử, các chế độ phi dân chủ tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau. Các chế độ tiến hành dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ nhất nói chung là các chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ quý tộc phong kiến còn rơi rớt lại, và các quốc gia kế thừa các đế chế lục địa. Các chế độ dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ hai trước đó là các quốc gia phát xít, thuộc địa, và độc tài chính trị cá nhân hóa và trước đó thường đã có kinh nghiệm về dân chủ. Các chế độ chuyển động và hướng tới dân chủ trong làn sóng lần thứ ba rơi vào 3 nhóm: chế độ một đảng, chế độ quân sự, và chế độ độc tài mang tính cá nhân.

Hệ thống một đảng hình thành từ cuộc cách mạng hoặc do sự áp đặt của Xô-viết và bao gồm các nước cộng sản cộng thêm Đài Loan và Mê-hi-cô (Thổ Nhĩ Kỳ cũng phù hợp với mô hình này trước khi nước này thực hiện dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ hai vào những năm 1940). Trong các hệ thống này, đảng cầm quyền giữ độc quyền về quyền lực, tiếp cận quyền lực thông qua tổ chức đảng, và đảng cầm quyền hợp pháp hóa sự thống trị của mình thông qua ý thức hệ/hệ tư tưởng. Các hệ thống này thường đạt được mức độ thể chế hóa chính trị tương đối cao. Các chế độ quân sự được tạo ra sau các cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân chủ hoặc dân sự. Trong các hệ thống này, quân đội thực thi quyền lực trên cơ sở thể chế, với một đặc tính tiêu biểu là giới lãnh đạo quân đội thường quản lý nhà nước như những kẻ độc tài quân sự hoặc phân phối các vị trí hàng đầu trong chính phủ cho các vị tướng lĩnh đứng đầu quân đội. Các chế độ quân sự tồn tại trong rất nhiều nước ở châu Mỹ latinh (nơi một số người coi gần giống như mô hình quan liêu – độc tài) và ở cả Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Nigeria và Hàn Quốc.

Chế độ độc tài mang tính cá nhân là nhóm thứ ba, đa dạng hơn trong hệ thống các nền phi dân chủ. Đặc điểm phân biệt một chế độ độc tài mang tính cá nhân là ở chỗ vị lãnh đạo đó là nguồn của quyền hành và ở chỗ quyền lực phụ thuộc vào việc tiếp cận tới vị lãnh đạo này, sự gần gũi với vị này, sự phụ thuộc vào vị này, và sự ủng hộ của vị lãnh đạo này. Nằm trong phân loại này gồm có Bồ Đào Nha dưới thời António Salazar và Marcello Caetano, Tây Ban Nha dưới thời Francisco Franco, Philipin dưới thời Ferdinand Marcos, Ấn Độ dưới thời Indira Ghandi, và Rô-ma-ni-a dưới thời Nicolae Ceausescu. Độc tài mang tính cá nhân có rất nhiều nguồn gốc khởi nguyên. Những vị độc tài ở Philipin và Ấn Độ là kết quả của đảo chính ở cấp độ hành pháp. Độc tài ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha bắt đầu bằng các cuộc đảo chính quân sự (trong đó, ở trường hợp của Tây Ban Nha, sau đó dẫn đến chiến tranh dân sự) với những kẻ độc tài lần lượt thiết lập cơ sở quyền lực độc lập với quân đội. Tại Rô-ma-ni-a, độc tài mang tính cá nhân sinh ra từ chế độ một đảng. Chi-lê dưới thời Augusto Pinochet khởi đầu là một chế độ quân sự nhưng trong thực tế dần trở thành độc tài mang tính cá nhân do sự nắm quyền kéo dài của ông này và những bất đồng cũng như vị thế thống trị của ông với các lãnh đạo của giới quân sự. Một vài độc tài mang tính cá nhân như Marcos và Ceausescu, như Anastasio Somoza, François Duvalier, Sese Seko Mobutu, và vua Iran, là những ví dụ điển hình cho mô hình của Weber về các chế độ sultanic đặc trưng bởi quyền bổ nhiệm, ưu đãi, quan hệ và tham nhũng.

Chế độ một đảng, chế độ quân sự, và độc tài mang tính cá nhân đè nén cả tính cạnh tranh và sự tham gia. Hệ thống của Nam Phi khác những chế độ này ở chỗ hệ thống này về cơ bản là chính thể đầu sỏ theo chủng tộc với hơn 70 phần trăm dân số bị loại khỏi chính trị nhưng với tính cạnh tranh chính trị tương đối căng thẳng xuất hiện trong cộng đồng các quan chức chính phủ người da trắng. Kinh nghiệm từ lịch sử cho thấy dân chủ hóa diễn ra dễ dàng hơn nếu cạnh tranh mở rộng trước khi có sự tham gia.[2] Nếu đây là trường hợp đó, triển vọng cho một kết cục dân chủ hóa thành công ở Nam Phi là cao hơn so với các nước có các dạng thức khác của hệ thống độc tài. Quá trình diễn ra ở Nam Phi, ở một mức độ nào đó, giống với các quá trình dân chủ hóa ở thế kỷ 19 tại châu Âu trong đó đặc điểm trung tâm là sự mở rộng quyền đi bỏ phiếu bầu cử và sự thiết lập một chính thể chính trị mang tính đại diện rộng hơn. Trong những trường hợp này, sự loại trừ dựa trên các cơ sở kinh tế, chứ không phải trên cơ sở chủng tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử, các hệ thống công xã theo thứ bậc thường có tính kháng cự rất cao trước thay đổi mang tính hòa bình.[3] Cạnh tranh trong hệ thống chính thể đầu sỏ do đó thuận lợi hơn cho quá trình dân chủ hóa thành công của Nam Phi; khái niệm chủng tộc của chính thể đầu sỏ này đã tạo ra vấn đề cho quá trình dân chủ hóa.

Các chế độ cụ thể không phải luôn luôn hợp sít sao vào một trong những phân loại cụ thể kể trên. Ví dụ vào đầu thập niên 1980, Ba Lan là tổng hợp của các yếu tố của một chế độ một đảng đang bị mọt ruỗng và của một chế độ dựa trên quân đội trong tình trạng thiết quân luật đứng đầu là một sĩ quan quân đội và người này cũng đồng thời là tổng bí thư Đảng Cộng sản. Chế độ cộng sản của Rô-ma-ni-a (cũng giống như ở Hàn Quốc) khởi đầu là chế độ một đảng nhưng đến những năm 1980 đã tiến sang hình thức độc tài mang tính cá nhân sultanic.

Nói về tính vi mô rõ ràng kinh tế tư nhân ưu điễm vượt trội không bàn cải, bản chất vấn đề là lợi nhuận được đặt lên hàng đầu, khó có mô hình kinh tế nào hay hơn.
Về vĩ mô kinh tế TBCN thể hiện sự ưu việt hơn những nền kinh tế mang tên XHCN hiện nay, việc lựa chọn cân nhắc chỉ mang tính khập khễnh.
Vậy do đâu nhiều nước vẫn muốn bám vào cái hệ thống vừa yếu kém, vừa trì trệ đó và ngày càng củng cố thêm cái lý luận suông về cái CSCN hảo huyền không thực ?
Đó là do cái siêu lợi nhuận trong chế độ toàn trị mang lại, chỉ một nhóm người có quyền quyết định vận mệnh dân tộc, nhìn lại những Kim Nhật Thành, Fidel Castro,Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, Nông đức Mạnh, ….không ai nghèo cả, và những cán bộ cấp dưới gọi là Tư sản Đỏ. Đất nước nghèo, người dân nghèo nhưng Tư sản đỏ không biết nghèo là gì …

Chế độ tại Chi- lê giữa những năm 1973 và 1989 một phần là chế độ quân sự nhưng trái ngược với các chế độ quân sự khác ở Nam Mỹ, trong suốt thời kỳ tồn tại của nó, cũng chỉ có một lãnh đạo, người đã phát triển các nguồn lực chính trị khác. Do vậy, chế độ này mang khá nhiều các đặc điểm của một chế độ độc tài mang tính cá nhân.

Chế độ độc tài Noriega của Panama, một mặt, cá nhân hóa rất cao nhưng cũng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào quyền lực quân sự. Các phân loại trong Bảng 1 do đó phải được xem như những xấp xỉ phác thảo. Khi một chế độ có các yếu tố của cả hai dạng thức, chế độ đó sẽ được phân loại dựa trên những yếu tố nổi trội khi quá trình
chuyển đổi đang bắt đầu.

Trong làn sóng lần thứ hai, dân chủ hóa diễn ra phần lớn thông qua sự áp đặt ngoài nước và phi thực dân hóa. Trong làn sóng thứ ba này, như chúng ta đã thấy, hai quá trình này ít đặc biệt hơn, giới hạn trước năm 1990 ở Grenada, Panama, và một vài nước nhỏ là thuộc địa cũ của Anh mà phần lớn nằm trong khu vực Ca-ri-bê. Trong khi các ảnh hưởng từ bên ngoài thường là những nguyên nhân quan trọng của làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, tự bản thân các quá trình này lại mang tính nội tại một cách áp đảo. Các quá trình này có thể được định vị là nằm trên một trục liên tục về tầm quan trọng tương đối của việc điều hành nhà nước và các nhóm đối lập thì được xem
như nguồn của dân chủ hóa. Cho các mục tiêu phân tích, sẽ giúp ích nếu nhóm các trường hợp này lại thành 3 loại quá trình chính. Biến đổi (hoặc như cụm từ của Juan J. Linz, sửa đổi) xuất hiện khi các tầng lớp chóp bu cầm quyền chủ động tiến hành thực cải tổ tạo ra dân chủ. Thay thế (hay tuyệt giao, từ của Linz) xuất hiện khi các nhóm đối lập nắm vị trí đầu trong quá trình đem lại dân chủ, và chế độ độc tài sụp đổ hoặc bị lật đổ. Cái được gọi là sự tách thoát hay “biến đổi và thay thế” xuất hiện khi dân chủ hóa đạt được chủ yếu từ hành động chung giữa chính phủ và các nhóm đối lập.  Hầu như trong tất cả các trường hợp, các nhóm cả đang nắm giữ quyền lực và bị tước quyền lực đều đóng vai trò nào đó, và các phân loại này chỉ đơn giản để phân biệt vai trò quan trọng tương đối của chính phủ và bên đối lập.

Như với các loại chế độ, các trường hợp về thay đổi chế độ trong lịch sử không nhất thiết phải hợp khít vào các phân loại mang tính lý thuyết ở đây. Hầu như tất cả các chuyển đổi, không chỉ các quá trình tách thoát, đều có ít nhiều thương lượng – rõ ràng hoặc ẩn, công khai hay vụng trộm – giữa chính phủ và các nhóm đối lập. Thỉnh
thoảng chuyển đổi bắt đầu như một dạng thức nhưng sau đó dần trở thành một dạng thức khác. Ví dụ, đầu những năm 1980, P. W. Botha có vẻ như bắt đầu khởi xướng quá trình biến đổi trong hệ thống chính trị Nam Phi, nhưng ông ta đã dừng lại kiểu như không dân chủ hóa hệ thống này. Đối diện với một môi trường chính trị khác biệt,
người kế nhiệm của ông này, F.W. de Klerk, chuyển sang quá trình tách thoát trong đó có thương lượng với nhóm đối lập chính. Tương tự, các học giả đồng ý với nhau là chính phủ Bra-zil đã khởi xướng và kiểm soát quá trình chuyển đổi cho rất nhiều năm. Một số lại cho rằng chính phủ này đã để mất quyền kiểm soát của mình trong quá trình đó và đấy là kết quả của các cuộc huy động dân chúng và biểu tình trong những năm 1979–1980; tuy nhiên, những người khác lại chỉ ra rằng thành công của chính phủ trong việc kháng cự lại những yêu cầu mạnh mẽ của phe đối lập về bầu cử trực tiếp tổng thống giữa thập niên 1980s. Mỗi trường hợp trong lịch sử đều bao gồm cả các yếu tố của hai hoặc nhiều hơn thế các quá trình chuyển đổi. Mặc dù vậy, gần như mỗi trường hợp trong lịch sử  đều rơi vào một loại quá trình rõ hơn vào các quá trình khác.

Bản chất của chế độ độc tài có liên lạc như thế nào với bản chất của quá trình chuyển đổi? Như Bảng 1 cho thấy, không có mối quan hệ một – một. Mặc dù vậy, bản chất của chế độ độc tài có ảnh hưởng lên bản chất của quá trình chuyển đổi. Ngoài 3 ngoại lệ, tất cả các chuyển đổi từ chế độ quân sự đều kéo theo biến đổi hoặc tách thoát.

Trong 3 ngoại lệ – Ác-hen-ti-na, Hy Lạp và Panama – các chế độ quân sự chịu thất bại quân sự và sụp đổ như một hệ quả. Ở đâu đó, những kẻ thống trị trong quân đội cầm đầu, thỉnh thoảng để đáp trả lại áp lực từ phía đối lập và từ phía dân chúng, trong việc đem lại sự thay đổi trong chế độ. Những kẻ thống trị trong quân đội ở vị trí tốt hơn để chấm dứt chế độ của họ so với những kẻ thống trị của các chế độ khác. Hầu như những kẻ thống trị quân sự này không bao giờ xác định họ là những người thống trị vĩnh viễn đất nước của họ. Họ duy trì hy vọng là một khi họ xóa bỏ được các tội ác mà từ đó đã dẫn họ đến quyền lực, họ sẽ từ bỏ quyền lực và trở về các chức năng quân sự bình thường của mình. Quân đội có một vai trò thể chế vĩnh viễn khác với chính trị và quản trị nhà nước. Tại một điểm nào đó, các lãnh đạo quân đội (không phải ở Ác-hen-ti-na, Hy Lạp và Panama), quyết định rằng thời điểm đã đến để khởi xướng việc trao trả lại quyền lực cho trật tự dân chủ dân sự hoặc để thương lượng sự thoái lui của họ về quyền lực với các nhóm đối lập. Hầu như luôn luôn việc này diễn ra sau khi đã có ít nhất một sự thay đổi trong hàng ngũ giới lãnh đạo cấp cao của chế độ quân sự.

Lãnh đạo quân đội hầu như lúc nào cũng vậy đặt ra hai điều kiện hay “đảm bảo cho sự ra đi” cho sự thoái lui khỏi quyền lực của họ. Thứ nhất, sẽ không có truy tố, trừng phạt, hay sự trả đũa khác chống lại các sỹ quan quân đội đối với bất kỳ hành động nào họ đã phạm phải khi họ đang nắm quyền lực. Thứ hai, các vai trò thể chế và quyền tự quản của tổ chức quân đội sẽ được tôn trọng, bao gồm cả trách nhiệm toàn bộ của quân đội đối với an ninh quốc gia, vai trò lãnh đạo của quân đội đối với các bộ của chính phủ khi liên quan đến vấn đề an ninh, và thường bao gồm cả quyền kiểm soát của quân đội đối với các ngành công nghiệp vũ khí và các xí nghiệp kinh tế khác mà theo truyền thống nằm dưới sự bảo hộ của quân đội. Khả năng của giới quân sự đang thoái lui đối với việc đảm bảo thỏa thuận với các lãnh đạo chính trị dân sự cho các điều kiện này phụ thuộc vào quyền lực tương đối của họ. Tại Brazil, Peru, và các ví dụ khác về biến đổi, giới lãnh đạo quân sự của những nước này thống trị quá trình và các lãnh đạo chính trị dân sự có rất ít lựa chọn ngoài việc phải chấp thuận các yêu cầu của quân đội. Khi nào quyền lực tương đối giữa hai bên cân bằng hơn, như ở Uruguay, các cuộc thương lượng dẫn đến một vài sửa đổi trong các yêu cầu của giới quân sự. Lãnh đạo quân sự của Hy Lạp và Ác-hen-ti-na đòi hỏi các đảm bảo tương tự như các lãnh đạo ở nơi khác đã đưa rra. Nhưng các đòi hỏi của họ bị giới lãnh đạo dân sự từ chối thẳng thừng, và họ phải đồng ý đầu hàng quyền lực gần như vô điều kiện.

Do đó, đối với giới lãnh đạo quân đội, khá dễ cho họ thoái lui khỏi quyền lực và quay trở về với vai trò quân sự chuyên nghiệp của mình. Tuy nhiên, mặt sau của đồng xu là ở chỗ cũng tương tự như vậy khá dễ dàng cho họ quay trở về nắm quyền khi có tình trạng khẩn cấp và khi quyền lợi của họ bị đe dọa. Giới lãnh đạo chính trị và quân sự không thể đợi đến cơ hội lần thứ hai mới tổ chức một hành động quân sự thành công. Các nền dân chủ trong làn sóng lần thứ ba tiếp quản từ chế độ quân sự bắt đầu hành trình của mình dưới cái bóng này.

Quá trình chuyển đổi và chuyển dịch cũng tiêu biểu cho sự chuyển tiếp từ hệ thống một đảng sang dân chủ trong suốt năm 1989, trừ ở Đông Âu và Grenada. Chế độ một đảng có khung thể chế và tính hợp pháp về ý thức hệ khác với cả chế độ dân chủ và quân sự. Các chế độ một đảng này cũng có một mặc định về tính vĩnh cửu khiến
chúng được phân biệt với các chế độ quân sự. Đặc điểm đặc trưng của hệ thống một đảng là sự đan xen chặt chẽ giữa đảng và nhà nước. Điều này tạo ra hai nhóm vấn đề, về thể chế tổ chức và về ý thức hệ, khi chuyển tiếp sang dân chủ.

Các vấn đề thuộc về thể chế là nghiêm trọng nhất trong kiểu nhà nước theo đảng Lê-nin-nít. Ở Đài Loan cũng như các nước cộng sản khác, sự “tách biệt đảng ra khỏi nhà nước” là “thách thức lớn nhất của một đảng Lênin-nít” trong quá trình dân chủ hóa.  Ở Hungary, Séc và Slôvakia, Ba Lan, và Đông Âu, các điều khoản trong Hiến pháp quy định về “vai trò lãnh đạo” của đảng cộng sản đã phải bị bãi bỏ. Tại Đài Loan, những “điều khoản tạm thời” tương tự như vậy được thêm vào Hiến pháp năm 1950 cũng bị thách thức như thế. Trong tất cả các hệ thống đảng Lênin-nít, vấn đề chính nổi cộm là những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tài sản và tài chính – chúng thuộc đảng hay thuộc nhà nước? Việc xử lý một cách đúng đắn các tài sản này cũng là một câu hỏi – nên do đảng giữ lại, hay để cho nhà nước quốc hữu hóa, hay cho đảng bán cho người trả thầu cao nhất, hay nên được phân phối một cách công bằng giữa các nhóm xã hội và chính trị? Ví dụ như tại Nicaragua, sau khi thất cử hồi tháng hai năm 1990, chính phủ của Sandinista rõ ràng đã hành động nhanh chóng “chuyển giao khối lượng lớn tài sản của chính phủ sang tay của Sandinista.” “Họ bán nhà lẫn cho nhau, bán xe cho nhau,” một doanh nhân chống Sandinista đã cáo buộc như vậy.  Những cáo buộc tương tự về việc xử lý tài sản của chính phủ cũng được đưa ra cho đảng cộng sản khi Đảng Thống nhất chuẩn bị nắm chính phủ ở Ba Lan. (Trong một động thái tương tự ở Chi-lê, khi chuẩn bị mất quyền, chính phủ Pinochet chuyển giao sang tài sản căn cứ quân sự và hồ sơ thuộc các cơ quan khác của chính phủ.) Ở một số nước, lực lượng dân quân của đảng đã phải bị giải tán hoặc đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ, và trong hầu hết các nhà nước một đảng, lực lượng vũ trang đã phải được phi chính trị hóa. Như tại Ba Lan, cũng như ở hầu hết các nước cộng sản khác, tất cả các sỹ quan quân đội phải là thành viên của đảng cộng sản; tuy nhiên, năm 1989, các sỹ quan quân đội Ba Lan đã vận động quốc hội cấm sỹ quan quân đội là thành viên của bất cứ đảng chính trị nào.  Ở Nicaragua, Quân đội nhân dân của chính phủ Sandinista đã từng là quân đội của phong trào, cũng đã trở thành quân đội của nhà nước, và sau đó phải bị chuyển trở lại chỉ thành quân đội của nhà nước mà thôi. Câu hỏi liệu các chi bộ của đảng trong các tổ chức kinh tế có nên tiếp tục tồn tại hay không cũng là một vấn đề rất tranh cãi. Cuối cùng, ở đâu mà chỉ có một đảng duy nhất nắm quyền, ở đó sẽ vẫn có câu hỏi về mối quan hệ của giới lãnh đạo của đảng này trong chính phủ và những cơ quan hàng đầu của đảng như bộ chính trị và ủy ban trung ương. Trong nhà nước Lênin-nít những cơ quan của đảng đưa ra mệnh lệnh về chính sách cho lãnh đạo chính phủ. Tuy thế, mối quan hệ này cũng không thể so sánh được với quyền uy tối cao của các cơ quan được bầu ra của quốc hội và những văn phòng nội các có trách nhiệm trong một nhà nước dân chủ.

Nhóm vấn đề tiêu biểu thứ hai thuộc về ý thức hệ. Trong các hệ thống một đảng, ý thức hệ của đảng tạo ra bản tính của nhà nước. Do đó, chống đối lại đảng nâng lên tương đương với phản bội nhà nước. Để hợp pháp hóa tính đối lập với đảng, cần thiết phải xây dựng được bản tính nào đó khác cho nhà nước. Vấn đề này được thể hiện
trong 3 bối cảnh sau. Đầu tiên, tại Ba Lan, Hungary, Séc và Slôvakia, Romania và Bulgaria, ý thức hệ và quyền lực cộng sản là do Liên bang Sô Viết áp đặt. Ý thức hệ này không phải là thiết yếu để xác định bản tính của đất nước. Trên thực tế, trong ít nhất 3 trong số những nước này, chủ nghĩa dân tộc đã phản đối chủ nghĩa cộng sản. Khi đảng cộng sản của những nước này từ bỏ tuyên bố của họ về quyền lực không thể tranh giành dựa trên ý thức hệ đó, các nước này đã tái xác định lại họ từ “cộng hòa nhân dân” thành “cộng hòa” và tái thiết lập lại chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là hệ tư tưởng làm cơ sở cho nhà nước. Những thay đổi này do đó diễn ra tương đối dễ dàng.

Thứ hai, một vài hệ thống một đảng mà dân chủ hóa trở thành một vấn đề đã được thiết lập từ các cuộc cách mạng dân tộc. Trong các trường hợp này – Trung Quốc, Mê-hi-cô, Nicaragua, và Thổ Nhĩ Kỳ – bản chất và mục đích của nhà nước được xác định bằng ý thức hệ của đảng. Ở Trung Quốc, chế độ này đã trung thành tuyệt đối ý thức hệ của nó và coi sự chống đối mang tính dân chủ đối lập với đảng cộng sản là phản bội đất nước. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ nước này thực hiện một chính sách không dứt khoát và nước đôi đối với các nhóm Hồi giáo thách thức cơ sở thế tục của nhà nước của Kema này. Ở Mê-hi-cô, sự lãnh đạo của Đảng Cách mạng Nhà nước (PRI) cũng có quan điểm tương tự trước thách thức về tự do của đảng đối lập Đảng Hành động Quốc gia (PAN) với đặc tính cách mạng, xã hội và theo chủ nghĩa nghiệp đoàn của nhà nước của Đảng PRI. Ở Nicaragua, ý thức hệ của chính phủ Sandinista là cơ sở của không chỉ chương trình của một đảng mà còn của tính hợp pháp của nhà nước được tạo ra từ cuộc cách mạng Nicaragua.

Thứ ba, trong một vài ví dụ, ý thức hệ của một đảng duy nhất xác định bản chất của nhà nước và phạm vi địa lý của nhà nước đó. Tại Nam Tư và Liên bang Sôviết, ý thức hệ cộng sản đã đưa lại tính hợp pháp về tư tưởng cho nhà nước đa dân tộc. Nếu như ý thức hệ này bị bác bỏ, cơ sở cho nhà nước kiểu đó sẽ biến mất và mỗi dân tộc sẽ có thể tuyên bố nhà nước riêng của mình một cách hợp pháp. Ở Đông Đức, chủ nghĩa cộng sản đưa ra cơ sở ý thức hệ cho một nhà nước riêng rẽ; khi ý thức hệ này bị từ bỏ, cơ sở hợp lý cho một nhà nước Đông Đức biến mất. Hệ tư tưởng của Trung Hoa Quốc dân Đảng (KMT) xác định nhà nước ở Đài Loan là chính phủ của Trung Quốc, và chế độ này đã thấy những nhân tố đối lập ủng hộ một Đài Loan độc lập như những nhân tố có tính chất lật đổ. Vấn đề ở đây ít nghiêm trọng hơn so với 3 trường hợp khác vì hệ tư tưởng được hợp pháp hóa như một khát vọng hơn là một thực tế. Chính phủ của Quốc dân đảng hoạt động trên thực tế như một chính phủ cực kỳ thành công của Đài Loan ngay cả khi trong chính mắt nó tính hợp pháp của nhà nước này phụ thuộc vào chuyện tưởng tượng rằng chính phủ này là chính phủ đúng đắn của toàn nước Trung Hoa.

Khi quân đội từ bỏ kiểm soát chính phủ, họ cũng không từ bỏ kiểm soát các công cụ bạo lực mà với những công cụ này họ có thể phải lấy lại quyền kiểm soát chính phủ.

Dân chủ hóa hệ thống một đảng, tuy nhiên, có nghĩa là đảng chính trị duy nhất tự đặt nó trong nguy cơ kiểm soát của chính phủ và trở thành một đảng thứ hai cạnh tranh trong một hệ thống đa đảng. Trong ý này, sự phân quyền ít hoàn thiện hơn so với cho quân đội khi họ thoái lui. Đảng vẫn ở lại duy trì như một diễn viên chính trị.  Bị thua trong bầu cử năm 1990, Chính phủ của Sandinista có thể hy vọng “chiến đấu một ngày nào đó” và giành lại quyền lực thông qua các phương tiện bầu cử.  Tại Bulgaria và Romania, các đảng cộng sản cũ giành chiến thắng trong bầu cử; ở những nước Đông Âu khác, đảng cộng sản có hy vọng ít lạc quan hơn tham gia trong một chính phủ liên minh một lúc nào đó trong tương lai.

Sau khi thực hiện dân chủ hóa, đảng độc tôn trước đó ở một vị trí không thể tốt hơn so với nhóm chính trị khác tái thiết lập nên một hệ thống độc tài. Đảng từ bỏ độc quyền của nó nhưng không từ bỏ cơ hội cạnh tranh cho quyền lực thông qua các phương pháp dân chủ. Khi trở lại doanh trại, quân đội từ bỏ cả hai, nhưng họ cũng vẫn giữ lại khả năng tái chiếm lại quyền lực bằng các phương pháp phi dân chủ. Chuyển tiếp từ một chế độ một đảng sang dân chủ do đó có vẻ như khó khăn hơn chuyển tiếp từ một chế độ quân sự sang dân chủ, nhưng cũng có vẻ như sẽ lâu dài hơn.  Những khó khăn của chuyển hình từ hệ thống một đảng có lẽ được phản ánh ở sự thật là vào năm 1990 lãnh đạo của các chế độ như ở Đài Loan, Mê-hi-cô và Liên bang Sô Viết đã khởi xướng phong trào tự do giải phóng chế độ của họ nhưng cũng chỉ dịch chuyển chậm chạp đến một nền dân chủ đầy đủ.

Lãnh đạo của các chế độ độc tài mang tính cá nhân có vẻ ít giống như lãnh đạo của giới quân đội và của chế độ một đảng trong việc từ bỏ quyền lực của họ một cách tự

nguyện. Những kẻ độc tài của những đất nước chuyển sang hoặc không chuyển sang dân chủ thường cố giữ cái ghế của mình càng lâu càng tốt khi họ còn có thể. Điều này thường gây ra căng thẳng giữa một hệ thống chính trị có cơ sở hẹp và một nền kinh tế và xã hội ngày càng phức tạp và hiện đại.  Nó cũng dẫn đến cơ hội mà kẻ độc tài bị lật đổ bằng bạo lực, như đã diễn ra ở Cuba, Nicaragua, Haiti, và Iran, và người thay thế kẻ độc tài này lại là một chế độ độc tài khác. Trong làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, các cuộc nổi dậy tương tự đã lật đổ các kẻ độc tài ở Bồ Đào Nha, Phi-lip-pin và Romania. Ở Tây Ban Nha, kẻ độc tài chết và những người kế nhiệm ông ta thực hiện một trường hợp cổ điển chuyển hình dân chủ từ trên xuống. Ở Ấn Độ và Chilê, lãnh đạo nắm quyền ứng cử trong các cuộc bầu cử với một niềm tin rõ ràng nhưng nhầm lẫn là cử tri sẽ xác nhận quyền lực của họ. Khi điều này không xảy ra, họ, không giống như Marcos và Manuel Noriega, chấp nhận kết quả bầu cử.

Trong trường hợp của các chế độ sultanic, chuyển đổi sang dân chủ trở nên phức tạp do tình trạng yếu kém của các đảng phái chính trị và của các tổ chức khác. Chuyển đổi sang dân chủ từ chế độ độc tài do đó diễn ra khi kẻ độc tài qua đời và những người kế nhiệm quyết định thực hiện dân chủ hóa, khi kẻ độc tài bị lật đổ, và khi ông ta hoặc bà ta tính toán sai sự ủng hộ có thể khiến họ giành được chiến thắng trong bầu cử.

QUÁ TRÌNH CHUYỂN TIẾP

Chuyển tiếp trong làn sóng thứ ba là những quá trình chính trị phức tạp liên quan một số các nhóm đấu tranh cho quyền lực và ủng hộ và chống đối dân chủ và các mục tiêu khác. Về thái độ của họ đối với dân chủ hóa, những thành phần tham gia tối quan trọng trong quá trình chuyển tiếp là những nhà chính trị bảo thủ, người cải cách tự do, và những người cải cách dân chủ trong liên minh cầm quyền, và những người có quan điểm ôn hòa dân chủ và những người cực đoan cách mạng trong phe đối lập. Trong hệ thống độc tài không phải cộng sản, những nhà chính trị bảo thủ trong chính phủ thường được coi là những người thuộc phe cánh hữu, phát-xít và những người theo chủ nghĩa dân tộc. Những người chống đối lại dân chủ hóa ở phe đối lập thường là những người thuộc phe cánh tả, cách mạng và Mác-xít – Lênin-nít. Những người ủng hộ dân chủ trong cả chính phủ và phe đối lập có thể được xem như chiếm lĩnh những vị trí ở giữa của trục tả-hữu. Trong hệ thống cộng sản, tả và hữu ít rõ ràng hơn. Những nhà chính trị bảo thủ thường được coi như theo trường phái Stalinít hoặc Brê-dơ-nhép-nít. Trong nội bộ phe đối lập, những thành phần cực đoan chống đối lại dân chủ không phải là những người thuộc phe cánh tả cách mạng nhưng những nhóm theo chủ nghĩa dân tộc thì lại thường được xem như thuộc phe cánh hữu.



Trong liên minh cầm quyền, một số nhóm thường ủng hộ dân chủ hóa, trong khi một số khác lại phản đối, và số khác nữa ủng hộ cải cách hoặc tự do hóa hạn chế (xem hình trên). Các thái độ chống dân chủ cũng thường phân tán tương tự. Những kẻ ủng hộ nền độc tài đang tồn tại luôn luôn phản đối dân chủ, những kẻ chống đối lại chế độ độc tài đó thì lại thường cũng chống đối dân chủ. Tuy vậy, hầu như luôn luôn lúc nào cũng thế, những nhóm người này dùng cái hoa mỹ của dân chủ trong những cố gắng của mình để thay thế chế độ độc tài hiện thời bằng chế độ của riêng họ. Những nhóm tham gia vào những vấn đề chính trị dân chủ hóa do đó có cả những mục tiêu  trái ngược và chung nhau. Những nhà cải cách và những nhà chính trị bảo thủ chia rẽ nhau ở điểm tự do hóa và dân chủ hóa, nhưng có thể có chung một mối quan tâm trong việc hạn chế quyền lực của các nhóm đối lập. Những người mang thái độ ôn hòa và những kẻ cực đoan lại có chung một mối quan tâm trong việc tạo ra dân chủ nhưng cũng thường bị phân rẽ về vấn đề chi phí của hoạt động này nên được phân chia chịu trách nhiệm như thế nào và quyền lực trong khuôn khổ của dân chủ sẽ nên phải được chia nhỏ ra như thế nào. Những nhà bảo thủ chính trị và những kẻ cực đoan hoàn toàn trái ngược nhau trong vấn đề ai nên lãnh đạo nhưng lại có quyền lợi chung trong việc làm suy yếu các nhóm dân chủ tại trung tâm và trong việc làm phân cực chính trị trong xã hội.

Thái độ và mục tiêu của từng cá nhân và nhóm cụ thể đôi khi cũng thay đổi trong quá trình dân chủ hóa. Nếu dân chủ hóa không đem đến bất cứ mối nguy hiểm nào mà họ e sợ, những người trước đó là những nhà cải cách tự do hoặc thậm chí là những nhà chính trị bảo thủ cũng sẽ đi đến việc chấp nhận dân chủ. Tương tự, tham gia vào các quá trình dân chủ hóa cũng có thể đưa thành viên của các nhóm đối lập cực đoan tới chỗ giảm nhẹ các xu hướng mang tính cách mạng và chấp nhận những trở ngại và cơ hội mà dân chủ đem lại.

Quyền lực tương đối của các nhóm định hình bản chất của quá trình dân chủ hóa và thường thay đổi trong quá trình đó. Nếu những nhà chính trị bảo thủ chi phối chính phủ và những người cực đoan ở phía đối lập, thì dân chủ hóa là không thể ở chỗ khi kẻ độc tài cánh hữu quyết tâm bám giữ quyền lực trong khi nhóm đối lập đối đầu lại bị chi phối bởi những nhà chính trị theo chủ nghĩa Mác-xít – Lê-nin-nít. Tất nhiên, chuyển đổi sang dân chủ được tạo thuận lợi nếu các nhóm ủng hộ dân chủ có ưu thế hơn cả trong chính phủ và ở phe đối lập. Sự khác biệt về quyền lực giữa những nhà cải cách và những nhà chính trị ôn hòa, tuy nhiên, lại định hình việc quá trình dân chủ hóa diễn ra như thế nào. Năm 1976 chẳng hạn, phe đối lập ở Tây Ban Nha đã yêu cầu một “sự thay đổi dân chủ” hoàn toàn hay sự tuyệt giao (ruptura) với di sản chính trị từ thời Franco và tạo ra một chính phủ lâm thời và hội đồng lập hiến để đề ra một trật tự hiến pháp mới.Tuy nhiên, Adolfo Suárez khi đó đủ mạnh để đẩy lui điều này và xây dựng cách vận hành dân chủ hóa thông qua cơ cấu hiến pháp hiện có từ thời Franco. Nếu các nhóm dân chủ mạnh ở phía đối lập nhưng không mạnh ở chính phủ, dân chủ hóa phụ thuộc vào các sự kiện làm suy yếu chính phủ hiện thời và đưa phe đối lập lên nắm quyền lực. Nếu các nhóm dân chủ chi phối trong liên minh cầm quyền, nỗ lực dân chủ hóa có thể bị đe dọa bởi bạo lực từ những cuộc nổi dậy và bởi sự gia tăng một cách dữ dội quyền lực của các nhóm chính trị bảo thủ có khả năng dẫn đến đảo chính.

Ba mối tương tác có tính quyết định trong các quá trình dân chủ hóa là giữa chính phủ và phe đối lập, giữa những nhà cải cách và những nhà chính trị bảo thủ trong liên minh cầm quyền, và giữa những kẻ ôn hòa và những kẻ cực đoan trong phe đối lập. Trong tất cả các chuyển đổi, ba mối tương tác trọng yếu này có vai trò nhất định. Tuy nhiên, tầm quan trọng tương đối và đặc tính xung đột hoặc hợp tác của những mối tương tác này lại khác với bản chất tổng thể của quá trình chuyển tiếp. Trong các quá trình chuyển đổi, mối tương tác giữa những nhà cải cách và những nhà chính trị bảo thủ trong nội bộ liên minh cầm quyền đóng tầm quan trọng trung tâm; và quá trình chuyển đổi chỉ xuất hiện nếu những nhà cải cách mạnh hơn những nhà chính trị bảo thủ, nếu chính phủ mạnh hơn phe đối lập, và nếu những người ôn hòa mạnh hơn những người cực đoan. Nếu chuyển đổi tiếp tục, những người ôn hòa thuộc phe đối lập thường được kết nạp vào liên minh cầm quyền trong khi những nhóm của các nhà chính trị bảo thủ phản đối dân chủ hóa lại rời bỏ liên minh này. Thay vào đó, các mối tương tác giữa chính phủ và phe đối lập và giữa những người ôn hòa và những người cực đoan là quan trọng; phe đối lập dần dần phải mạnh hơn chính phủ, và những người ôn hòa phải mạnh hơn những người cực đoan. Sự rời bỏ tiếp theo của các nhóm thường dẫn đến sự suy sụp của chế độ và khởi đầu của chế độ dân chủ. Trong các quá trình chuyển dịch, mối tương tác trung tâm là giữa những nhà cải cách và những nhà ôn hòa thường rất không bình đẳng về quyền lực, với mỗi nhóm đều có khả năng chi phối các nhóm phản đối dân chủ về phía mình trên ranh giới giữa chính phủ và phe đối lập. Trong một vài quá trình chuyển dịch, chính phủ và các nhóm đối lập cũ thống nhất được với nhau ít nhất ở việc phân chia quyền lực tạm thời.

CHUYỂN ĐỔI

Trong chuyển đổi, những kẻ cầm quyền trong chế độ độc tài dẫn đầu và đóng vai trò quyết định trong việc kết thúc chế độ đó và thay đổi nó thành một hệ thống dân chủ. Ranh giới giữa quá trình chuyển đổi và quá trình chuyển dịch thường mờ nhạt và nhiều trường hợp có thể phân loại vào hoặc nhóm này hoặc nhóm kia. Tuy nhiên, tổng thể các chuyển đổi thường chiếm khoảng 16 trong tổng số 35 trường hợp chuyển tiếp thuộc làn sóng thứ ba đã xuất hiện hoặc đang xảy ra vào cuối thập kỷ 1980. Mười sáu trường hợp của tự do hóa hoặc dân chủ hóa này bao gồm những thay đổi từ 5 hệ thống một đảng, ba chế độ độc tài, và tám chế độ quân sự. Chuyển đổi cần chính phủ mạnh hơn phe đối lập. Do đó, chuyển đổi diễn ra ở những chế độ quân sự có tổ chức tốt nơi mà chính phủ rõ ràng kiểm soát những phương tiện áp chế cơ bản đối với phe đối lập và/hoặc đốiv với các hệ thống độc tài đã thành công trước đó về mặt kinh tế, như Tây Ban Nha, Brazil, Mê-hi-cô và so sánh với các nhà nước cộng sản, như Hungary. Lãnh đạo của những nước này có quyền lực để dịch chuyển đất nước của mình đến dân chủ nếu họ muốn vậy. Trong mọi trường hợp phe đối lập thường yếu hơn chính phủ một cách rõ rệt, ít nhất là vào giai đoạn đầu của quá trình. Tại Brazil chẳng hạn, đúng như Alfred Stepan đã chỉ ra, khi “tự do hóa bắt đầu, không có một đối lập chính trị đáng kể nào, không có khủng hoảng kinh tế, và không có sự sụp đổ của cơ cấu bộ máy cai trị cưỡng bức do thất bại trong chiến tranh.” Tại Brazil và ở nơi khác, người ở vị trí tốt nhất để kết thúc chế độ độc tài chính là lãnh đạo của chế độ đó – và quả là họ đã làm đúng như vậy.

Những trường hợp đầu tiên của chuyển đổi bao gồm Tây Ban Nha, Brazil và trong số các chế độ cộng sản, Hungary. Trường hợp quan trọng nhất, nếu cụ thể hóa, sẽ là trường hợp của Liên Bang Sôviết. Chuyển tiếp của Brazil là “tự do từ trên xuống” hay “tự do hóa khởi xướng từ chính chế độ.” Tại Tây Ban Nha, “đã là một câu hỏi về các thành phần mang tính cải cách liên quan đến độc tài đương nhiệm, khởi xướng các quá trình thay đổi chính trị từ ngay bên trong chế độ đã được thiết lập đó.” Tuy thê, hai chuyển tiếp này lại rất khác nhau ở khoảng thời gian mà chúng tồn tại. Ở Tây Ban Nha là ít hơn 3 năm rưỡi kể từ sau cái chết của Franco, một thủ tướng theo đường lối dân chủ hóa đã thay thế một thủ tướng theo đường lối tự do hóa, pháp luật của Franco đã bỏ phiếu kết thúc chính chế độ đó, cải cách chính trị đã được xác nhận và chứng thực thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, các đảng phái chính trị (bao gồm cả đảng Cộng sản) được hợp pháp hóa, một hội đồng mới được bầu ra, một hiến pháp dân chủ được soạn thảo và thông qua thông qua trưng cầu dân ý, các diễn viên chính trị chính đạt được thỏa thuận về chính sách kinh tế, và các cuộc bầu cử quốc hội được tiến hành theo hiến pháp mới. Luôn có tin đưa là Adolfo Suárez nói với nội các của ông là “chiến lược của ông sẽ dựa trên tốc độ. Ông ta sẽ giữ vị trí đi đầu trong trò chơi này bằng việc giới thiệu các biện pháp cụ thể nhanh hơn những kẻ cố duy trì thiết lập từ thời kỳ Franco có thể phản ứng lại chúng.” Tuy thế, trong khi các cuộc cải tổ diễn ra dồn dập trong một khoảng thời gian ngắn, chúng cũng diễn ra một cách tuần tự. Do đó, cũng có ý kiến cho rằng “Bằng việc sắp xếp đan xen các cuộc cải cách, Suárez đã tránh được việc gây ra những phản đối từ quá nhiều ngành của chế độ Franco cùng một lúc. Một tập hợp cuối cùng của các cuộc cải tổ dân chủ đã khơi ra sự thù địch công khai từ giới quân đội và những kẻ kiên định khác thuộc chế độ cũ của Franco, nhưng Tổng thống [Suárez] đã đạt được một sức đẩy và ủng hộ rất lớn.” Trên thực tế sau đó, Suárez đã thực hiện một phiên bản có tính nén cao của chủ nghĩa Kemalist “chiến lược Fa-biên (trì hoãn), chiến thuật chớp nhoáng”, làm một đặc điểm của cải cách.

Ngược lại, ở Brazil, Tổng thống Ernesto Geisel tin tưởng rằng thay đổi chính trị sẽ phải “từ từ, chậm và chắc.”Quá trình bắt đầu từ cuối chính quyền của Médici năm 1973, tiếp diễn qua các thời kỳ chính quyền của Geisel và Figueiredo, nhảy thẳng lên việc thiết lập một chính quyền với tổng thống dân sự năm 1985, và lên đến cực điểm bằng việc thông qua hiến pháp mới năm 1988 và cuộc tổng tuyển cử bầu ra tổng thống năm 1989. Những phong trào do chế độ phát động hướng tới dân chủ hóa thường được đặt rải rác với những hành động được tiến hành nhằm trấn an những kẻ kiên định lập trường trong quân đội và ở những nơi khác. Thực tế là Tổng thống Geisel và Figueiredo thực hiện chính sách 2 bước tiến 1 bước lùi. Kết quả là dân chủ hóa dần dần mà trong đó sự kiểm soát của chính phủ đối với quá trình chưa bao giờ thực sự bị thách thức. Năm 1973, Brazil có một độc tài quân sự hà khắc; năm 1989, đất nước này đã là một nền dân chủ đầy đủ. Theo thông lệ cho đến tận bây giờ, dân chủ tại Brazil được coi là bắt đầu vào tháng một năm 1985 khi một tổng thống dân sự được chọn ra trong bầu cử. Nhưng trên thực tế, không có một sự xác định rõ ràng như vậy; sự đặc biệt của chuyển đổi ở Brazil là ở chỗ gần như không thể nói vào thời điểm nào Brazil chấm dứt là một chế độ độc tài và trở thành một nền dân chủ. Tây Ban Nha và Brazil đều là những ví dụ điển hình của thay đổi từ trên xuống, và trường hợp của Tây Ban Nha chẳng hạn đã trở thành mẫu hình cho các quá trình dân chủ hóa sau đó tại Châu Mỹ latinh và Đông Âu. Chẳng hạn như vào năm 1988 và 1989, lãnh đạo Hungary đã tham vấn liên tục với các lãnh đạo Tây Ban Nha về việc làm thế nào để giới thiệu dân chủ vào, và vào tháng Tư năm 1989 một phái đoàn từ Tây Ban Nha đã đến Budapest để cho lời khuyên. Sáu tháng sau đó một bình luận viên đã chỉ ra những điểm tương đồng trong hai quá trình chuyển tiếp này:

Những năm cuối cùng của kỷ nguyên Kadar giống với chủ nghĩa độc đoán thuần túy của chế độ độc tài đang suy tàn của Franco. Imre Pozsgay đóng vai của Hoàng tử Juan Carlos trong sự so sánh này. Ông là biểu tượng đảm bảo sự tiếp tục ở giữa của sự thay đổi triệt để. Giới chuyên gia kinh tế có đầu óc tự do có các mối liên lạc với thiết chế cũ và giới doanh nghiệp mới lên tạo nên giới kỹ trị ưu tú cho quá trình chuyển tiếp, cũng giống như giới quý tộc mới gắn với Opus Dei ở Tây Ban Nha. Các đảng đối lập cũng hiện ra tương tự, nổi lên từ các hoạt động bí mật rất giống như cách giới lưu vong Tây Ban Nha đã làm khi có đủ an toàn để giới này lộ diện. Và cũng giống nhơ ở Tây Ban Nha, ở Hungary những kẻ cơ hội – ôn hòa trong phong cách, dân chủ triệt để trong nội dung – đóng vai trò trọng yếu trong việc tái thiết dân chủ.
Những chuyển đổi của làn sóng lần thứ ba thường nổi lên qua 5 giai đoạn chính, trong đó 4 giai đoạn xuất hiện ngay trong hệ thống độc đoán.

Sự  nổi lên của các nhà cải cách. Bước đầu tiên là sự nổi lên của một nhóm các nhà lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo tiềm năng trong nội bộ chế độ độc đoán, những người cho rằng phong trào đi theo hướng dân chủ là đáng mong muốn hoặc cần thiết. Tại sao họ lại kết luận như vậy? Những lý do tại sao con người trở thành những nhà cải cách dân chủ rất đa dạng từ đất nước này sang đất nước khác và hiếm khi rõ ràng. Tuy nhiên, có thể nhóm thành 5 dạng như sau. Thứ nhất, những nhà cải cách thường kết luận là chi phí ở lại nắm giữ quyền lực – ví dụ như chính trị hóa lực lượng vũ trang, phân chia liên minh đã luôn ủng hộ họ, vật lộn với những vấn đề tưởng chừng như không thể giải quyết được (thường là kinh tế), và đàn áp ngày càng tăng – đã đạt tới điểm mà việc rút lui thanh thản khỏi quyền lực là đáng mong muốn. Các nhà lãnh đạo của các chế độ quân sự thường đặc biệt nhạy cảm với những tác động có tính chất ăn mòn của sự can thiệp chính trị đối với vấn đề thống nhất, chuyên nghiệp, tính cố kết, và cấu trúc chỉ huy của quân đội. Dẫn dắt Pê-ru tới nền dân chủ, tướng Morales Bermudez nhận thấy “Tất cả chúng tôi, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều đã là những chứng nhân cho những gì diễn ra cho cái thể chế chính yếu này đối với quê hương mình, và cũng với cùng một kiểu như vậy đối với các thể chế khác. Và chúng tôi không muốn điều đó.” Trong cùng một kiểu như thế, tướng Fernando Matthei, chỉ huy trưởng của lực lượng không quân Chi-lê, đã cảnh báo rằng “Nếu quá trình chuyển đổi sang dân chủ không được khởi xướng đúng lúc, chúng ta sẽ hủy hoại các lực lượng vũ trang theo một cách mà không một sự thâm nhập Mác-xít nào có thể làm được.”

Thứ hai, trong một vài trường hợp, những nhà cải cách mong muốn giảm những rủi ro mà họ phải đối mặt nếu họ cố giữ quyền lực và sau đó dần dần để mất nó. Nếu phe đối lập tỏ ra đang giành được thế mạnh, sắp xếp cho một quá trình chuyển sang dân chủ là một cách để đạt được điều này. Rốt cuộc thì rủi ro mất văn phòng vẫn hơn là rủi ro mất tính mạng. Thứ ba, trong một vài trường hợp, trong đó có Ấn Độ, Chi-lê và Thổ Nhĩ Kỳ, những nhà lãnh đạo độc tài lại tin rằng họ hoặc các đồng sự của họ sẽ không để mất văn phòng. Đã cam kết củng cố lại các thể chế dân chủ và phải đối mặt với sự suy giảm về tính hợp pháp và ủng hộ, những kẻ thống trị này có thể có khát khao nỗ lực làm hồi phục tính hợp pháp của họ bằng việc tổ chức các cuộc bầu cử với hy vọng rằng cử tri sẽ tiếp tục duy trì họ ở ghế quyền lực. Hy vọng này thường là sai lầm. Thứ tư, những nhà cải cách thường tin tưởng rằng dân chủ hóa sẽ tạo ra lợi ích cho đất nước của chính họ: làm tăng tính hợp pháp của nó trên trường quốc tế, giảm các lệnh cấm vận của Mỹ hoặc của các nước khác lên chế độ của họ, và mở cửa cho trợ giúp kinh tế và quân sự, các khoản vay của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), những lời mời tới Washington, và được tham gia các cuộc gặp gỡ quốc tế mà các nhà lãnh đạo của khối đồng minh phương Tây thống trị.

Cuối cùng, trong nhiều trường hợp như của Tây Ban Nha, Brazil, Hungary và Thổ Nhỹ Kỳ và một vài chế độ quân đội khác, các nhà cải cách tin tưởng rằng dân chủ là hình thức “đúng đắn” của chính phủ và rằng đất nước họ đã tiến triển đến một điểm mà, giống như các nước phát triển và được tôn trọng khác, đất nước họ cũng phải có một chế độ chính trị dân chủ.

Các nhà cải cách tự do có xu hướng nhìn tự do hóa như một cách xoa dịu sự phản đối chế độ của họ mà không thực hiện dân chủ hóa hoàn toàn chế độ đó. Họ sẽ đàn áp ở mức độ phải chăng hơn, thiết lập lại một vài quyền tự do dân sự, giảm kiểm duyệt, cho phép thảo luận rộng rãi hơn các vấn đề công, và cho phép xã hội dân sự – hiệp đoàn, nhà thờ, hội, tổ chức doanh nghiệp – phạm vi lớn hơn để tiến hành các công việc của mình. Tuy vậy, những nhà tự do lại không mong tiến hành những cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh mang tính tham gia đầy đủ vì những cuộc bầu cử như vậy có thể sẽ dẫn đến việc các nhà lãnh đạo đương nhiệm phải mất quyền lực. Họ muốn tạo ra một chế độ chuyên chế tử tế hơn, nhẹ nhàng hơn, an toàn và ổn định hơn mà không phải thay đổi về cơ bản bản chất của chế độ của họ. Một vài nhà cải cách bản thân họ rõ ràng cũng không chắc chắn lắm họ muốn đi xa tới đâu trong việc mở toang nền chính trị của đất nước mình. Thỉnh thoảng rõ ràng là họ cũng cảm thấy cần phải che đậy các ý đồ của họ: các nhà dân chủ hóa có xu hướng trấn an những nhà chính trị bảo thủ bằng việc gây ra ấn tượng là họ chỉ đang làm tự do hóa mà thôi; những nhà tự do hóa lại cố giành được sự ủng hộ rộng rãi hơn bằng việc tạo ra ấn tượng là họ đang làm dân chủ hóa. Các cuộc tranh luận do vậy thường sôi sục lên xung quanh việc Geisel, Botha, Gorbachev và những người khác “thực sự” muốn đi xa đến đâu.

Sự nổi lên của các nhà tự do hóa và dân chủ hóa trong một hệ thống độc tài tạo ra một lực bậc một cho thay đổi chính trị. Tuy nhiên nó cũng có thể có một hiệu quả bậc hai. Đặc biệt trong các chế độ quân sự việc chia rẽ nhóm đang nắm quyền, chính trị hóa hơn nữa quân đội, và do đó dẫn tới việc nhiều sỹ quan hơn tin tưởng rằng “quân đội là chính phủ” phải chấm dứt để bảo toàn “quân đội là thể chế/tổ chức”. Cuộc tranh luận xung quanh việc nên hay không rút ra khỏi chính phủ tự bản thân nó đã trở thành một lý lẽ để rút ra khỏi chính quyền.

Giành quyền lực. Những nhà cải cách dân chủ không những phải tồn tại ngay trong chế độ chuyên chế độc tài mà họ còn phải ở trong bộ máy quyền lực của chế độ đó. Làm thế nào mà điều này có thể xảy ra? Trong ba trường hợp, những nhà lãnh đạo, người đã tạo ra chế độ chuyên chế điều khiển quá trình chuyển đổi sang dân chủ. Ở Ấn Độ và Thổ Nhỹ Kỳ, các chế độ chuyên chế được xác định ngay từ ban đầu là những gián đoạn của hình thức dân chủ chính thức. Các chế độ này tồn tại ngắn ngủi, kết thúc bằng các cuộc bầu cử được tổ chức bởi các nhà lãnh đạo độc tài trong một hy vọng lầm lạc là họ hay những ứng cử viên mà họ ủng hộ sẽ thắng trong những cuộc bầu cử này. Ở Chi-lê, tướng Pinochet thành lập ra chế độ của ông, nắm giữ quyền lực trong mười bảy năm, thiết lập một kế hoạch dài cho quá trình chuyển đổi sang dân chủ, thực hiện kế hoạch đó với hy vọng là cử tri sẽ bỏ phiếu cho ông tiếp tục ở cương vị cũ thêm tám năm nữa, và miễn cưỡng từ bỏ quyền lực khi cử tri thực tế không làm như vậy. Nếu không thì những người đã tạo ra các chế độ chuyên chế hoặc những người dẫn dắt những chế độ như vậy trong những khoảng thời gian rất dài không dẫn đầu trong việc chấm dứt những chế độ đó. Trong tất cả các trường hợp này, quá trình chuyển đổi xuất hiện vì những nhà cải cách thay thế những nhà chính trị bảo thủ nắm quyền.

Các nhà cải cách giành được quyền lực trong các chế độ chuyên chế theo ba cách. Thứ nhất, tại Tây Ban Nha và Đài Loan, những nhà lãnh đạo sáng lập và nắm quyền trong thời gian dài, Franco và Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) chết. Những người kế nhiệm của họ, Juan Carlos và Chiang Ching-kuo, kế tục cái vỏ bọc bên ngoài, đáp ứng lại những thay đổi trọng yếu về xã hội và kinh tế đã diễn ra trong đất nước của họ, và bắt đầu quá trình dân chủ hóa. Ở Liên bang Xô Viết, cái chết của Leonid Brezhnev, Yuri Andropov, và Konstantine Chernenko chỉ trong vòng 3 năm đã cho phép Gorbachev lên nắm quyền. Về một nghĩa nào đó, Franco, Chiang, và Brezhnev đều chết đúng lúc; Đặng Tiểu Bình lại không như vậy.

Tại Brazil và Mê-hi-cô, chế độ chuyên chế tự bản thân nó đã đem đến thay đổi thường xuyên trong bộ phận lãnh đạo. Điều này làm cho việc giành lấy quyền lực của những nhà cải cách là có thể nhưng không cần thiết. Tại Brazil, có hai bè phái tồn tại trong giới quân đội. Sự đàn áp đạt tới đỉnh điểm vào giữa năm 1969 và 1972 trong nhiệm kỳ tổng thống của Tướng Emílio Médici, một người kiên định về lập trường. Trong một trận xung đột lớn trong nội bộ giới quân đội vào cuối nhiệm kỳ của ông này, một nhóm Sorbone mềm dẻo hơn về lập trường đã có thể đảm bảo được việc đề cử tướng Ernesto Geisel cho vị trí tổng thống, một phần vì anh trai của ông này là bộ trưởng chiến tranh. Được hướng dẫn bởi cộng sự chính của mình, Tướng Golbery do Couto e Silva, Geisel bắt đầu quá trình dân chủ hóa và hành động dứt khoát nhằm đảm bảo rằng ông sẽ đến lượt được kế tục vào năm 1978 trước một thành viên khác của nhóm Sorbonne, Tướng João Batista Figueiredo. Ở Mê-hi-cô, Tổng thống sắp mãn nhiệm José Lopez Portillo vào năm 1981 đã theo thông lệ chuẩn trong việc lựa chọn bộ trưởng tài chính và ngân sách của mình, Miguel de la Madrid, là người kế nhiệm. De la Madrid là một nhà tự do kinh tế và chính trị và, loại bỏ các ứng cử viên truyền thống và theo lối cũ hơn, đã chọn một nhà kỹ trị cải cách trẻ tuổi, Carlos Salinas, tiếp tục quá trình cởi mở này.
Ở những nơi mà các nhà lãnh đạo độc tài chưa chết và không thường xuyên thay đổi, các nhà cải cách dân chủ phải hất cẳng kẻ thống trị và thiết lập sự lãnh đạo tiền dân chủ. Trong các chính phủ quân đội, ngoại trừ Brazil, điều này đồng nghĩa với một cuộc lật đổ bằng đảo chính của một nhà lãnh đạo quân đội thay thế một nhà lãnh đạo quân đội khác: Morales Bermudez đã thay thế Juan Velasco ở Pêru; Alfredo Poveda thay thế Guillermo Rodríguez Lara ở Ecuador; Oscar Mejía thay thế Jose Rios Montt ở Guatemala; Murtala Muhammed thay thế Yacubu Gowon ở Nigeria. Trong chế độ một đảng như ở Hungary, các nhà cải cách đã huy động sức mạnh của họ và hạ bệ Janos Kadar kẻ thống trị lâu dài trong một hội nghị đặc biệt của đảng vào tháng 5/1988, thay thế ông này trong vị trí tổng bí thư bằng Karoly Grosz. Tuy nhiên, Grosz, lại chỉ là một nhà cải cách nửa vời, và một năm sau đó Ủy ban Trung ương Đảng đã thay thế ông ta bằng một đoàn chủ tịch gồm 4 người do những nhà cải cách chi phối. Vào tháng 10/1989 một trong số họ, Rezso Nyers, trở thành chủ tịch đảng. Ở Bulgaria vào mùa thu năm 1989, những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản có tư tưởng cải cách đã hạ bệ Todor Zhivkov khỏi vị trí thống trị mà ông này đã nắm giữ trong suốt 35 năm. Những thay đổi trong sự lãnh đạo liên quan đến một vài các cuộc cải cách tự do hóa và dân chủ hóa được tóm tắt trong bảng dưới.



Sự thất bại của Tự do hóa. Một vấn đề quan trọng trong làn sóng thứ ba liên quan đến vai trò của các nhà cải cách tự do và sự ổn định của một chính thể chuyên chế đã được tự do hóa. Các nhà cải cách tự do những người kế tục những nhà lãnh đạo chính trị bảo thủ hóa ra lại thường là những nhân vật của quá trình chuyển đổi nhưng có quyền lực quá ngắn ngủi. Ở Đài Loan, Hungary, và Mê-hi-cô, những nhà tự do hóa thường nhanh chóng được kế tục bởi các nhà cải cách đi theo hướng dân chủ hóa nhiều hơn. Tại Brazil, mặc dù một vài nhà phân tích vẫn còn hồ nghi, có vẻ như khá có lý để thấy rõ ràng là Geisel và Golbery do Couto e Silva đã cam kết với dân chủ hóa thực chất ngay từ đầu. Thậm chí nếu họ chỉ có ý định tự do hóa hệ thống chuyên chế chứ không phải là thay thế hệ thống đó, João Figueiredo cũng vẫn đã mở rộng quá trình này thành quá trình dân chủ hóa. “Tôi phải làm cho đất nước này trở thành một nước dân chủ,” ông này đã nói như vậy năm 1978 trước khi nhậm chức, và ông quả là đã làm như vậy.

Tại Tây Ban Nha, Thủ tướng cứng rắn, Admiral Luis Carrero Blanco, bị ám sát tháng 12/1973, và Franco đã bổ nhiệm Carlos Arias Navarro kế tục cương vị thủ tướng. Arias là một nhà cải cách tự do kinh điển. Ông mong muốn sửa đổi chế độ của Franco nhằm duy trì chế độ đó. Trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 12 tháng 2 năm 1974, ông này đã đề nghị mở cửa và đề xuất một số các cải cách vừa phải bao gồm ví dụ như cho phép các đoàn thể chính trị hoạt động nhưng không phải là các đảng chính trị. Ông này “là một nhà bảo thủ và một kẻ ủng hộ Franco đến tận tim đến mức không thể thực hiện một quá trình dân chủ hóa chế độ một cách thực chất.” Những đề xuất cải cách của ông này đã bị phá hoại bởi những nhà chính trị bảo thủ của giới “boong-ke” trong đó có cả Franco; cùng lúc đó, những đề xuất này kích thích phe đối lập đưa ra yêu cầu cho một mở cửa rộng rãi hơn. Cuối cùng, Arias “làm mất uy tín về mở cửa chính xác như việc Luis Carrero Blanco đã làm mất uy tín về sự không dịch chuyển (cứng rắn).” Vào tháng 11/1975 Franco chết và Juan Carlos kế nhiệm là người đứng đầu nhà nước. Juan Carlos cam kết biến đổi Tây Ban Nha thành một nền dân chủ nghị viện thực sự theo kiểu Châu Âu, Arias chống cự lại sự thay đổi này, và vào tháng 7/1976 Juan Carlos thay thế ông này bằng Adolfo Suárez, người đã nhanh chóng tiến tới việc giới thiệu dân chủ vào Tây Ban Nha.

Quá trình chuyển đổi từ chế độ chuyên chế đã tự do hóa, tuy nhiên, lại cũng có thể bị tụt lùi cũng như tiến lên phía trước. Một mở cửa hạn chế có thể đem lại những mong chờ về thay đổi hơn nữa, điều có thể dẫn đến sự bất ổn định, chính biến và thậm chí bạo lực; khi đó, những mong muốn này có thể gây ra một phản ứng phản dân chủ và thay thế sự lãnh đạo tự do hóa bằng các lãnh đạo bảo thủ. Tại Hy Lạp, George Papadopoulos đã cố thử chuyển từ một nhà chính trị bảo thủ sang một lập trường tự do hóa; điều này dẫn đến cuộc biểu tình của sinh viên trường bách khoa và sự đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình này; một phản ứng tiếp theo và Papadopoulos tự do hóa bị thay thế bởi Dimitrios Ioannidis một nhà chính trị cứng rắn. Tại Ác-hen-ti-na, Tướng Roberto Viola kế nhiệm nhà chính trị cứng rắn, Tướng Jorge Videla trong vai trò tổng thống và bắt đầu tự do hóa. Điều này tạo ra một phản ứng trong giới quân đội. Viola bị lật đổ, và thay thế bởi một nhà chính trị cứng rắn, Tướng Leopoldo Galtieri. Tại Trung Quốc, quyền lực tuyệt đối có lẽ nằm trong tay Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, năm 1987, Đặng Tiểu Bình trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản và bắt đầu mở cửa hệ thống chính trị. Điều này dẫn đến những cuộc diễu hành lớn của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn vào mùa xuân năm 1989, mà từ đó dẫn đến phản ứng cứng rắn, đè nát phong trào sinh viên, hạ bệ Đặng và thay thế ông bằng Li Peng. Ở Miến Điện, Tướng Ne Win, người đã thống trị Miến Điện trong 26 năm, có vẻ bị cho về nghỉ hưu vào tháng 7/1988 và bị thay thế bởi Tướng Sein Lwin, một nhà chính trị cứng rắn khác. Các cuộc biểu tình và bạo lực ngày càng tăng mạnh đã buộc Sein Lwin phải rời bỏ vị trí sau ba tuần. Người kế nhiệm của ông này là nhà chính trị ôn hòa dân sự và liều lĩnh, Maung Maung, người đã đề nghị tổ chức các cuộc bầu cử và cố thử thương lượng với các nhóm đối lập. Tuy nhiên, các cuộc phản đối vẫn tiếp tục. và vào tháng 9 quân đội hạ bệ Maung Maung, chiếm quyền kiểm soát chính phủ và đàn áp đẫm máu các cuộc diễu hành, và chấm dứt phong trào hướng đến tự do hóa.

Những tình thế tiến thoái lưỡng nan của người chủ trương tự do hóa được phản ánh trong kinh nghiệm của P. W. Botha và Mikhail Gorbachev. Cả hai nhà lãnh đạo này đều đã giới thiệu những cải cách tự do hóa vào xã hội của họ. Botha nắm quyền lực năm 1978 với khẩu hiệu “Thích nghi hoặc chết” và hợp pháp hóa các công đoàn thương mại đen, hủy bỏ luật hôn nhân, thiết lập các khu vực thương mại hỗn hợp, trao quyền công dân cho những người da đen thành thị, cho phép người da đen có quyền làm chủ hoàn toàn đối với các khu thái ấp của họ, giảm mạnh mẽ nạn phân biệt chủng tộc đáng ghê tởm, tăng đầu tư đáng kể vào giáo dục cho người da đen, hủy bỏ luật hạn chế quyền đi lại của người da đen, tạo điều kiện cho các hội đồng cấp địa phương là người da đen trúng cử, và thiết lập các nhà quốc hội có đại diện cho cả người da màu và người châu Á, mặc dù họ không phải là người da đen. Gorbachev mở cửa cho tranh luận công khai, giảm đáng kể nạn kiểm duyệt, thách thức gay gắt quyền lực của hệ thống hành chính quan liêu của đảng Cộng sản, và đưa ra ít nhất các hình thức vừa phải của trách nhiệm của chính phủ đối với một cơ quan lập pháp được bầu cử. Cả hai nhà lãnh đạo này đều đưa ra hiến pháp mới trong xã hội của họ trong đó có đưa vào rất nhiều các sáng kiến cải cách và đồng thời cũng tạo ra vị trí mới và rất có quyền lực cho tổng thống, vị trí mà sau này họ sẽ nắm giữ. Tuy nhiên, có vẻ như cả Botha hay Gorbachev, không ai muốn thay đổi cơ bản trong hệ thống chính trị của họ. Các cuộc cải cách của họ được thiết kế nhằm cải thiện và làm hài hòa nhưng cũng để bênh vực cho hệ thống hiện hành khi đó và giúp làm cho hệ thống đó được chấp nhận hơn trong xã hội của họ. Bản thân họ cũng đã lặp đi lặp lại nói như vậy. Botha không có ý định kết thúc quyền lực của người da trắng; Gorbachev không có ý định kết thúc quyền lực của đảng cộng sản. Là những người chủ trương cải cách tự do họ muốn thay đổi nhưng cũng muốn duy trì hệ thống mà họ đang dẫn dắt và trong hệ thống hành chính quan liêu đó họ đã xây dựng toàn bộ sự nghiệp của mình.

Những sáng kiến cải cách về tự do hóa nhưng không phải dân chủ hóa của Botha kích thích những yêu cầu ngày càng tăng của người da đen Nam Phi về việc tham gia đầy đủ của họ trong hệ thống chính trị của nước này. Tháng 9/1984 các khu ngoại ô của người da đen bùng nổ các cuộc phản đối dẫn tới bạo lực, đàn áp, và việc triển khai lực lượng quân sự trong các khu thị tứ này. Các nỗ lực cải cách cũng đồng thời chấm dứt, và đâu đâu cũng xem Botha nhà cải cách như đã trở thành Botha nhà đàn áp. Quá trình cải cách chỉ được tiến hành lại vào năm 1989 khi Botha bị thay thế bằng F. W. de Klerk. Những cuộc cải cách rộng rãi hơn của Klerk đã bị Botha chỉ trích và dẫn đến việc ông này phải từ chức ra khỏi đảng Quốc gia. Năm 1989 và 1990 các cuộc cải cách tự do hóa nhưng không phải dân chủ hóa của Gorbachev cũng có vẻ như đã khuấy động biến động, các cuộc phản đối và bạo lực ở Liên bang Xô Viết. Cũng như ở Nam Phi, các nhóm nông dân thuộc công xã đánh lẫn nhau và đánh các quan chức trung ương. Thế khó xử cho Gorbachev là rõ rệt. Thẳng tiến tới quá trình dân chủ hóa toàn diện sẽ có nghĩa là không những chấm dứt quyền lực của đảng cộng sản ở Liên bang Xô Viết mà còn rất có nhiều khả năng chấm dứt sự tồn tại của chính Liên bang này. Chỉ đạo một phản ứng cứng rắn trước những biến động đồng nghĩa với việc kết thúc những nỗ lực cải cách kinh tế của ông, những mối quan hệ đã được cải thiện đáng kể với phương Tây, và hình ảnh toàn cầu của ông như một nhà lãnh đạo sáng tạo và mang tính nhân văn. Andrei Sakharov trực tiếp đưa ra các lựa chọn cho Gorbachev năm 1989: “Một sự dở dang giữa chừng trong những tình huống như thế này gần như là không thể. Đất nước này và cá nhân anh đang ở ngã ba đường – hoặc là tăng cường quá trình thay đổi đến mức cao nhất hoặc là cố duy trì hệ thống chỉ huy hành chính với tất cả các đặc tính của nó.”

Ở nơi được thử, quá trình tự do hóa gợi lên ham muốn thực hiện dân chủ hóa trong một số nhóm và ham muốn đàn áp trong các nhóm khác. Kinh nghiệm của làn sóng thứ ba rõ ràng cho thấy là chế độ chuyên chế đã được tự do hóa không là trạng thái thăng bằng ổn định; sự thỏa hiệp nửa vời giữa các lập trường đối lập không trụ vững được.

Tính hợp pháp ngược: đánh bại những nhà chính trị bảo thủ. Việc giành được quyền lực cho phép những nhà cải cách bắt đầu dân chủ hóa nhưng không xóa bỏ khả năng thách thức những nhà cải cách của những nhà chính trị bảo thủ. Các yếu tố của kẻ bảo thủ của cái đã từng là liên minh cầm quyền — nhóm “boongke” theo phe của Franco ở Tây Ban Nha, những kẻ cực đoan thuộc quân đội ở Brazil và các nước châu Mỹ latinh khác, những người theo trường phái Stalin ở Hungary, người canh gác già của lục địa ở KMT, các ông chủ của đảng và hệ thống quan liêu của PRI, phe cánh Verkrampte của đảng Quốc gia — không dễ dàng bỏ cuộc. Trong chính phủ, quân đội và cánh quan liêu của đảng, những nhà chính trị bảo thủ làm việc để dừng lại hoặc chậm lại các quá trình thay đổi. Trong các hệ thống không phải một đảng – Brazil, Ecuador, Peru, Guatemala, Nigeria, và Tây Ban Nha — các nhóm bảo thủ trong giới quân sự cố tiến hành các đợt đảo chính và nỗ lực đánh bật các nhà cải cách ra khỏi quyền lực. Tại Nam Phi và Hungary, các phe cánh bảo thủ tách ra khỏi các đảng có ảnh hưởng chi phối, buộc tội các đảng này là phản bội lại các nguyên tắc cơ bản của đảng.

Chính phủ cải cách cố vô hiệu hóa phe đối lập bảo thủ bằng cách làm suy yếu, làm yên lòng, và cải biến những nhà bảo thủ. Lật ngược lại được sự phản kháng của những người bảo thủ thường đòi hỏi phải có sự tập trung quyền lực trong tay cơ quan thực thi cải cách chính. Geisel khẳng định bản thân ông ta là “kẻ chuyên chế của sự xúi giục” nhằm loại bỏ giới quân sự Brazil ra khỏi chính trị. Juan Carlos thực hành tất cả quyền lực và các đặc quyền của mình trong việc đưa Tây Ban Nha đến dân chủ, không kém quan trọng là trong cuộc bầu cử bất ngờ của Suárez lên chức thủ tướng. Botha và Gorbachev, như chúng ta đã thấy, thiết lập nên văn phòng tổng thống mới và đầy uy quyền cho chính bản thân mình. Salinas ấn định mạnh mẽ quyền lực của ông trong suốt những năm đầu tiên ông này là tổng thống Mê-hi-cô.

Yêu cầu đầu tiên cho các nhà lãnh đạo chủ trương cải cách là làm trong sạch hệ thống quan liêu thuộc chính phủ, quân đội, và khi cần thiết, của cả đảng, thay thế những nhà bảo thủ trong các văn phòng trọng yếu bằng những người ủng hộ cải cách. Điều này thông thường được thực hiện theo cách thức có chọn lọc để không gây ra phản ứng quá mạnh và cũng để thúc đẩy sự phân chia trong nội bộ các cấp bậc của những nhà bảo thủ. Thêm vào với việc làm suy yếu những kẻ bảo thủ, các nhà lãnh đạo cải cách cũng phải cố làm yên lòng và cải biến họ. Trong các chế độ quân sự, những người cải cách lập luận rằng đã đến lúc phải quay lại, sau một giai đoạn chuyên chế cần thiết nhưng hạn chế, với các nguyên tắc dân chủ, những điều cơ bản của hệ thống chính trị của đất nước họ. Theo nghĩa đó, họ kêu gọi cho sự “quay trở về với tính hợp pháp”. Trong các hệ thống chuyên chế phi quân sự, các nhà cải cách cầu khẩn “tính hợp pháp ngược” và nhấn mạnh đến các yếu tố của việc tiếp tục với quá khứ. Ở Tây Ban Nha chẳng hạn, chế độ quân chủ được tái thiết lập và Suárez trung thành với những điều khoản của hiến pháp Franco trong việc xóa bỏ chính hiến pháp đó: không một người nào theo trường phái Franco có thể tuyên bố rằng đã có điều gì đó trái luật về mặt hình thức. Tại Mê-hi-cô và Nam Phi, những nhà cải cách trong PRI và đảng Quốc gia ném bỏ bản thân họ trong truyền thống của chính những đảng này. Ở Đài Loan, những nhà cải cách KMT kêu gọi thực hiện ba nguyên tắc của Tôn Trung Sơn (Sun Yat-Sen).

Tính hợp pháp ngược có hai sự hấp dẫn và hai ảnh hưởng: nó hợp pháp hóa trật tự mới bởi vì nó là sản phẩm của trật tự cũ, và nó hợp pháp hóa ngược trở lại trật tự cũ vì trật tự này đã sản sinh ra trật tự mới. Nó khêu ra được sự đồng lòng của tất cả trừ những người có quan điểm cực đoan đối lập, những người không có giá trị cho cả chế độ chuyên chế cũ trước đó và cho cả chế độ dân chủ mới sau này. Những nhà cải cách cũng kêu gọi những người bảo thủ trên cơ sở là họ đã mua tay trên phe đối lập cấp tiến và do đó đã hạn chế tối thiểu sự bất ổn và bạo lực. Suárez chẳng hạn đã yêu cầu quân đội Tây Ban Nha ủng hộ ông này vì chính những lý do này và thành phần có ảnh hưởng trong lực lượng quân đội đã chấp nhận quá trình chuyển đổi này vì “không có sự bất hợp pháp, không có sự vô trật tự trên đường phố, không có mối đe dọa hiển hiện nào cho sự sụp đổ và phá hoại/lật đổ”. Chắc chắn là những nhà cải cách cũng đã nhận thấy là, như Geisel đã nói, họ có thể “không tiến lên mà không có một vài lần rút quân” và rằng do đó khi có dịp, như vào năm 1977 với “gói tháng Tư” ở Brazil, họ phải nhượng bộ những người bảo thủ.

Kết nạp phe đối lập. Khi đã có quyền lực, những nhà cải cách dân chủ thường nhanh chóng bắt đầu quá trình dân chủ hóa. Điều này thường thông qua các lần hội đàm với lãnh đạo phe đối lập, lãnh đạo các đảng phái chính trị, và với các nhóm xã hội chính và tổ chức chính. Trong một vài trường hợp, các cuộc thương lượng tương đối chính thức đã diễn ra và những thỏa thuận hoặc hiệp ước tương đối rõ ràng đã được ký kết. Trong những trường hợp khác, các cuộc hội đàm và thương lượng thường mang tính không chính thức. Ở Ecuador và Nigeria, chính phủ chỉ định các ủy ban xây dựng kế hoạch và chính sách cho hệ thống mới. Ở Tây Ban Nha, Pê-ru, Nigeria và dần dần cả ở Brazil, hội đồng được bầu ra soạn thảo hiến pháp mới. Trong một vài trường hợp, trưng cầu dân ý được tiến hành để thông qua những thay đổi hiến pháp mới.

Khi các nhà cải cách gạt những người bảo thủ sang một bên ngay trong nội bộ liên minh cầm quyền, họ phải củng cố cho chính bản thân họ bằng việc xây dựng ủng hộ trong nội bộ phe đối lập và bằng việc mở rộng vũ đài chính chị và hấp dẫn các nhóm mới đang trở nên tích cực hơn trên trường chính trị như một kết quả của việc mở cửa. Những nhà cải cách tài ba sử dụng áp lực ngày càng tăng từ những nhóm này về dân chủ hóa nhằm làm suy yếu những nhà bảo thủ, và sử dụng mối nguy cơ về một cuộc đảo chính của những người bảo thủ cũng như sự hấp dẫn của một phần trong chiếc bánh quyền lực để làm mạnh thêm các nhóm trung hòa trong phe đối lập.

Để đạt được những mục đích này, những nhà cải cách trong chính phủ phải đàm phán với các nhóm đối lập chính và đi đến được những thỏa thuận rõ ràng hoặc ngầm với họ. Tại Tây Ban Nha chẳng hạn, đảng Cộng sản nhận ra là đảng này đã quá yếu để theo đuổi một “chính sách đứt gãy tiến bộ” và thay vào đó đã thực hiện một “hiệp ước đứt gãy” cho dù hiệp ước đó “hoàn toàn chỉ mang tính ẩn dụ”. Tháng 10/1977 Suárez giành được thỏa thuận với đảng Cộng sản và đảng Xã hội trước Pactos de la Moncloa bao gồm sự pha trộn của các biện pháp khổ hạnh khá gay gắt về kinh tế và một vài cải cách xã hội. Những cuộc đàm phán bí mật giữa Santiago Carrillo, lãnh đạo chính của đảng Cộng sản, “lợi dụng sự lo lắng của lãnh đạo đảng Cộng sản Tây Ban Nha (PCE) ở gần đòn bẩy quyền lực và đảm bảo ủng hộ ông này trong gói chương trình khổ hạnh.” Tại Hungary, các cuộc thương lượng thẳng thắn diễn ra vào mùa thu năm 1989 giữa đảng Cộng sản và nhóm Bàn Tròn Đối Lập đại diện cho các đảng và nhóm chính khác. Tại Brazil, những sự am hiểu không chính thức được xây dựng giữa chính phủ và các đảng đối lập, nhóm Phong trào Dân chủ cho Brazil (MDB) và đảng Phong trào Dân chủ cho Brazil (PMDB). Ở Đài Loan, năm 1986, chính phủ và phe đối lập đạt đến một thỏa thuận về các giới hạn mà trong đó thay đổi chính trị sẽ diễn ra, và trong một hội nghị kéo dài một tuần vào tháng 7/1990, thống nhất về một kế hoạch đầy đủ cho dân chủ hóa.

Trung hòa và hợp tác bởi phe đối lập dân chủ – sự tham gia của họ trong quá trình như những đối tác trẻ hơn – là quan trọng cho quá trình chuyển đổi thành công. Tại hầu hết các nước, các đảng đối lập chính – như MDB-PMDB của Brazil, những người Xã hội và Cộng sản ở Tây Ban Nha, đảng Tiến bộ Dân chủ (DPP) của Đài Loan, Diễn đàn Dân sự tại Hungary, Liên minh Nhân dân Cách mạng châu Mỹ (APRA) tại Peru, những nhà Dân chủ Thiên chúa giáo tại Chi-lê – đều được dẫn dắt bởi những người ôn hòa và theo chính sách ôn hòa, thỉnh thoảng phải đối mặt với sự khiêu khích đáng kể từ các nhóm bảo thủ trong nội bộ chính phủ. Tóm tắt của Thomas E. Skidmore về những gì đã diễn ra ở Brazil đã chính xác mô tả được mối quan hệ trung tâm này trong các quá trình chuyển đổi:

Cuối cùng, tự do hóa là sản phẩm của mối quan hệ biện chứng căng thẳng giữa chính phủ và phe đối lập. Giới quân đội ủng hộ abertura phải tiến hành với sự thận trọng, vì lo sợ sẽ làm khuấy động những người cứng rắn. Những lời đề nghị của họ cho phe đối lập được đưa ra nhằm lọc ra những thành tố “có trách nhiệm”, do đó chỉ ra là có những người ôn hòa sẵn sàng hợp tác với chính phủ. Cùng lúc đó, phe đối lập không ngừng gây áp lực lên chính phủ trong việc chấm dứt những sự vượt quá giới hạn chuyên quyền của nó, do đó nhắc nhở giới quân đội là sự thống trị của họ thiếu tính hợp pháp. Trong khi đó, những người ôn hòa trong phe đối lập phải nhắc nhở những người tiến bộ là họ sẽ làm lợi cho những kẻ cứng rắn nếu họ đi quá xa. Mối quan hệ chính trị phức tạp này vận hành thành công bởi vì giữa giới quân đội và dân sự có một sự nhất trí trong việc ủng hộ cho sự quay trở lại của một hệ thống chính trị (hầu như) mở.

Hướng dẫn cho những Người Chủ trương Dân chủ hóa 1: Cải cách Hệ thống Chuyên chế

Các bài học chính của các cuộc chuyển đổi của Tây Ban Nha, Brazil và ở nơi khác cho các nhà cải cách dân chủ trong các chính phủ chuyên chế gồm:

(1)    Đảm bảo cơ sở chính trị của bạn. Càng nhanh càng tốt sắp đặt những người ủng hộ dân chủ hóa vào các vị trí quyền lực quan trọng trong chính phủ, đảng và quân đội

(2)    Duy trì tính hợp pháp ngược, tức là, tạo ra những thay đổi thông qua các thủ tục đã được thiết lập của chế độ phi dân chủ trước đó và đảm bảo cho các nhóm bảo thủ bằng những nhượng bộ mang tính tượng trưng, tuân theo đường lối hai tiến một lùi.

(3)    Dần dần thay khu vực cử tri của chính bạn, để giảm sự phụ thuộc của bạn vào các nhóm thuộc chính phủ phản đối sự thay đổi và để mở rộng khu vực cử tri của bạn theo hướng thu hút sự ủng hộ của các nhóm đối lập nhưng ủng hộ dân chủ.

(4)    Hãy sẵn sàng là những người bảo thủ sẽ có một vài hành động cực đoan để chấm dứt thay đổi (ví dụ như một cố gắng làm đảo chính) – thậm chí có thể khuyến khích họ làm thế – và sau đó đè bẹp họ một cách không thương xót, cô lập và làm mất uy tín các thành phần cực đoan hơn chống đối lại thay đổi.

(5)    Chớp lấy và giữ quyền kiểm soát sáng kiến này trong toàn bộ quá trình dân chủ hóa. Chỉ nên dẫn dắt bằng sức mạnh và không bao giờ đưa ra các giải pháp dân chủ hóa chỉ để đáp ứng lại áp lực trước đó từ các nhóm đối lập tiến bộ cực đoan hơn.

(6)    Giữ cho các kỳ vọng ở mức độ thấp về việc thay đổi có thể đi xa đến đâu; nói chuyện bằng ngôn ngữ dưới dạng duy trì quá trình đang diễn ra hơn là dưới dạng đạt được một vài điều dân chủ không tưởng hoàn toàn được trau chuốt.

(7)    Khuyến khích phát triển một đảng đối lập có trách nhiệm và ôn hòa, mà các nhóm chính trong xã hội (bao gồm cả giới quân đội) sẽ chấp nhận như một chính phủ thay thế hợp lý và không mang tính đe dọa.

(8)    Tạo ra một không khí chung về tính không thể tránh được của quá trình dân chủ hóa để nó được rộng rãi chấp nhận như một con đường phát triển cần thiết và tự nhiên cho dù cho đối với một vài người điều này vẫn còn là một điều ít được mong đợi.
Phần III: Thay thế

Thay thế liên quan đến một quá trình rất khác biệt so với quá trình chuyển đổi. Các nhà cải cách trong nội bộ chế độ là rất yếu hoặc không tồn tại. Các nhân tố thống trị trong chính phủ là các nhà chính trị bảo thủ khăng khăng phản đối có sự thay đổi chế độ. Dân chủ hóa bởi vậy là kết quả của việc nhóm đối lập giành được sức mạnh và chính phủ mất sức mạnh cho đến khi chính phủ sụp đổ hoặc bị lật đổ. Các nhóm đối lập cũ giành được quyền lực và sau đó xung đột chuyển sang một giai đoạn mới vì các nhóm trong chính phủ mới cũng vật lộn giữa chúng với nhau về bản chất của chế độ mà họ nên xây dựng. Tựu chung lại, thay thế có liên quan đến 3 giai đoạn riêng biệt: đấu tranh để tạo ra sự sụp đổ, sụp đổ, và đấu tranh sau sụp đổ.

Hầu hết các quá trình dân chủ hóa trong làn sóng thứ ba đều đòi hỏi có sự hợp tác ít nhiều từ những người đương nhiệm. Chỉ có sáu thay thế đã diễn ra cho đến năm 1990. Thay thế là khá hiếm trong các chuyển đổi từ hệ thống một đảng (một trong 17 trường hợp) và chế độ quân sự (2 trong 16) và phổ biến hơn trong các chuyển đổi từ chế độ độc tài chuyên chế mang tính cá nhân (3 trong 7). Như chúng ta đã chỉ ra, với một vài ngoại lệ (Gandhi, Kenan Evren, Pinochet), những nhà lãnh đạo đã tạo ra các chế độ độc tài chuyên chế không tự kết thúc các chế độ đó. Sự thay đổi lãnh đạo trong nội bộ các chế độ chuyên chế trong các chế độ quân sự thường có vẻ xảy ra ở “giai đoạn 2” bằng các cuộc đảo chính, trong các hệ thống một đảng là thông qua việc kế nhiệm thông thường hoặc thông qua hành động của các cơ quan thuộc đảng được ủy nhiệm. Các kẻ độc tài, tuy nhiên, lại hiếm khi lui về nghỉ hưu một cách tự nguyện, và bản chất quyền lực của họ – thuộc cá nhân hơn là thuộc quân đội hay thuộc tổ chức – khiến cho các đối thủ phản đối trong nội bộ chế độ khó có thể hất cẳng họ, và thực vậy làm cho những người phản đối như vậy khó mà tồn tại với số lượng đáng kể hay có chút ít sức mạnh nào. Do đó, kẻ chuyên chế này có vẻ như sẽ nắm giữ quyền lực của mình cho tới tận khi ông ta chết hoặc cho tới khi bản thân chế độ sụp đổ. Cuộc đời của chế độ đó trở thành cuộc đời của nhà chuyên chế này. Về mặt chính trị và thỉnh thoảng về mặt văn học nữa (ví dụ như với Franco, Ceausescu), cái chết của những nhà chuyên chế độc tài này và của chế độ của họ thường xảy ra đồng thời.

Các nhà cải cách dân chủ đặc biệt rất yếu hoặc không có mặt trong các chế độ chuyên chế bị thay thế. Ở Ác-hen-ti-na và Hy Lạp, những nhà lãnh đạo tự do như Viola và Papadopoulos bị đẩy ra khỏi quyền lực và bị thay thế bởi những người cứng rắn thuộc giới quân sự. Tại Bồ Đào Nha, Caetano khởi xướng một vài cải cách tự do hóa và sau đó bị lật đổ do chính những cải cách này. Tại Philipines, Romania và Đông Đức, những người tùy tùng của Marcos, Ceausescu, và Erich Honecker có một vài, nếu có, các nhà dân chủ hoặc thậm chí các nhà tự do. Trong tất cả 6 trường hợp, những người bảo thủ giữ độc quyền về quyền lực, và khả năng khởi xướng cải cách từ ngay bên trong là gần như vắng bóng.

Một hệ thống chuyên chế tồn tại bởi vì chính phủ mạnh hơn về mặt chính trị so với phe đối lập. Nó sẽ bị thay thế khi chính phủ trở nên yếu hơn so với phe đối lập. Do đó, thay thế đòi hỏi phe đối lập phải hạ bệ chính phủ và chuyển cân bằng quyền lực nghiêng sang bên phe mình. Khi được khởi xướng, các chế độ chuyên chế trong làn sóng thứ ba luôn gần như rất phổ biến và được ủng hộ rộng rãi. Họ thường có sự hậu thuẫn của một liên minh rộng khắp của các nhóm. Theo thời gian, tuy nhiên, với bất cứ chính phủ nào, sức mạnh của họ bị suy giảm. Chế độ quân sự của Hy Lạp và Ác-hen-ti-na trải qua sự bẽ mặt từ sự bại trận. Các chế độ của Bồ Đào Nha và Philippine không thể thắng trong các cuộc chiến chống lại nổi loạn, và chế độ Philipine đã tạo ra một kẻ chết vì đạo và cướp bầu cử. Chế độ của Romania thực thi các chính sách tạo ra sự đối kháng sâu sắc của nhân dân và cô lập chính chế độ đó khỏi họ; do đó, chế độ đó dễ bị tổn thương trước ảnh hưởng tích lũy lớn của phong trào xóa bỏ chuyên chế trên toàn khu vực Đông Âu. Trường hợp của Đông Đức còn nhập nhằng hơn thế. Mặc dù chế độ đó tương đối thành công trong một vài khía cạnh, sự so sánh không thể tránh khỏi với Tây Đức là một điểm yếu cố hữu, và việc mở cửa hành lang quá cảnh qua Hungary đã làm xói mòn sâu sắc quyền uy của chế độ này. Giới lãnh đạo đảng từ chức vào đầu tháng 12 năm 1989, và một chính phủ tạm thời lên tiếp quản. Quyền lực của chế độ này tuy nhiên đã bốc hơi và với nó cũng như vậy cho những lý do tồn tại của một nhà nước Đông Đức.

Sự xói mòn những ủng hộ cho chế độ đôi khi xảy ra công khai, nhưng do đặc tính đàn áp của các chế độ chuyên chế, điều này thường xảy ra ngấm ngầm hơn. Các nhà lãnh đạo độc tài thường không ý thức được rằng họ đã bị mất uy tín đến như thế nào. Do đó, sự bất mãn ngấm ngầm tự bản thân nó hiện ra khi có một sự kiện khơi ngòi nào đó làm lộ ra điểm yếu của chế độ. Tại Hy Lạp và Ác-hen-ti-na, chính là sự thất bại quân sự. Tại Bồ Đào Nha và Đông Đức là sự chống đối hiển hiện đối với chế độ về nguồn gốc căn nguyên của quyền lực của chế độ đó – quân đội trong trường hợp của Bồ Đào Nha, Liên Bang Xô Viết trong trường hợp của Đông Đức. Các hành động của người Thổ Nhĩ Kỳ, quân đội Anh, quân đội Bồ Đào Nha và Gorbachev đã khích động và đem phơi bày công khai sự bất mãn chế độ từ các nhóm khác trong xã hội. Trong tất cả các trường hợp này, chỉ một vài nhóm yếu tập hợp lại để ủng hộ cho chế độ. Đã có nhiều người bất mãn với chế độ nhưng, bởi vì đây là chế độ chuyên chế, một sự kiện mang tính châm ngòi là cần thiết để kết tinh sự bất mãn như vậy.

Sinh viên nói chung luôn là phe đối lập; họ phản đối bất cứ chế độ nào tồn tại trong xã hội của họ. Tuy nhiên, bằng chính bản thân họ, sinh viên không hạ bệ chế độ. Thiếu sự ủng hộ to lớn từ các nhóm khác trong cộng đồng dân cư, họ bị đe dọa dưới họng súng của lực lượng quân đội và cảnh sát tại Hy Lạp tháng 11/1973, tại Miến Điện tháng 9/1988 và tại Trung Quốc tháng 6/1989. Giới quân sự luôn là sự ủng hộ cơ bản của các chế độ. Nếu họ rút lui sự ủng hộ của mình, nếu họ tiến hành đảo chính lật đổ chế độ, hoặc nếu họ từ chối sử dụng vũ lực chống lại những người đe dọa lật đổ chế độ, chế độ sẽ sụp đổ. Ở giữa sự chống đối không ngừng của sinh viên và sự ủng hộ cần thiết của giới quân sự là các nhóm khác mà sự ủng hộ hay chống đối của họ đối với chế độ sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh. Trong các hệ thống chuyên chế không phải cộng sản như Philipines, các nhóm này có xu hướng ly gián theo trình tự. Sự bất mãn của sinh viên được tiếp nối bằng sự bất mãn của giới trí thức nói chung và sau đó là của cánh lãnh đạo của các đảng chính trị tồn tại trước đó, mà nhiều người trong số họ đã ủng hộ hoặc ngầm đồng ý với sự tiếp quản của kẻ chuyên chế. Thông thường, những phạm vi rộng hơn của tầng lớp trung lưu – giới công nhân áo cổ cồn trắng, giáo sư, những người kinh doanh nhỏ – bị gạt ra ngoài. Trong một đất nước theo đạo Thiên chúa giáo, lãnh đạo nhà thờ cũng thường là những người chống đối đầu tiên và hiệu quả chế độ. Nếu công đoàn tồn tại và không hoàn toàn bị chính phủ kiểm soát, ở vào một thời điểm nào đó họ cũng sẽ gia nhập phe đối lập. Do đó, cũng như vậy và quan trọng nhất, các nhóm kinh doanh lớn hơn và giai cấp tư sản cũng gia nhập phe đối lập. Vào thời điểm thích hợp, nước Mỹ hoặc các nguồn lực ủng hộ của nước ngoài khác sẽ trở nên bất mãn. Cuối cùng và chắc chắn là giới quân sự sẽ quyết định không ủng hộ chính phủ nữa hoặc sẽ tích cực đứng về cùng phía với bên đối lập chống lại chính phủ.

Năm trong số 6 trường hợp thay thế, hệ quả là, với ngoại lệ là Ác-hen-ti-na, sự bất mãn quân sự là quan trọng để hạ bệ chế độ. Trong chế độ chuyên chế độc tài tại Bồ Đào Nha, Philipines và Romania, sự bất mãn này trong giới quân sự đã được đẩy mạnh bởi chính các chính sách của kẻ chuyên chế làm suy yếu tính chuyên nghiệp của quân đội, chính trị hóa và làm tham nhũng hóa giới sỹ quan, và tạo ra các lực lượng bán quân sự và an ninh cạnh tranh với lực lượng quân đội. Chống đối chính phủ thông thường (Bồ Đào Nha là trường hợp ngoại lệ duy nhất) phải rộng khắp trước khi quân đội rời bỏ chính phủ. Nếu sự bất mãn không lan rộng, thì đó là do những nguồn có khả năng sẽ chống đối nhất – tầng lớp trung lưu, giai cấp thượng lưu, các nhóm tôn giáo – quá nhỏ và yếu hoặc là bởi vì chế độ có được sự ủng hộ của các nhóm này, thường là kết quả của các chính sách phát triển kinh tế thành công. Ở Miến Điện và Trung Quốc, các lực lượng vũ trang đàn áp thô bạo các cuộc biểu tình phần lớn do sinh viên dẫn đầu. Trong các xã hội phát triển hơn về mặt kinh tế, đối lập với chế độ chuyên chế đòi hỏi phải có được sự ủng hộ rộng rãi hơn. Khi phe đối lập đổ ra đường ở Philipines, Đông Đức và Romania, các đơn vị quân đội đã không xả súng vào các nhóm có sự đại diện rộng rãi của đồng bào của họ.

Một hình ảnh phổ biến của các quá trình chuyển đổi dân chủ là các chính phủ đàn áp bị lật đổ bởi “quyền lực nhân dân”, sự huy động rộng rãi các công dân phẫn nộ đòi hỏi và dần dần bức ép phải có thay đổi chế độ. Một dạng thức nào đó của các hành động quần chúng đã diễn ra trong hầu hết các thay đổi chế độ trong làn sóng thứ ba. Tuần hành, biểu tình phản đối và đình công quần chúng đóng vai trò trung tâm, tuy nhiên chỉ trong sáu chuyển đổi đã hoàn thành hoặc đang diễn ra vào cuối những năm 1980.  Những trường hợp này bao gồm thay thế chế độ ở Philippines, Đông Đức, và Romania, và các quá trình chuyển dịch ở Hàn Quốc, Ba Lan, và Cộng hòa Séc và Slovakia. Tại Chi-lê, những hành động thường xuyên của quần chúng đã nỗ lực nhưng không thành công ngược kế hoạch chuyển đổi của Pinochet. Tại Đông Đức, duy nhất, cả “thoát ra” và “tiếng nói”, trong từ ngữ của Albert Hirschman, đóng vai trò chính, với biểu tình dưới hình thức đầu tiên là hàng loạt người dân đổ ra đường từ các vùng nông thôn và sau đó là hàng loạt các cuộc biểu tình diễn ra trên đường phố tại Leipzig và Berlin.

Ở Philippines, Bồ Đào Nha, Romania, và Hy Lạp, khi chế độ sụp đổ, nó sụp đổ rất nhanh. Ngày hôm trước chính phủ độc tài còn đang trên bệ quyền lực, ngày hôm sau nó đã không còn nữa. Ở Ác-hen-ti-na và Đông Đức, chế độ chuyên chế nhanh chóng bị tước bỏ tính hợp pháp nhưng vẫn bám lấy quyền lực trong khi nỗ lực đàm phán các điều khoản cho sự thay đổi chế độ. Ở Ác-hen-ti-na, chính phủ quân sự kế nhiệm của Tướng Reynaldo Bignone, lên nắm quyền tháng 7/1982 ngay sau khi chính quyền Falklands thất bại, đã “tương đối thành công” trong việc duy trì sự kiểm soát chế độ trong quá trình chuyển tiếp trong vòng 6 tháng. Tuy nhiên, tháng 12/1982, mức độ phản đối trong công chúng ngày càng tăng và sự phát triển của các tổ chức đối lập đã dẫn đến các cuộc biểu tình quần chúng, một cuộc đình công, thay đổi lại lịch bầu cử của Bignone, và sự từ chối của các đảng đối lập thống nhất về các điều kiện do giới quân sự đưa ra về việc chuyển giao quyền lực. Quyền lực của chế độ quân sự sắp mãn nhiệm tiếp tục trở nên xấu hơn cho đến khi bị thay thế bởi chính phủ Alfonsín đắc cử tháng 10/1983. “Là một chính phủ quân sự sụp đổ,” như một nhà văn đã quan sát được; “nó không có ảnh hưởng lên việc lựa chọn các ứng cử viên hay cho việc bầu cử cho chính bản thân mình, nó không loại trừ bất cứ ai, và cũng không có quyền lực cũng không có đặc quyền phủ quyết cho chính nó trong tương lai. Thêm vào đó, nó không thể đảm bảo quyền tự trị của mình về chính phủ hợp hiến trong tương lai hay hứa hẹn về một chính sách quân sự tương lai, và thậm chí còn kém hơn – tùy ứng cử viên thắng cử là ai – nền tảng cho một thỏa thuận về cuộc đấu tranh còn tiếp diễn chống lại những người hoạt động du kích.” Ở Đông Đức đầu năm 1990 một tình huống tương tự như vậy cũng tồn tại, với một chính phủ cộng sản yếu và bất tín nhiệm bám víu lấy quyền lực, và thủ tướng của chính phủ này, Hans Modrow, với vai trò giống như của Bignone.

Tầm quan trọng trong các quá trình chuyển tiếp về tính tiếp tục hình thức và tính hợp pháp ngược là thiếu vắng trong các quá trình thay thế. Các tổ chức, thủ tục, ý kiến, và các cá nhân nối kết với chế độ trước đó được coi là bại hoại và tầm quan trọng là ở một gián đoạn sắc và sạch khỏi quá khứ. Những ai thắng những kẻ thống trị chuyên chế đặt nền tảng cho sự thống trị của họ trên “tính hợp pháp thuận”, những cái mà họ sẽ mang đến trong tương lai, và sự không liên quan hoặc không có mối liên lạc nào với chế độ trước đó.

Trong các quá trình chuyển tiếp và chuyển dịch, các nhà lãnh đạo của các chế độ chuyên chế thường rời bỏ chính trị và quay về các trại lính hoặc cuộc sống riêng tư một cách thầm lặng và với một ít sự kính trọng và danh dự. Các nhà lãnh đạo chuyên chế bị mất quyền lực qua thay thế, ngược lại, trải qua những số phận không vui vẻ gì. Marcos và Caetano bị buộc phải đi đày. Ceausescu bị xử tử ngay tức khắc. Các sỹ quan quân đội, người đã điều hành Hy Lạp và Ác-hen-ti-na, đã bị đưa ra xét xử và tống giam. Ở Đông Đức, trừng phạt bị đe dọa dành cho Honecker và các nhà lãnh đạo cũ khác, không khi đó hoàn toàn ngược lại, thiếu vắng những hành động như vậy ở Ba Lan, Hungary và Séc và Slôvakia. Những kẻ độc tài bị loại bỏ bởi sự can thiệp của nước ngoài ở Grenada và Panama đều tương tự là đối tượng bị đưa ra truy tố và trừng phạt.

Sự sụp đổ một cách hòa bình của chế độ chuyên chế thường tạo ra một khoảnh khắc huy hoàng nếu không nói là ngắn ngủi của một trạng thái phởn phơ của công chúng, hoặc hoa và rượu sâm-panh, những thứ hoàn toàn không có trong các quá trình chuyển đổi. Sự sụp đổ cũng tạo ra một chân không tiềm năng của quyền lực thiếu vắng trong các quá trình chuyển tiếp. Tại Hy Lạp và Philippines, chân không này nhanh chóng được lấp đầy bằng sự nhậm chức của Constantine Karamanlis và Corazon C. Aquino, những nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng đã hướng dẫn đất nước họ tới dân chủ. Tại Iran, chân không quyền lực này được lấp đầy bằng thủ lĩnh cao tuổi Hồi giáo, người đã đưa Iran đến một chỗ nào đó. Ở Ác-hen-ti-na và Đông Đức, chính phủ của Bignone và Modrow lấp đầy một cách yếu ớt vai trò tạm thời giữa sự sụp đổ của chế độ chuyên chế và bầu cử ra chính phủ dân chủ.

Trước khi sụp đổ, các nhóm đối lập thống nhất lại với nhau do mong muốn chung là muốn sự sụp đổ diễn ra. Sau khi sụp đổ, các chia cắt xuất hiện trong các nhóm này và họ đấu tranh với nhau về việc phân chia quyền lực và bản chất của chế độ mới phải được thiết lập. Số phận của dân chủ được quyết định bởi quyền lực tương đối của các nhà ôn hòa dân chủ và những người cấp tiến phi dân chủ. Tại Ác-hen-ti-na và Hy Lạp, các chế độ chuyên chế ở đây đã không có quyền lực trong thời gian dài, các đảng chính trị nhanh chóng xuất hiện trở lại, và một thỏa hiệp nổi trội tồn tại giữa các nhà lãnh đạo chính trị và các nhóm về nhu cầu phải nhanh chóng tái thiết lập các thể chế dân chủ. Tại Philippines các phản đối dân chủ ngấm ngầm, ngoài nổi dậy của NPA, cũng rất nhỏ.

Ở Nicaragua, Iran, Bồ Đào Nha và Romania, sự sụp đổ đột ngột của các nhà độc tài đã dẫn đến các cuộc đấu tranh giữa các nhóm và đảng đối lập cũ về việc ai sẽ thực thi quyền lực và loại chế độ nào sẽ được thiết lập. Tại Nicaragua và Iran, những người ôn hòa dân chủ bị thua và bị loại. Tại Bồ Đào Nha, một nhà nước của sự náo động cách mạng đã tồn tại giữa tháng 4/1974 và tháng 11/1975. Một sự hợp nhất quyền lực bởi liên minh Marxist-Leninist phi dân chủ của đảng Cộng sản và các sỹ quan quân sự cánh tả là hoàn toàn có thể. Cuối cùng, sau những cuộc đấu tranh căng thẳng giữa các phe phái đối nghịch trong giới quân sự, các cuộc tổng động viên quần chúng, tuần hành, và đình công, hành động quân sự của António Ramalho Eanes đã ấn định Bồ Đào Nha trên con đường dân chủ. “Cái đã bắt đầu là một cuộc đảo chính,” như Robert Harvey nhận xét, “đã trở thành một cuộc cách mạng được ngăn lại bằng chỉ một phản ứng trước khi nó trở thành tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Trong sự hỗn loạn, dân chủ được sinh ra.”

Các lựa chọn ở Bồ Đào Nha là giữa nền dân chủ tư sản và chuyên chế Marxist- Leninist. Lựa chọn ở Romania vào năm 1990 ít rõ ràng hơn, nhưng dân chủ cũng không thể tránh khỏi. Việc thiếu các đảng và nhóm đối lập được tổ chức hiệu quả, việc thiếu vắng các kinh nghiệm trước đó với dân chủ, bạo lực đi cùng với việc hạ bệ Ceausescu, mong muốn sâu thẳm được trả thù những người có liên hệ với nhà độc tài kết hợp cùng với sự liên quan rộng rãi của phần nhiều của dân chúng với nhà độc tài, rất nhiều nhà lãnh đạo của chính phủ mới, những người đã từng là một phần của chế độ cũ – tất cả là điềm tốt cho sự nổi lên của dân chủ. Vào cuối năm 1989 một số người Romania đã nhiệt tình so sánh những gì đang xảy ra trong đất nước họ với những gì đã xảy ra hai trăm năm trước đó tại Pháp. Cũng có thể họ đã ghi nhận là Cách mạng Pháp đã kết thúc bằng một chế độ độc tài quân sự.

Hướng dẫn cho các Nhà Dân chủ hóa 2: Lật đổ Chế độ Chuyên chế

Lịch sử của các cuộc thay thế gợi lên những hướng dẫn dưới đây dành cho các nhà ôn hòa dân chủ đối lập cố thử lật đổ một chế độ chuyên chế:

(1)    Tập trung sự chú ý ðến tính bất hợp pháp hoặc hợp pháp mơ hồ của chế độ chuyên chế; đây chính là điểm yếu nhất của chế độ này. Tấn công chế độ này ở những vấn đề chung là những quan tâm rộng rãi, như tham nhũng và tính tàn bạo. Nếu chế độ này hoạt động thành công (nhất là về kinh tế) thì những cuộc tấn công như vậy sẽ không hiệu quả. Khi hoạt động của nó dao động (vì nó phải), nêu bật tính bất hợp pháp của chế độ này trở thành đòn bẩy duy nhất quan trọng nhất cho việc ðánh bật nó ra khỏi vị trí quyền lực.

(2)    Cũng như các nhà lãnh đạo dân chủ, những kẻ thống trị độc tài theo thời gian gạt ra ngoài những người ủng hộ cũ của mình. Khuyến khích các nhóm bất mãn này ủng hộ dân chủ như một thay thế cần thiết cho hệ thống hiện hành. Đặc biệt nỗ lực đưa vào danh sách các nhà lãnh đạo kinh doanh, giáo sư tầng lớp trung lưu, các nhân vật tôn giáo và lãnh đạo các đảng chính trị, phần lớn những người này có lẽ đã ủng hộ việc thiết lập chế độ chuyên chế hiện thời. Phe đối lập hiện ra càng “đáng tôn trọng” và “có trách nhiệm”, càng dễ cho phe này giành được nhiều người ủng hộ hơn.

(3)    Nuôi mầm những vị tướng. Trong phân tích cuối cùng, liệu chế độ có sụp đổ hay không phụ thuộc vào việc liệu các vị tướng lĩnh quân đội có ủng hộ chế độ hay không, liệu họ có ủng hộ bạn tham gia vào phe đối lập chống lại chế độ hay không, hay họ sẽ đứng nhìn từ bên lề. Ủng hộ của giới quân sự có thể có ích khi khủng hoảng xảy ra, nhưng trên tất cả điều bạn thực sự cần là sự không sẵn lòng của giới quân sự trong việc bảo vệ cho chế ðộ hiện thời.

(4)    Thực hành và chủ trương phi bạo lực. Trong nhiều thứ khác, điều này sẽ làm cho bạn dễ dàng hơn thắng lại các lực lượng an ninh: lính thường không có xu hướng cảm thông với ai đã từng uống cốctai Molotov với họ.

(5)    Chớp lấy mọi cơ hội bày tỏ sự đối lập với chế độ, bao gồm cả việc tham gia vào các cuộc bầu cử do chế độ hiện hành tổ chức.

(6)    Xây dựng các mối quan hệ với giới truyền thông quốc tế, các tổ chức nhân quyền nước ngoài, và các tổ chức xuyên quốc gia như nhà thờ. Đặc biệt, huy động những người ủng hộ ở Mỹ. Đại biểu quốc hội Hoa Kỳ luôn tìm kiếm các nguyên cớ đạo đức để làm cho thiên hạ biết đến họ và để sử dụng chống lại hệ thống hành chính Hoa Kỳ. Kịch tính hóa sự nghiệp của bạn cho họ và cung cấp cho họ tài liệu với các cơ hội được chụp ảnh và lên hình trên truyền hình và với các bài phát biểu có thể trở thành các tin bài chính.

(7)    Tăng cường thống nhất trong các nhóm đối lập. Cố tạo ra các tổ chức bảo trợ toàn diện điều phối hợp tác giữa các nhóm như vậy. Điều này sẽ khó và như trong ví dụ của Philippines, Chile, Hàn Quốc, và Nam Phi cho thấy, những kẻ thống trị độc tài thường là chuyên gia trong việc xúc tiến tình trạng chia rẽ trong phe đối lập. Một bài thử về các tố chất của bạn để trở thành một nhà lãnh đạo dân chủ của đất nước mình là khả năng của bạn vượt qua những thách thức này và có biện pháp nào đó đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ phe đối lập. Hãy ghi nhớ sự thật của Gabriel Almond: “Nhà lãnh đạo vĩ đại là người xây dựng liên minh tài ba.”

(8)    Khi chế độ chuyên chế sụp đổ, hãy chuẩn bị sẵn sàng nhanh chóng lấp đầy chân không quyền lực được tạo ra sau đó. Có thể làm điều này bằng cách: đưa ra một vị lãnh đạo nổi tiếng, có uy tín, theo khuynh hướng dân chủ; mau chóng tổ chức bầu cử để đem lại tính hợp pháp rộng rãi cho một chính phủ mới; và xây dựng tính hợp pháp quốc tế bằng cách lấy sự ủng hộ của các nhân vật nước ngoài và xuyên quốc gia (các tổ chức quốc tế, Mỹ, Cộng đồng châu Âu, Nhà thờ Thiên chúa giáo). Hãy nhận thức rằng một số đối tác liên minh cũ của bạn sẽ muốn thiết lập một chế độ chuyên chế mới của riêng họ và thầm lặng tổ chức những người ủng hộ dân chủ lại để chống lại nỗ lực này nếu họ thực hiện được.

Biểu tình chống họ Nông: dân chủ là thế

Trong hai ngày qua, người nắm quyền lực cao nhất nước Việt Nam nhưng không do dân bầu đã đến thăm một trong những quốc gia dân chủ hàng đầu thế giới và ông đã thấy được những gì? Những “khúc ruột ngàn dặm” đã lặn lội hàng trăm cây số hay cả ngàn cây số để từ Sydney và Melbourne tới thủ đô Canberra dàn chào viên tổng bí thư đảng CSVN đến viếng thăm Úc.

Chuyến Úc du của ông Nông Đức Mạnh đã được giữ kín tối đa nhưng một tuần lễ trước đó, Cộng đồng Người Việt Tự do ở Úc đã đưa ra lời kêu gọi, tổ chức hai cuộc biểu tình vào sáng Thứ Hai trước trụ sở Quốc hội Liên bang và vào chiều Thứ Ba trước trụ sở Quốc hội Tiểu bang New South Wales.

Chỉ trừ ở Việt Nam, hầu hết trên thế giới nơi nào các nhà lãnh đạo Việt Nam đến và có người tị nạn cộng sản, nơi đó có dàn chào, biểu tình, đả đảo. Các nhà lãnh đạo Việt Nam luôn được cảnh sát bảo vệ, ngồi kín trong xe, họp kín trong phòng, hầu như không tiếp xúc được với người dân bản xứ và dĩ nhiên không thể tiếp cận với đại đa số trên hai trăm ngàn người Việt đã sống ở đây từ ba thập niên qua.

Đi công du, thăm dân mà phải trốn chui trốn nhủi, rõ khổ! Nhưng biết làm sao hơn khi Việt Nam hiện nay vẫn còn dưới sự cai trị của đảng cộng sản, sẵn sàng bóp nghẹt tiếng nói người dân, bắt bỏ tù không cần xử những người bất đồng chính kiến, như Hà Nội đã làm trong thời gian gần đây?

Từ ngày Võ Văn Kiệt mở đầu cho chuyến công du của một thủ tướng cộng sản Việt Nam, các chính phủ Úc đã mời Tổng bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và tuần này Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, người đã đến Úc vào năm 1998 với tư cách là chủ tịch Quốc hội.

Chính phủ nào cũng vì quyền lợi của Úc mà tiếp các nhà lãnh đạo của chế độ cộng sản Việt Nam như họ đã làm đối với Trung Cộng. Tuy nhiên các chính khách đối lập và đôi lúc các thủ lãnh đối lập vẫn chỉ trích, phê phán các lãnh tụ cộng sản khi họ đến thăm Úc. Bởi vậy, dù Việt Nam hiện nay đã là bạn hàng được Úc đánh giá cao như Thủ tướng Rudd tuyên bố, Nông Đức Mạnh vẫn không tránh bị bẽ mặt.

Ngày nay, sự chỉ trích và tẩy chay của các chính trị gia lưỡng đảng có thể không còn mạnh như cách đây hai mươi hay mười năm, nhưng không có nghĩa Nông Đức Mạnh sẽ được hưởng sự đón tiếp nồng nhiệt và thân thiện từ mọi chính trị gia của những đảng phái lớn. Báo chí sẽ đưa tin lời chỉ trích và việc tẩy chay của các chính trị gia không tham dự dạ tiệc do chính phủ Úc khoản đãi các lãnh tụ Việt Nam.

Đó là chưa kể sự phản đối mạnh mẽ từ cộng đồng Việt Nam, những người tị nạn đã kiên trì chống đối và lên án tập đoàn cai trị cộng sản trong hơn ba thập niên qua. Hà Nội luôn kêu gọi người Việt hải ngoại “những khúc ruột ngàn dặm, máu của máu Việt Nam” hãy vì tổ quốc mà quên hận thù, đóng góp xây dựng đất nước trong khi họ tiếp tục bỏ tù những người lên tiếng bảo vệ đất nước trước sự xâm lăng của “đồng chí” Trung Quốc.

Trong hai tuần qua, Hà Nội đã bắt giam những người phê phán chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc, từ khai thác bauxite đến nhượng bộ chủ quyền trên biển. Trước hết là blogger Người Buôn Gió tức ông Bùi Thanh Hiếu và sau đó là nhà báo Phạm Đoan Trang của báo điện tử VietNamNet. Vào cuối tuần qua thêm một blogger bị bắt là cô Quỳnh Như có bút hiệu là Mẹ Nấm.

Việc bắt giam những người phát biểu ý kiến bằng đường lối ôn hòa và dân chủ đã bị các tổ chức nhân quyền lên án mạnh mẽ. Ngay cả những người ở trong nước như Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã cho rằng công an bắt nhà báo Đoan Trang là “trái pháp luật” vì không thể nói chung chung hay khơi khơi “xâm phạm an ninh quốc gia” mà phải nói phóng viên VietNamNet đã phạm tội gì”.

Ở Việt Nam, chỉ phát biểu chính kiến đã bị tù, nói gì đến biểu tình. Nhưng ở xứ dân chủ như Úc đấy là chuyện bình thường. Nông Đức Mạnh vừa đến phi trường đã được Thượng nghị sĩ Gary Humphries của đảng Tự do ra đón tại sân bay với cà-vạt màu vàng 3 sọc đỏ biểu tượng của VNCH. Lại còn được hàng trăm người Việt dàn chào trước trụ sở Quốc hội. Đấy gọi là dân chủ! Mất mặt bầu cua? Ráng mà chịu.

Túi khôn nằm ở đâu?

Bùi Tín

Các nước dân chủ phát triển đều có khá nhiều cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về chính trị, kinh tế, tài chính, quân sự, quan hệ quốc tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật…
Phần lớn đó là những tổ chức, viện, công ty tư nhân có mục đích nghiên cứu chuyên sâu tình hình, có chương trình, kế hoạch nghiên cứu, trao đổi, tổ chức hội thảo, công bố thông tin, xuất bản sách báo, nhằm phục vụ toàn dân và các cơ quan chính quyền, mở rộng kiến thức cho toàn xã hội.
Ví dụ ở Hoa kỳ, có American Enterprise Institut AEI – Viện Kinh doanh Mỹ; John Hopkins University Institude for Policy Studies – Viện nghiên cứu Chính sách thuộc
Đại học John Hopkins; Heritage Foundation – Tổ chức Kế thừa; Hoover Institute – Viện Hoover; Rand Corporation – Tập đoàn Rand …và vài chục viện khác.
Các nhân vật Mỹ, từ tổng thống, nghị sỹ, lãnh tụ các chính đảng, chính khách, nhà ngoại giao, tướng lãnh, trí thức toàn nước Mỹ đều chăm chú theo dõi hoạt động của các Viện nghiên cứu ấy để mở rộng hiểu biết, thu thông tin, gợi nguồn cảm hứng, làm phong phú thêm tư duy của mình. Nhiều chính sách lớn của nhà nước được định hình từ các “lò tư duy” này.
Người Mỹ gọi đây là những “think tank” – những “cỗ xe tư tưởng”. Người Pháp, Tây Ban Nha, Ý, cả người Nga, Đan mạch .. cũng dùng chữ “Think tank” của Mỹ-Anh.
Vì chữ think tank bao hàm nghĩa rộng, gồm cả khối tư duy lớn, tinh hoa toàn xã hội và thời đại, khối lượng đồ sộ và chất lượng cao, như cỗ máy luôn vận động mạnh mẽ, sôi sục sáng tạo, lao tới trước, do các viện nghiên cứu ấy tạo nên.
Ở ta, từ xưa, có từ “túi khôn”, chỉ rõ con người khác với mọi động vật khác là ở trí khôn, biết tư duy, biết suy luận, biết phân biệt phải trái, đúng sai, có lời nói và chữ viết. Túi khôn xã hội nằm ở người quân tử ngay thật, ở giới khoa bảng và sỹ tử có học hành thấu triệt thiên cơ của trời đất vạn vật và nhân sinh của con người.
Xã hội ta thời phong kiến, nếp nghĩ toàn dân là phó mặc tư duy cho vua quan cai trị.
Ý vua là ý trời. Minh quân thì dân được phúc; hôn quân thì dân chịu hoạ.
Hơn nửa thế kỷ đảng cộng sản cầm quyền, với tư duy độc quyền đảng trị theo lý luận chuyên chính vô sản, coi tự do tư nhân là hiểm nguy cho đảng, nên nếp nghĩ được trau dồi cho toàn dân là đảng luôn tuyệt đối sáng suốt như thần như thánh, không thể phạm sai lầm, mọi sự đã có đảng lo, có đường lối chính sách tuyệt vời, cứ vâng lời theo đảng là có thiên đường trên hạ giới này. Cho nên dân chỉ có nghe theo và làm theo, vâng vâng dạ dạ, không cần, không được suy nghĩ điều gì khác.
Thời mở cửa và đổi mới, có những đổi thay, không còn như cũ. Cho nên cái “túi khôn” tư nhân, cái “think tank” tư nhân mang tên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS -
Institute of Development Studies chào đời trong dịp Việt nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế WTO.
Vậy mà cái IDS mang dấu hiệu thời đại ấy lại vừa chết yểu ngày hôm kia 14/9.
Cho tôi xin được ngỏ lời chia buồn chân thành với 16 vị trí thức kẻ sỹ thời đại đã tạo nên cái túi khôn xã hội thật sự quý hoá và có giá trị này.
Tôi biết khá rõ từng vị trong Hội đồng khoa học của IDS, và xin được chia sẻ nỗi buồn này với các vị, mà đến hơn một nửa là bạn quen biết, không ít người là bạn thân quen vẫn thường giao du, gặp gỡ tôi khi có dịp và trao đổi với tôi trên internet.
Tôi nói lên điều ấy vì rất hiểu tinh thần lương thiện tri thức của các anh chị – la probité intellectuelle – ngay thật liêm khiết trong tư duy, không mảy may sợ sự thật, như nhà bác học cổ khi bị đưa lên giàn thiêu vẫn khẳng định :”quả đất vẫn quay!”.
Tôi rất hiểu đây không mảy may là một sự đầu hàng, bỏ cuộc. Không! Trái lại tôi coi đây là một hành động tiến công, một cuộc công phá bạo quyền còn u tối, mù quáng vì tham vật chất riêng tư, rất sợ lẽ phải, khoa học, dị ứng với luật pháp, đối lập với “túi khôn” của dân tộc. Ánh sáng luôn đẩy lùi bóng tối.
Từ đầu năm tôi đã được biết cả 16 vị đang trong tầm ngắm của Tổng cục II, bị chụp mũ là “có âm mưu chống phá nhà nước”(!), có “dấu hiệu xâm phạm an ninh quốc gia”(!), đã “nhận tiền yểm trợ từ nước ngoài”, “bị bọn phản động giật dây, lôi kéo, mua chuộc”(!).
Tôi rất thông cảm và am hiểu nhân cách của các anh Việt Phương, Nguyên Ngọc, Tương Lai, Phan Huy Lê, Chu Hảo, Hoàng Tuỵ, Phan Đình Diệu…, của 2 chị Phạm Chi Lan và Kim Hạnh, các anh chị rất an nhiên tự tại, tự tin và coi khinh những chụp mũ dựng đứng trên đây. Cũng bởi vì họ cũng từng chụp mũ cho tôi là : bị phản động lôi kéo (!), bất mãn về địa vị (!), nhận tiền của phòng nhì (deux B) và CIA (!), gia nhập đảng Việt Tân… không có lấy một bằng chứng nhỏ, một ly sự thật. Thật thương hại cho bộ máy an ninh đồ sộ tốn kém mà toàn ăn óc nói mò, vu vơ thảm hại đến thế! Một cơ chế hung ác, và bệ rạc!
Trong một chế độ pháp quyền, tôi có thể kiện và đòi kẻ vu khống phải xin lỗi và bồi thường danh dự; tiền ấy nếu như có, sẽ xin tặng những anh chị em dân chủ yêu nước bị tù đầy.
Tôi hiểu rằng IDS không chết. IDS sống mãnh liệt trong lòng dân, trong lòng túi khôn dân tộc. IDS nạn nhân của vu cáo và khủng bố nhà nước, có quyền kiện lại bạo quyền phạm pháp, để trở về trong hào quang của khoa học và chân lý.
Tôi tin là IDS ngẫm cho cùng, vẫn sống, và sống đẹp, sống khoẻ, sống mãnh liệt trong xã hội Việt Nam đang chuyển mình lên một tầng văn hoá – chính trị cao hơn : xã hội dân chủ tự do theo pháp luật, sự chuyển mình mà IDS đã góp phần không nhỏ.

Ðợt bắt người có tác động từ phương Bắc’

Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn

Nhân các vụ đàn áp vừa diễn ra tại Việt Nam đối với những người viết báo mạng cá nhân (bloggers) bày tỏ lòng yêu nước, nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Khắc Toàn, 54 tuổi, tổng biên tập tập san Tự Do Dân Chủ, hiện đang cư ngụ tại số 11 ngõ Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, đã dành cho báo Người Việt cuộc phỏng vấn sau đây.

***

-Người Việt: Tại sao Việt Nam lại bắt một số người viết báo mạng cá nhân (bloggers), mặc áo chống khai thác bauxite và bày tỏ lòng yêu nước khi nói “Hoàng Sa-Trường Sa là của VN”?

-Ông Nguyễn Khắc Toàn: Việc này là hoàn toàn có chủ đích và có tính toán rất kỹ lưỡng vì mấy lý do chính sau đây:

Bộ máy đàn áp của nhà nước muốn ra tay trấn áp ngay từ trong trứng nước một làn sóng mới của giới trẻ, của giới trí thức quan tâm đến an nguy của vận mệnh nước nhà đang bị Trung Quốc lăm le và uy hiếp khá nghiêm trọng. Họ rút kinh nghiệm và cho rằng nếu không ngăn chặn, diệt trừ mọi mầm mống đang mới manh nha, nhen nhúm của làn sóng này thì chỉ một thời gian ngắn sau đó nữa thôi, chắc chắn nó sẽ lại dâng lên thành một cao trào lớn khó lòng dập tắt được. Các sự kiện này như đã xảy ra các đợt xuống đường khá rầm rộ của giới trẻ và các tầng lớp quần chúng khác nữa.

Nhà cầm quyền rất lo ngại nếu để các cuộc biểu tình rầm rộ như thế xảy ra không kiểm soát được, thì ngoài việc bị cho là nguy cơ mất ổn định chính trị, rối loạn xã hội… Còn bởi vì họ e ngại, rất lo sợ đàn anh Trung Quốc trách cứ và sẽ có thể ra tay trừng phạt, hoặc khống chế lại đàn em Việt Nam, hoặc tối thiểu là sẽ bạch hóa những bí mật về tiêu cực của các nhà lãnh đạo đảng CSVN mà họ đã có trong tay từ trước.

Bắc Kinh có thể đã có những bằng chứng, tài liệu chẳng hạn như việc ăn hối lộ, tham nhũng với nhiều triệu đô la của các thủ lãnh phía đàn em Việt Nam, hay các hồ sơ về quan hệ trai gái bất chính, hoặc bí mật đời tư của các bậc lãnh tụ tối cao rất bất lợi cho danh dự và uy tín của phía đàn em thì sao đây. Ðiển hình nhất về việc này là qua sự kiện Bắc Kinh vừa rồi đã bật đèn xanh hoặc chỉ đạo ông Hoàng Tranh – viện phó Viện nghiên cứu sử học tỉnh Quảng Tây cho công bố tài liệu lịch sử về cuộc hôn nhân của ông Hồ Chí Minh với nữ y tá Tăng Tuyết Minh hồi năm 1928 ở Quảng Châu là một ví dụ rất rõ ràng…

Họ còn lo sợ rằng trong bối cảnh hiện nay nếu để xảy ra các cuộc xuống đường như trước đây, cho dù mục tiêu của sinh viên, thanh niên, quần chúng lúc đầu chỉ đơn thuần là bày tỏ yêu nước khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam. Nhưng biết đâu đấy về sau nó sẽ biến thành cuộc biểu tình phản kháng với mục tiêu chính trị gây nguy hiểm cho họ, như đòi thay đổi hoặc đòi cải cách thể chế chính trị, đòi dân chủ hóa đất nước, đòi hỏi thực thi nhân quyền… thì sao.

Trên mặt chính thức thì người phát ngôn Lê Dũng của Bộ Ngoại Giao đã nhiều lần thay mặt chính phủ Cộng Sản Hà Nội, thậm chí kể cả đôi lần trực tiếp chính đích thân ông Nguyễn Minh Triết – chủ tịch nước đã tuyên bố nào là: “ở Việt Nam không có ai bị bắt bớ, bị bỏ tù vì chính kiến khác biệt,” nào là: “chuyện bất đồng chính kiến là chuyện bình thường, chỉ có những người vi phạm luật pháp mới bị bắt giữ và xử lý…”

Về lãnh vực này thì họ đã cho phép công dân trong nước hành xử quyền phát biểu ý kiến chính trị khác biệt như thế nào? Thực hư chuyện này ra sao?

Theo tôi thì họ đã dùng thủ đoạn kể ra cũng không lấy gì làm mới mẻ hay sáng tạo cả, như một mặt họ có vờ vẫn để cho vài ba cá nhân những người bất đồng chính kiến mà thế giới bên ngoài quá rõ tên tuổi của họ để làm minh chứng cho tuyên truyền của họ là có sự thật, là hoàn toàn đúng đắn và rất hiển nhiên như đã có trên thực tế…

Nhưng mặt khác, họ lại ra sức bịt miệng những người khác cũng phát biểu, cũng bày tỏ ý kiến mà tên tuổi của họ công luận bên ngoài chưa biết đến nhiều lắm nhất là giới trí thức, thanh niên trẻ mới nhập cuộc sử dụng quyền nêu ý kiến chính trị của cá nhân, phát huy quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng qua thực hiên dân báo hay bloges riêng tư…

Các trường hợp nạn nhân mới bị bắt giam hay bị sách nhiễu vừa rồi như các bloges tự do hay một số nhà báo như: Bùi Thanh Hiếu, Phạm Ðoan Trang, Nguyễn Thị Như Quỳnh, Lê Minh Phát, Huy Ðức, nhạc sĩ Tô Hải, có thể cả Trần Uy nữa… là những ví dụ rất điển hình về chuyện này.

Như vậy là, họ sẽ có thể để cho dăm ba chục người lên tiếng để trưng bày cho “nền dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền” đang hiện diện có thật ở xứ sở khốn khó này với thế giới, nhưng mặt khác họ sẵn sàng dùng bạo quyền mạnh mẽ nhất để bịt miệng hàng chục triệu người dân khác có khát vọng tự do dân chủ, đòi hỏi quyền con người, sống lương thiện và có lương tâm muốn được bày tỏ.

Hay nói đúng hơn, chính xác hơn là họ ra sức vẫn bịt miệng cả nước! Tức là, cả một dân tộc vẫn bị bóp nghẹt các quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến dù chỉ là tâm tư, niềm suy nghĩ của riêng mỗi cá nhân mình mà thôi!

-Người Việt: Người ta có bị áp lực từ “phương bắc” khi bắt một loạt người như vậy không?

-Ông Nguyễn Khắc Toàn: Số người bị bắt giữ vừa qua thì ít nhiều họ đã có tên tuổi, vì tất cả đều là cư dân thường xuyên trên mạng lưới Internet toàn cầu khá thường xuyên. Tất cả họ đã có khá nhiều bài viết trên các blogs cá nhân của mình và được loan tải trên các website hải ngoại, như Người Buôn Gió, Mẹ Nấm, Tô Hải, Huy Ðức…

Tôi cho rằng trước khi đi đến quyết định bắt giam những người này là họ có bị áp lực của Bắc Kinh ít nhiều chứ không phải không có. Chẳng hạn, như chỉ sau ngày ông trưởng ban tổ chức Ðảng CS Trung Quốc, kiêm ủy viên Bộ Chính Trị sang thăm Hà Nội có gặp gỡ ông Nông Ðức Mạnh hôm 12 Tháng Sáu, 2009 thì ngay hôm sau 13 Tháng Sáu, 2009 họ ra tay với LS Lê Công Ðịnh, rồi tiếp tục với Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim… và lưu ý là tất cả những người này đều chống Trung Quốc ít nhiều khá sôi nổi, mạnh mẽ từ trước đó rồi. Còn đợt bắt mới vừa rồi cũng xảy ra ngay sau khi có một đoàn quan chức của Trung Quốc, hình như bí thư thuộc tỉnh Quảng Tây sang thăm Việt Nam cũng có gặp ông Nông Ðức Mạnh mà truyền hình và hệ thống báo chí, truyền thông VN có đưa tin và tôi có trực tiếp theo dõi được biết chuyện này…

Như vậy thì không có áp lực của phương Bắc là cái gì đây? Tóm lại là hiện nay đảng CSVN rất tránh làm phật lòng bậc đàn anh phương Bắc. Tất nhiên khi duy trì thường xuyên những chính sách, những động thái kiểu này sẽ đồng thời bảo vệ được mãi mãi cái cơ chế độc trị tuy đã quá mục nát, rệu rã vẫn đang hiện tồn nhưng lại rất có lợi vì nó đang nắm giữ rất nhiều đặc quyền, đặc lợi béo bở.

Chính sách của phía Bắc đã rất rõ ràng là, Trung Quốc muốn cột chặt nền kinh tế Việt Nam lệ thuộc sâu vào họ, phụ thuộc hoàn toàn càng nhiều càng tốt. Chính vì thế, họ rất muốn các dự án công nghiệp quan trọng như ngành khai khoáng, trong lĩnh vực giao thông, sản xuất năng lượng, ngành xây dựng, sản xuất vật liệu, luyện kim… phải được thắng thầu bằng mọi giá và thắng trên phạm vi cả lãnh thổ Việt Nam từ Bắc vào Nam.

Qua các sự kiện này cho thấy đảng CSVN hiện nay chỉ lo lắng, chỉ quan tâm sâu sắc đến chiếc ghế quyền lực sao cho thật bền, thật vững mà họ đang trị vì, và làm sao cho được lâu dài mãi mãi mà thôi. Ðây sẽ vẫn là ưu tiên cao nhất, ưu tiên hàng đầu của họ chứ không phải quyền lợi quốc gia, lợi ích dân tộc.

Chính sách ngu dân của đám đầu bò bộ chính trị không biết sẽ còn những gì nữa, trước mắt những ý kiến xây dựng không còn chổ dung thân, đất nước đã chậm phát triển giờ càng lụn bại thêm đúng âm mưu thâm độc của Bắc kinh không muốn cho VN trở thành cường quốc

Phản ứng của trí thức hải ngoại về quyết định 97

Gia Minh, phóng viên RFA

Ngay vào ngày bắt đầu có hiệu lực quyết định 97 của chính phủ Việt Nam, thì Tổ chức Nghiên cứu Phát triển Độc lập, IDS của nhóm 16 giáo sư và chuyên gia đầu ngành tại Việt Nam ra văn bản tự giải thể để phản đối quyết định đó.
Một số trí thức nước ngoài, từng về Việt Nam tham gia công tác nghiên cứu và đóng góp ý kiến cho chính quyền trong nước lập tức cũng có những phản ứng trước quyết định 97 đó?

Biến trí thức thành công cụ

Hôm qua, trên mạng Internet người ta đọc được bài viết của ông Vũ Quang Việt, một cựu chuyên viên Cục Thống kê Liên hiệp quốc, người từng có nhiều bài viết về tình hình Việt Nam, với tựa đề ‘Quyết định 97 và ý đồ biến trí thức thành công cụ của người cầm quyền’. Bài viết dài gần 5 trang khổ giấy A4, với font chữ trung bình.
Theo ông Vũ Quang Việt thì chiến tranh đã kết thúc gần 35 năm rồi, và có lúc tưởng chừng như con đường đang rộng mở để mọi người có thể đóng góp ý kiến dù phê bình hay phản biện một cách trung thực, mang tính xậy dựng cho đất nước, và theo ông Vũ Quang Việt đó là điều được ghi trong hiến pháp Việt Nam và đây cũng là một thông lệ mà nhiều nước khác đang thực hiện.
Tháng 12 năm 2007, có một trung tâm nghiên cứu ra mắt trước Trung tâm IDS này, đó là trung tâm nghiên cứu trong SaigonTimes. Trung tâm này có 44 trí thức ‘gộc’ trong và ngoài nước; thế mà vài tháng sau thì trong nước bắt phải giải tán

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, hiện giảng dạy tại Khoa Sử Đại học Maine Hoa Kỳ và cũng là người từng về Việt Nam để giảng dạy cũng như tư vấn, cho biết thực tế đã xảy ra tại Việt Nam cho những nhóm nghiên cứu độc lập, muốn đưa ra những ý kiến phản biện về các vấn đề của đất nước:
Tháng 12 năm 2007, có một trung tâm nghiên cứu ra mắt trước Trung tâm IDS này, đó là trung tâm nghiên cứu trong SaigonTimes. Trung tâm này có 44 trí thức ‘gộc’ trong và ngoài nước; thế mà vài tháng sau thì trong nước bắt phải giải tán nhưng mà lúc đó thì trung tâm đó chưa được phép trở thành trung tâm nghiên cứu thật sự nên bắt buộc phải giải tán; mặc dù trung tâm đó được ông Võ Văn Kiệt và rất nhiều người khác ủng hộ. Đây không phải là lần đầu nhưng vì ông Nguyễn Quang A ‘cứng đầu’ nên vài năm sau họ mới dẹp được nhóm này.
Ông Vũ Quang Việt cũng đồng ý rằng quyết định 97 của chính phủ Việt Nam là một chuyển hướng đột ngột đến 180 độ theo nguyên văn của ông là ‘có thể dọn đường cho những nhà khoa học muốn đóng góp ý kiến, trở lại hoạt động trong một môi trường ngày xưa’.

Kiểm duyệt cả chương trình nghiên cứu ?

Giáo sư Ngô Vĩnh Long thì nêu ra một số lý do đối với việc cho ban hành quyết định 97 của thủ tướng Việt Nam:
Tại sao bây giờ chính phủ VN phải đàn áp trí thức, nhất là nếu để trí thức phô bày ra vấn đề an ninh, mà an ninh bây giờ không phải là an ninh quốc gia không mà còn là an ninh của con người về nhiều mặt lắm. Nếu mà để trí thức phô bày những vấn đề này ra thì người ta sợ mất lòng dân. Tôi nghĩ đó là một trong những lý do mà người ta đàn áp. Tại vì nếu để những vấn đề đó cho người dân biết, và người ta nói là để vận động quần chúng thì người ta bảo là không được, và nói ‘anh nghiên cứu gì thì nghiên cứu, nhưng khi nghiên cứu xong thì trình cho tôi’. Thành ra các nhà nghiên cứu thì cho rằng nếu nghiên cứu xong mà không được tung ra cho dân chúng trong và ngoài nước biết thì còn nghiên cứu làm gì nữa. Hoặc rồi họ dấu họ bỏ trong tủ thì ai biết làm chuyện gì. Phản biện là phải cho công chúng mọi người được biết chứ.
‘Anh nghiên cứu gì thì nghiên cứu, nhưng khi nghiên cứu xong thì trình cho tôi’. Thành ra các nhà nghiên cứu thì cho rằng nếu nghiên cứu xong mà không được tung ra cho dân chúng trong và ngoài nước biết thì còn nghiên cứu làm gì nữa.
GM: Ảnh hưởng lớn nhất của quyết định 97 đối với VN hiện nay là gì?
Gs Ngô Vĩnh Long: Đây là những người phải nói thẳng ra lúc xưa là con cưng của chế độ, đã bỏ ra bao nhiên năm để làm việc với bao nhiêu thủ tướng, với Đảng… mà còn đàn áp đến vậy thì còn nói sao về tự do- dân chủ cho người khác nghe được. Đàn áp như vậy thì khó có thể che đậy bộ mặt của nhóm hiện nay.
GM: Có nước nào khác trên thế giới làm như VN?
GS Ngô Vĩnh Long: Trung Quốc làm như vậy nhưng mà họ còn khôn hơn tí là đối với một số trí thức họ còn nương tay một chút còn VN bắt chước mà bắt chước quá lố. Vấn đề Việt Nam bắt chước Trung Quốc là vấn đề được nói đến mấy năm nay rồi, nếu mà Việt Nam bắt chước Trung quốc quá nhiều theo kiểu đàn áp như vậy thì rất là khó khăn.
Ông Vũ Quang Việt nhắc lại trong bài viết của mình một lý do được phía cơ quan chức năng đưa ra là vào lúc này cần có sự đồng thuận cao của xã hội đối với các chính sách của chính phủ, của Đảng với mục tiêu duy trì ổn định xã hội; do vậy việc công bố kết quả các nghiên cứu phản biện liên quan đến những chính sách đó phải hết sức thận trọng.
Tác giả Vũ Quang Việt nêu ra câu hỏi phải chăng cấm một số phạm vi nghiên cứu là thận trọng và tránh cái gọi là thiếu đồng thuận?
Người xưa có câu ‘Trung ngôn, nghịch nhĩ’, ai cũng thừa nhận là sự thật thường làm mất lòng nhưng chính những lời nói thẳng thẳn khó lọt tai đó lại là những cảnh báo quí giá giúp tránh những sai lầm, nguy hại chết người.

CÓ SỰ CỐ – TỪ CHỨC HAY BIỆN MINH

• Nhật Vy (Tổng hợp)

Vừa qua, người đứng đầu cơ quan hành pháp vùng lãnh thổ Đài Loan, Lưu Triệu Huyền, đã quyết định từ chức do cơn bão kinh hoàng Morakot.

Người đứng đầu cơ quan hành pháp vùng lãnh thổ Đài Loan, Lưu Triệu Huyền, từ chức sau bão. Ảnh AP
Ông Lưu Triệu Huyền cho biết ông từ chức với tư cách là người đứng ra nhận trách nhiệm khi có tới hơn 600 người đã thiệt mạng vì cơn bão Morakot.
Vụ lãnh đạo vùng lãnh thổ Đài Loan từ chức do tự nhận thấy mình không hoàn thành nhiệm vụ người dân giao phó một lần nữa khiến thế giới phải suy ngẫm và liên tưởng về tư cách người lãnh đạo ngày nay.
Mới trước đó ít ngày, Thủ tướng Nhật Taro Aso đã từ chức chủ tịch đảng cầm quyền Dân chủ tự do (LDP) sau khi đảng này thất bại nặng nề trong cuộc bầu cử vừa qua.
Đúng phong cách một lãnh đạo Nhật, Thủ tướng Aso đã thẳng thắn xin lỗi vì để đảng LDP mất mát lớn trong cuộc tổng tuyển cử, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của khối quyền lực gần như không thể đánh bại trong suốt nửa thế kỷ qua.
Kể cũng buồn cho ông Aso, bởi nguyên nhân là do đảng này không thể thuyết phục được các cử tri, những người không hài lòng với cuộc sống bị kém đi trầm trọng do cuộc khủng hoảng kinh tế mà cả thế giới đang hứng chịu, không riêng gì Nhật.
Cũng vì khủng hoảng kinh tế mà trước đó, một nhà lãnh đạo khác trên thế giới, Thủ tướng Hungary Ferenc Gyurcsany đã tuyên bố ông sẽ thôi đứng đầu chính phủ vì sự ủng hộ dành cho ông trong cuộc đối phó với khủng hoảng kinh tế ngày càng sụt giảm.
Còn nhớ, lúc đó tờ SZ của Đức sau sự kiện trên đã đưa ra bình luận rằng việc ông Gyurcsany biết rút lui khi thấy mình giống như vật cản đường là một “hành động yêu nước”.
Ở nhiều nước, đặc biệt là Nhật Bản hoặc Hàn Quốc, từ chức khi không hoàn thành nhiệm vụ là điều gần như hiển nhiên đối với quan chức và nó được nâng tầm tới mức có một thuật ngữ về việc này, văn hoá từ chức.
Đặc biệt là ở Nhật, không hiếm khi thấy cảnh một ban lãnh đạo nào đó cúi rạp người trước ống kính truyền hình để xin lỗi nhân dân mỗi khi có sự cố gì đó, dù nhỏ. Đó là văn hóa ứng xử thường thấy của những người lãnh đạo ở Nhật.
Người Việt Nam cũng từng chứng kiến những người có trách nhiệm của Nhật xin lỗi khi để xảy ra sự cố sập nhịp dẫn cầu ở Cần Thơ.
Cầu bị sập, xe lửa đụng nhau thì bộ trưởng giao thông từ chức. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp công khai xin lỗi dân vì cho nhập khẩu thịt bò mà thiếu sự kiểm tra sát sao. Bộ trưởng Tài chính bị truất ngôi vì ngủ gật tại hội nghị G7. Phát ngôn không chuẩn và bị dân phê bình cũng từ chức…

Thủ tướng Nhật Taro Aso đã từ chức chủ tịch đảng cầm quyền Dân chủ tự do
Không riêng gì Nhật hay Hàn Quốc, ngày nay chuyện từ chức ở các nước được xem là bình thường. Ngay cả ở Trung Quốc, khi xảy ra vụ scandal sữa có melamine, cục trưởng Cục Chất lượng Trung Quốc cũng nói lời từ chức.
Ở nhiều nước hiện nay trên thế giới, khi có vụ việc tiêu cực xảy ra, thì người chịu trách nhiệm trực tiếp bị xử lý, hoặc nếu nhẹ thì xin lỗi dân, nếu nặng thì tự giác xin từ chức. Nếu vụ việc nghiêm trọng, liên qua đến trách nhiệm của cả Chính phủ, thì Thủ tướng đích thân xin lỗi dân. Nếu nặng thì cả Chính phủ xin từ chức. Còn việc bồi thường thiệt hại, việc xử lý hành chính hay hình sự do các sai phạm gây ra lại là chuyện khác.
Có lẽ ở những nước đó, những lời thanh minh về các lý do khách quan như thiên tai bất ngờ, sự cố ngoài ý muốn, do sơ suất của ban ngành khác, do điều này điều kia… khó được chấp nhận.
Có thể thấy, với nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới, việc từ chức thường là do người giữ trọng trách thấy được mình không còn phù hợp với trọng trách đó khi thời thế và bối cảnh thay đổi, hoặc tự thấy rõ trách nhiệm cá nhân trước những bê bối, sai phạm của mình hoặc mảng mà mình phụ trách. Hoặc từ chức nhiều khi là lời thừa nhận đã không đưa ra được một đáp án đúng cho một vấn đề mới nảy sinh.
Đơn giản như người học sinh thừa nhận với thầy và bạn rằng mình chưa có đáp án đúng cho một bài toán khó. Nó không ngăn cản cơ hội để người đó giải lại bài toán ấy, hoặc những bài toán hóc búa khác sau này.
• Nhật Vy (Tổng hợp)

Mùa bão ở biển đông

X.30

Mùa bão tới nghe tin ngư dân không có chổ trú bão, thuyền đắm, người chết… lòng thêm uất nghẹn, đau xót cho đồng bào cốt nhục, càng căm thù thêm kẻ địch xâm chiếm bở cõi. Cái thâm hiểm của bọn chệt ta không cần bàn cải, hận cái bộ chính trị toàn những thằng hèn nhận kẻ thù làm bạn, nịnh nọt ton hót để kiếm vinh hoa phú quý, dựa dẫm vào ĐCS TQ để nuôi dưỡng bào kê cái quái thai ĐCS VN . Quyền lợi dân tộc bị ném vô sọt rác, cúi cái mặt nhục nhã để bợ đít kẻ thù, cái thiển cận bọn chúng là nghĩ rằng cai trị kiểu bá quyền là vĩnh cửu, đầu độc chính trị Mark lenine tư tưởng HCM có hiệu quả…
Nếu chịu khó xem lại sử sách thì biết không có chế độ tàn bạo nào sống lâu, dân tộc VN chưa bao giờ khuất phục bọn tàu, cái nhẫn nhục của người dân là sự dồn nén chờ bùng nổ thành cao trào nhấn chìm mọi thế lực xấu xa.
Khi xưa đã có những cuộc chiến tranh nhân dân lấy yếu đánh mạnh, lấy ít thắng nhiều, là do ta có chính nghĩa. Khi lòng dân đã thuận thì những hy sinh mất mát gìn giữ non sông có nghĩa lý gì, lòng yêu nước dân Việt chỉ chờ dịp khơi dậy, anh hùng thời nào cũng có…
Cái khó của chính quyền bây giờ là mất lòng tin vào nhân dân, xem tất cả đều là kẻ thù, vô tình nhận giặc làm kẻ che chở. Cái mỹ từ xây dựng CNXH để lừa bịp mỵ dân ngày càng lộ rõ bản chất, giai cấp Tư sản đỏ ngày càng giàu trên xương máu của nhân dân thì cái khẩu hiệu chúng đưa ra càng mâu thuẩn.
Khi khẩu súng được giao vào tay người dân thì sẽ biết lòng dân như thế nào.

Hoàng Sa – tường trình 35 năm sau. Kỳ 1: Ký ức một đảo trưởng

•Tác Giả On The Net

Dư luận đang ngỡ ngàng trước một loạt bài đăng trên báo Tuổi Trẻ – cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đây là những bài viết liên quan tới trận hải chiến không cân sức cuối cùng vào 1/1974 giữa những người lính Việt Nam Cộng Hòa với hải quân Trung Quốc để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thân yêu của chúng ta.

Với thái độ trân trọng, bài báo gọi những người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa là “những người con đất Việt”. Tác giả bài báo cũng gặp, trò chuyện và ghi lại những câu chuyện rất cảm động mà chưa một lần trong suốt hơn một phần ba thế kỷ qua chúng ta được biết tới từ mấy trăm tờ báo trong nước.

E rằng, những bài viết như vậy có thể bị kiểm duyệt và xóa bỏ trong nay mai, chúng tôi xin phổ biến lại tới bạn đọc.

——————————————————————————–

Kỳ 1: Hoàng Sa trong ký ức một đảo trưởng

Ông Nguyễn Văn Đức

Cách nay đúng 40 năm, ông Nguyễn Văn Đức đã cùng các cộng sự vượt trùng dương đến với Hoàng Sa. Nhiệm vụ của ông là canh giữ biển trời Tổ quốc với chức vụ là đảo trưởng theo lệnh của Bộ chỉ huy biệt khu Quảng Đà. Lúc đó ông vừa tròn 22 tuổi, là một trong những đảo trưởng trẻ nhất từng làm nhiệm vụ trấn giữ tại quần đảo Hoàng Sa.
1. Mái đầu ông Nguyễn Văn Đức đã điểm muối tiêu của tuổi ngoài 60. Hỏi ngày nào đáng nhớ trong cuộc đời của mình, ông trả lời không chút đắn đo: “Đó là ngày 14-10-1969, tôi nhận được tờ sự vụ lệnh biên chế về trung đội Hoàng Sa ra đảo làm nhiệm vụ dưới chức danh đảo trưởng”.

Buột miệng hỏi ông về những lo lắng trước lúc lên đường làm nhiệm vụ, ông phản ứng: “Tại sao phải lo lắng? Đó là đất của cha ông mình để lại, là máu mủ thân yêu của Tổ quốc nên chúng tôi ra đi như lẽ bình thường, hiển nhiên. Chẳng có chút gì phải lo sợ khi chúng tôi đi trong tâm thế của một người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Khi đó quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, thuộc về người Việt, đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi”.

Một ngày cuối tháng 10-1969, ông Đức cùng trung đội Hoàng Sa gồm 34 người và bốn nhân viên khí tượng rời cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) lên đường làm nhiệm vụ. Sau hơn 24 giờ lênh đênh trên biển, Hoàng Sa thân yêu hiện dần lên trước mắt ông.

Ông Đức nhớ lại: “Lúc đầu biển khá êm, nhưng khi rời đất liền được khoảng hơn 100km thì sóng lớn dần. Từ xa Hoàng Sa hiện lên giữa nền xanh của đại dương. Bao bọc quanh Hoàng Sa là những rạn san hô rộng lớn, vì thế chúng tôi không thể cặp tàu vào được mà phải dùng canô để chuyển quân và quân trang vào đảo. Trên đảo có một tòa nhà lớn được xây dựng từ thời Pháp thuộc, cao khoảng 8m, tường dày 2m dành cho đảo trưởng.

Trong phòng làm việc của đảo trưởng có một bức tường ghi tên tất cả những người lính đã ra đây giữ đảo. Và tên của chúng tôi đã được ghi lên đó, đó là niềm vinh dự lớn lao của một người con đất Việt. Xung quanh đảo là những rừng cây, tuy không to lớn nhưng cũng đủ để che chắn nắng gió cho lính đảo. Hình ảnh lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất tuyệt đẹp của Tổ quốc nơi xa đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ y nguyên. Xúc động lắm”.

2. Ông Nguyễn Văn Đức kể: “Nhiệm vụ của chúng tôi là đo đạc, báo cáo về sở chỉ huy ở đất liền những tin tức ở Hoàng Sa mỗi ngày. Anh em khí tượng làm nhiệm vụ quan trắc và báo cáo tình hình thời tiết để phục vụ cho tàu bè lưu thông trong vùng. Trang bị vũ trang lúc ấy không nhiều, chỉ có hai khẩu đại liên 50mm nhưng anh em vẫn kiểm soát được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Tàu bè quốc tế ngang qua đều tôn trọng chủ quyền của chúng ta, và chúng ta cũng sẵn sàng hỗ trợ tàu bè khi gặp bão tố. Những lúc rảnh rỗi chúng tôi thường dùng canô đi qua các đảo lân cận để chơi vì cảnh quan ở đây rất hữu tình. Đảo Cát, đảo Chim, đảo Elbe, đảo Duncan, đảo Drumond… chúng tôi đều đã đặt chân đến”.

Tờ sự vụ lệnh quyết định điều chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa tháng 10-1969 trong đợt thay quân thứ 38 của quân đội chính quyền Sài Gòn tại Hoàng Sa – Ảnh: Thế Anh

Trầm ngâm nhớ lại những ngày tháng gắn bó với mảnh đất xa xôi của Tổ quốc, cựu chuẩn úy Nguyễn Văn Đức kể tiếp: “Khi thủy triều xuống, cả rạn san hô hiện lên tuyệt đẹp như một rừng hoa biển. Mỗi khi nhớ đất liền, anh em lại lấy vài cành san hô bỏ vô chậu, bắt vài con cá nhỏ ngồi ngắm nghía bên tách cà phê đen. Có sống ở đảo mới thấy nhớ đất liền, yêu quê cha đất tổ. Thời tiết ở đây khá ôn hòa nhưng gió mạnh lắm, nhiều khi anh em bị gió đẩy ngã sóng soài. Tuy vất vả, thiếu thốn nhưng anh em thấy vui và hãnh diện khi được trấn giữ biển đảo quê nhà”.

Ông nói có hai di tích ở đảo Hoàng Sa ông không thể nào quên. Đó là cái miếu nhỏ ở góc đảo mà anh em lính đảo vẫn thường ra đó để tìm chút an bình giữa sóng gió.

Ông kể: “Mỗi khi sóng to gió lớn hay thấy lòng bất an, anh em chúng tôi thường tìm đến ngôi miếu. Lạ lắm, chỉ cần ngửi thấy mùi nhang khói là cảm giác ở xa đất liền như được gần lại. Hơn nữa, mùi nhang khói như gợi lên những tiềm thức về quê cha đất tổ, nhớ về nguồn cội. Đó là những điều cần thiết để những người con đất Việt như chúng tôi yên lòng nơi đầu sóng ngọn gió giữ gìn biển đảo của cha ông để lại. Cạnh đó là một nghĩa trang có hơn 30 ngôi mộ là hài cốt của những chiến sĩ người Việt ngã xuống vì bệnh tật nơi đảo xa, là nắm xương của những người con Việt đã nằm xuống sau những lần đụng độ với âm mưu xâm lược của ngoại bang.

Ở đó còn có cả hài cốt của những ngư dân từ miền Trung, miền Bắc gặp nạn trên đường mưu sinh. Và cũng có cả những nắm xương của lính nước ngoài bị chúng ta hạ gục khi âm mưu đánh chiếm đảo. Có một điều là chúng tôi không phân biệt địch ta khi họ đã ngã xuống, mỗi ngày rằm hay cuối tháng chúng tôi đều thắp nhang lên những nấm mồ hoang. Có lẽ đó là một nét đặc biệt của người Việt mình, là một hành xử đầy tính nhân văn, “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn” mà mỗi người Việt chúng ta còn lưu giữ được từ dòng máu Lạc Hồng!”.

3. Ngày 19-1-1974, ngày quân Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa – một phần máu xương của Tổ quốc VN, là ngày ông Đức cảm thấy đau đớn nhất trong cuộc đời mình. Ông xúc động kể lại: “Khi hay tin Hoàng Sa bị quân Trung Quốc tước đoạt bằng vũ lực, tôi đau đớn đến mức nước mắt không thể chảy được, lòng dạ như ai xát muối. Tôi biết ngoài kia những đứa con của đất Việt sẽ phải đổ máu vì quê hương. Tôi đau vì một mảnh đất tuyệt đẹp và giàu có của nước nhà đã bị ngoại bang vô cớ cướp đoạt. Đó là nỗi đau của một người con đất Việt!”.

Là một người từng học và hiểu biết về luật quốc tế, ngay trong ngày Hoàng Sa bị chiếm đó ông đã âm thầm lục tìm lại những tài liệu liên quan, gói ghém cẩn thận nhằm làm bằng chứng chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa. Đó là tờ sự vụ lệnh đã nhàu nát và úa vàng vì thời gian.

35 năm sau, ông Đức quyết định liên hệ với chính quyền và báo Tuổi Trẻ để cung cấp những bằng chứng quý báu đó. Có lẽ những ai quen biết ông đều không mấy khó hiểu về hành động yêu nước của ông khi biết trong ngày 30-4-1975, ông đã từng xuống tàu để rời Việt Nam, nhưng trong một tích tắc của thời khắc lịch sử ông đã nhảy lại lên bờ, bởi ông biết không nơi đâu bằng quê hương.

Ông Đức lần giở lại tờ sự vụ lệnh năm nào rồi nói: “Chừng nào Hoàng Sa vẫn còn trong tay ngoại bang thì niềm vui vẫn chưa thể gọi là trọn vẹn được. Tôi sợ rằng lớp trẻ sẽ quên mất Hoàng Sa, sẽ quên mất một phần máu thịt của Tổ quốc, sẽ quên mất rằng có rất nhiều người con của đất Việt đã ngã xuống vì Hoàng Sa trong ngày đáng nhớ 19-1-1974”. Có lẽ đó không chỉ là điều trăn trở của riêng ông.

Kỳ 2: Biển động

——————————————————————————–

Khi tôi (1) ghi lại những dòng hồi ký này, sự việc đã xảy ra 35 năm (1974 – 2009). Đã 35 năm trôi qua, những gì tận mắt tôi đã chứng kiến, những gì tôi đã trực tiếp tham gia trong trận hải chiến với hải quân Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974 vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi.

Lúc bấy giờ tôi là thượng sĩ giám lộ (giám sát lộ trình – hàng hải) trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (chiến hạm tối tân nhất của hải quân Sài Gòn thời bấy giờ) với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng ngành giám lộ, kiêm hạ sĩ quan phụ tá trưởng khối hành quân.

Với chức danh đó, lúc nào (trong nhiệm sở tác chiến hay hải hành) tôi đều phải có mặt thường xuyên trên đài chỉ huy, thường xuyên bên hạm trưởng Vũ Hữu San (trung tá hải quân). Nhiệm vụ của anh em chúng tôi là ghi lại nhật ký tác chiến, nhật ký hàng hải, xác định vị trí của chiến hạm, đồng thời nhận và chuyển những tài liệu bằng đèn và cờ.

Hôm ấy, ngày 16-1-1974, gió mùa đông bắc thổi mạnh trên biển Đông. Biển động mạnh. Chiến hạm chúng tôi đang tuần tiễu vùng biển Quảng Ngãi từ Sa Huỳnh đến cù lao Ré (đảo Lý Sơn). Đây đã là ngày thứ 14 lênh đênh trên biển. Chỉ còn một ngày nữa chiến hạm sẽ được về Đà Nẵng nghỉ bến, anh em thủy thủ đoàn rộn ràng nghĩ đến ngày được vào đất liền.

Chưa kịp dùng cơm trưa thì từ trung tâm truyền tin đưa lên đài chỉ huy một công điện thượng khẩn: lệnh cho tàu về ngay Đà Nẵng. 17 giờ tàu về đến quân cảng Đà Nẵng (cảng Tiên Sa). Hạm trưởng San và đại úy Diên – trưởng khối hành quân, được lệnh lên họp khẩn cấp ở trung tâm hành quân Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải. Từ trung tâm hành quân, hạm trưởng điện về tàu lệnh cho ban ẩm thực lên bờ đi chợ (tiếp tế lương thực).

20 giờ hạm trưởng San về tàu. Lệnh cấm trại 100% được ban ra. Ban cơ khí chuẩn bị bắt ống để nhận dầu và nước ngọt. Đến 21g, hai chiếc xe GMC chở một trung đội với đầy đủ vũ khí đạn dược xuất hiện. Lần đầu tiên trước mắt tôi được chứng kiến một toán quân mặc quân phục lạ lùng. Sau một hồi dọ hỏi tôi mới biết đây là lực lượng biệt hải. Tôi được lệnh từ đại úy Diên chuẩn bị hải đồ đi Hoàng Sa. 23g, tàu khẩn cấp rời cảng Tiên Sa trực chỉ Hoàng Sa. Tôi cảm giác có một chuyện gì lớn lao sắp xảy ra.

Ngày N+1

11g30 ngày 17-1, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó ngày 16-1, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 do hải quân trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng cũng đã có mặt tại Hoàng Sa.

HQ-4 tiến gần đảo Vĩnh Lạc. Còi tác chiến vang lên, tất cả thủy thủ đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu. 14 giờ, trung đội biệt hải được lệnh rời tàu trên ba xuồng cao su, 20 phút sau trung đội biệt hải đã đổ bộ lên rìa đảo an toàn và nhận lệnh tiến sâu vào đảo lục soát.

Báo cáo từ đoàn quân gửi về: không phát hiện gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp, không có bia, chỉ có cọc gỗ và bảng gỗ đóng trước đầu mộ ghi bằng chữ Trung Quốc với ngày sinh và ngày chết hàng mấy chục năm về trước.

Các chiến sĩ biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ giả lên, hóa ra chẳng thấy xương cốt gì cả. Đây là những nấm mộ ngụy tạo mà ai đó đã dựng lên để chứng tỏ có người Trung Quốc đã sống và chết trên đảo mà thôi. 16g30, lực lượng biệt hải được lệnh rút về tàu.

Đến buổi chiều, phòng chiến báo theo dõi qua hệ thống rađa tầm xa đã phát hiện hai mục tiêu trên biển đang di chuyển đến quần đảo Hoàng Sa. Từ nóc đài chỉ huy, các bộ phận quan sát bằng ống nhòm đã nhìn thấy hai tàu chiến lạ. Trung tâm chiến báo được lệnh theo dõi và báo cáo thường xuyên mọi hoạt động, hướng đi, khoảng cách của hai tàu trên.

Đêm 17 rạng 18-1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Phía Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. Tàu HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh cáo: Đây là lãnh hải của Việt Nam. Yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay! Phía Trung Quốc đáp trả, cho rằng Hoàng Sa là của họ.

Ngày N+2

Sáng 18-1, chiến hạm HQ-4 của chúng tôi tiến về đảo Cam Tuyền. Lúc 8g, trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ lên đảo. Sau khi lục soát chỉ phát hiện những nấm mộ mới đắp không hài cốt y như ở đảo Vĩnh Lạc.

Đến 11g, đài khí tượng và quân đồn trú đảo Hoàng Sa báo cáo có hai tàu đánh cá vũ trang mang cờ Trung Quốc xâm nhập và tiến gần đến đảo Hoàng Sa, tàu HQ 4 và HQ 16 được lệnh tiến về đảo Hoàng Sa. Khi tiến đến gần tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc, tàu HQ-4 dùng tín hiệu cảnh cáo và đuổi đi nhưng cả hai tàu Trung Quốc cố tình khiêu khích.

Tàu HQ-4 tiến thẳng đến một tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc. Trên tàu có khoảng 30 thuyền viên mặc đồng phục màu xanh dương đậm. Tàu được trang bị hai thượng liên (một đằng trước mũi và một đằng sau lái tàu), ngoài ra có rất nhiều súng AK 47. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá Trung Quốc để xua đuổi.

Hai bên đánh nhau bằng… võ mồm. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 lùi ra dùng mũi tàu ủi thẳng vào tàu Trung Quốc, mũi tàu HQ-4 và neo mũi vướng vào cửa và hành lang phòng lái làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái của tàu Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của hải quân VN, họ vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt xua đuổi tàu đánh cá vũ trang còn lại.

Cũng trong sáng 18-1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 do trung tá hải quân Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng được lệnh tăng cường ra Hoàng Sa. Cùng đi trên HQ-5 có đại tá Hà Văn Ngạc, được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Ngoài ra, đi theo tàu có một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của hải quân).

Lúc 15g30 chiều 18-1, lệnh đại tá Ngạc cho ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Duy Mộng. Khoảng 16g, có hai tàu chiến Trung Quốc bắt đầu khiêu khích, cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16. Đội hình bị chia cắt không thể tiến lên được vì các tàu rất gần nhau, các khẩu đại bác sẵn sàng nhả đạn nhưng không ai được lệnh nổ súng.

Đêm 18 rạng ngày 19-1, tàu chiến và tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc vẫn tiếp tục khiêu khích, tiến đến gần đảo Hoàng Sa. Chiến hạm HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Tình hình dịu hơn khi tàu Trung Quốc rút lui về hướng bắc.

Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do thiếu tá hải quân Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng đã ra chi viện cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa.

Kỳ 3: Tử chiến

HOÀNG SA LÀ TRÁI TIM TA,
TRƯỜNG SA LÀ MÁU CON NHÀ RỒNG TIÊN.

Quả là không sai nhưng đã quá muộn vì lầm lổi của Hồ chí Minh( Gian) và đảng Công Sản Việt Nam (ĐCSVN).
Lịch sử ngàn năm trước Trung Quốc(TQ) thống trị Việt Nam(VN) nhưng thời gian một ngàn năm nhiều lần thống trị đồng hóa thất bại cuối cùng VN dành lại chủ quyền qua các thời đại quân chủ nước ta, từ khi chủ nghỉa bành trướng của các nước phương Tây đi về phương đông trao đổi mậu dịch và truyền bá tôn giáo để thăm dò thực lực và sẵn lòng can thiệp vào vương quyền các nước phương đông để thủ lợi, các nước Ấn, Nhật, Đại Hàn, Trung Hoa đều chịu tràn ngập bởi khói súng Tây phương, VN chẳng may bị quân Tây Dương bảo hộ và cai trị lũng đoạn hoàng triều nhà Nguyển . Sau trận chiến Thanh-Pháp, hoàng triều cương thổ, lảnh hải Việt Nam rộng lớn có đảo Hoàng Sa, Trường Sa và biên giới phía bắc xa hơn lằng ranh bây giờ. HCM mượn thế lực ngoại bang cộng sản vận động lòng yêu nước của toàn dân ba miền dành độc lập, thế lực lớn mạnh thì áp lực của ngoại bang cũng mạnh theo và ” lòng tốt” của TQ giúp VN không ngoài hậu ý lấy đảo HS , TS và lấn thêm biên giới cùng lảnh hải.
Nếu như không có HCM và ĐCSVN thì có thể sẽ có một chính phủ Quốc Gia tôn trọng hoàng triếu nhà Nguyển và trị dân với thể chế Tự Do Dân Chủ như Thái Lan, Hòa Lan, Nhật Bản hay Anh Quốc mà không phải tốn núi xương sông máu như HCM đã gây ra cho nước VN chúng ta. Trung Hoàng viết không sai. HCM và ĐCSVN chiếm lỉnh quyền bính bằng mọi thủ đoạn lừa bịp những người yêu nước với bánh vẽ ” Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ” nhưng thực tế đảng trị độc tài cho đến nổi viết một bài phản khán chuyện HS và TS cũng bị công an du côn hành hung và bắt giam, báo điện tử Tuổi Trẻ rồi ra sẽ có người lôi thôi to với công an về bài báo đăng tải vụ đảo bị TQ chiếm đóng. Thấy ra không có “công” chỉ có tội bán nước buôn dân làm nô lệ nhục nhả tổ tiên ấy thế mà kẻ tội đồ phản bội dân, lừa bịp người ái quốc, phạm trọng tội giết người được đảng cướp lập lăng miếu thờ tốn kém ngân quỷ bảo trì và còn lấy tên kẻ đại gian ác thay tên thành phố Sàigòn thật là một quốc nhục mà cả thế giới đều biết. Như vậy những ai thấy điều sai trái không lên tiếng chống đối nhất là ở hải ngoại không bị công an làm khó dễ như Trung Hoàng khuyên thì hóa ra là đồng lỏa với đảng trị độc tài ? Trung Hoàng hiểu hơn ai hết điều sai trái và sẽ phải làm gì? thay thế đảng CSVN và bạo quyền cai trị VN hiện nay bằng một chính phủ do dân bầu phiếu lương thiện, lúc ấy người dân VN hải ngoại sẽ tiếp tay xây dựng một VN bay cao và ra khơi như những con “rồng” Đại Hàn, Nhật Bản. Tiếc thay lập trường ba phải của Trung Hoàng không dứt khoát có thể di họa cho thế hệ con cháu tương lai hiểu sai ý mà cộng tác với bạo quyền VN. Nếu như người lảnh đạo có lương tính không vì quyền lực áp đảo của cường quốc ngoại bang mang chủ thuyết bất nhân cộng sản vô thần gây tang tóc máu lửa chết chóc cho quê hương và còn biết bao chữ Nếu ? Nhìn lại hiện thực Việt Nam sau hơn ba thập niên thống trị của bạo quyền cộng sản : Giáo dục thì thầy giáo hiệu trưởng tổ chức thi cử áp lực mua bán trinh tiết nữ học sinh, thanh thiếu niên sì ke ma túy SiDa lây lan vài trăm ngàn do bao che của công an địa phương, thanh niên bị ăn chặn tiền khi ra nước ngoài làm lao nô, con gái rêu rao gả bán rẻ mạt trên mạng khắp các nước á đông, thủ tướng công du nước ngoài lấy gái Việt làm mồi câu nhử khách đầu tư, văn hóa suy đồi, lòng yêu nước bị coi là phản quốc , chùa chiền thánh thất bị tịch biên các tu sĩ lên tiếng bị bắt kêu án tù , bị hành hung đánh đập do du côn công an xúi bẩy, quan chức tham nhũng bóc lột vàng đô la rủng rỉnh xe hơi nhà cao cửa rộng trong lúc dân chúng lầm than cơ hàn . . . một bạo quyền thối nát như thế Trung Hoàng khuyên đoàn kết không chống đối để duy trì ư ? Trân trọng chia xẻ quan điểm. Dân Miền Nam.

Sự độc quyền yêu nước cực đoan nầy đã gieo bao nhiêu tang thương cho các đoàn thể chính trị và tôn giáo ở miền Nam trong thời 45-54. Người CS luôn luôn nhân danh dân tộc, nhưng chính họ lại là thành phần giết người dân tộc trong miền Nam một cách tàn bạo dã man. Mượn danh nghiã dân tộc để giết người dân tộc không CS, là thủ đoạn đê tiện tồi tệ nhất cuả người CS trước lịch sử cận đại vưà qua.

Hãy nhìn lại cuộc thảm sát tập thể ở Huế trong cuộc tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân cuả người CS, cho đến ngày hôm nay, họ chưa có một thái độ tự kiểm điểm hành động phi nhân ác độc cuả họ đối với người dân Huế, chỉ vì họ muốn bảo vệ cũng như đã bị thất bại trong cuộc chiến nầy, những viên đạn hờn câm cuả họ đã trút vào đầu cuả những người dân vô tội, thậm chí cho đến những bà mẹ đáng thương đang trong thời bụng mang dạ chưả.

Với người CS, lịnh sử dân tộc Việt Nam trong thời gian qua, chỉ là lịch sử quang vinh sáng ngời cuả riêng đảng CS cuả họ mà thôi. Những người ngoài đảng CS cho dù có hy sinh xương máu vì đất nước và dân tộc nầy, cũng chỉ là những việc không cần đáng nói và thậm chí còn cho là hành vi phản động chống nhà nước và chống lại dân tộc. Một cách nói lấy được mà không bao giờ họ biết ngượng miệng.

Hỡi các đảng viên CS còn lương tân con người cũng như nhiệt huyết yêu dân mến nước, các bạn có bao giờ suy nghĩ chính những viên đạn cuả các bạn được đảng trao cho, đang bắn vào đầu những nguời con dân Việt yêu nước, luôn ray rức và bức xúc trước sự bành trướng lấn dần biên cương lảnh hải cha ông ta cuả kẻ bá quyền phương Bắc. Kẻ đã cưởng chiếm Hoàng Sa và đoạt trên tay các bạn một số đảo ở Trường Sa thân yêu chúng ta. Trong khi đảng lảnh đạo cầm quyền VN hiện nay không dám lên tiếng và cũng muốn cho tất cả người dân Việt chúng ta phải câm lặng chấp nhận sự cưởng chiếm và lấn dần cuả Trung Quốc. Chỉ vì cấp lảnh đạo ĐCS không muốn làm Bắc Kinh phiền lòng để họ được an toàn cai trị và an hưởng danh lợi mặc cho đất nước còn mất thế nào cũng chẳng quan tâm.

Sự tin tưởng cuả người dân Việt đối với ĐCSVN đã hoàn toàn mờ nhạt, khi mà chính họ muốn bịt miệng giam cầm bắt bớ những người muốn gióng lên những tiếng chuông cảnh báo đại hoạ bành trướng bá quyền Bắc Kinh ngày một tỏ rỏ. Chính cái XHCN anh em giưả Việt-Trung là cánh cưả dẩn vào đất nước những tai hoạ mất đất mất biển cuả ngày hôm nay. Nếu cứ khư khư ôm lấy cái chủ nghiã nầy làm kim chỉ nam, thì dù muốn hay không ta phải núp mãi dưới cái bóng vĩ đại Trung Quốc, điều đó nó sẽ có nghiã là đồng nghiã với sự chấp nhận đồng hoá thống thuộc cuả đất nước ta đối với Trung Quốc, nó chỉ còn là việc sẽ xảy ra theo thời gian chậm hay mau mà thôi.

Đó quả thật là một nguy cơ thực sự trước mắt cho cả dân tộc, các bạn không thể chần chờ đắn đo suy nghĩ, sự chần chờ cuả các bạn sẽ là thời gian cơ hội tốt cho kẻ bá quyền lấn dần nước ta về mọi mặt, dân tộc ta sẽ gặp thêm nhiều khó khăn hơn nưã trong sự ngăn chận và chống lại làn sóng bành trướng ngày một dâng cao. Mong các bạn thận trọng suy ngẫm điều lợi việc hại, mà có thái độ hành động dứt khoát nhanh chóng cần thiết trong giai đoạn nầy.

Kỳ 4: Hải chiến 30 phút và nỗi đau 30 năm

Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ chuyển đi từ soái hạm HQ-5, các chiến hạm VN đồng loạt khai hỏa vào mục tiêu được chỉ định là các chiến hạm địch đối đầu. Các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly tác xạ rất chính xác và hiệu quả vì có nhịp bắn nhanh và mục tiêu lớn lại nằm trong tầm tác xạ hữu hiệu. Các khẩu đại bác 76 ly trên Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư tác xạ cũng rất chính xác nhưng nhịp bắn không được nhanh vì hệ thống radar kiểm xạ viễn khiển bị hỏng từ lâu. Những giàn đại pháo 127 ly trên các Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Lý Thường Kiệt có nhịp bắn chậm hơn trong lúc các chiến hạm đôi bên vận chuyển với vận tốc cao nên rất khó nhắm vào mục tiêu.

Với chiến thuật “tốc chiến, tốc thắng”, các chiến hạm VN chiếm được thế thượng phong vì bắn trước với cỡ súng lớn hơn. Các tàu Trung Quốc bị thiệt hại nhiều trong những phút đầu tiên này nhưng cũng chống trả mãnh liệt.

Trên Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 thuộc phân đội Bắc, lệnh tác xạ của Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Lê Văn Thự, được đáp ứng ngay bằng quả đạn đầu tiên của khẩu đại pháo 127 ly do Trung Úy Ðoàn Viết Ất làm trưởng khẩu. Sau đó, các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly từ trước mũi đến sau lái thi nhau bắn vào tàu địch. Giống như như HQ-5, vũ khí chính của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt là khẩu đại pháo 127 ly (5 inch) đặt tại sân trước. Cũng ở sân trước, đàng sau của khẩu đại pháo là giàn đại bác 40 ly đôi (2 nòng) nằm một tầng cao hơn ngay dưới đài chỉ huy. Hai bên hông đài chỉ huy là các khẩu đại bác 20 ly đôi (2 nòng). Tại sân sau có các khẩu đại bác 40 ly đơn, một bên tả hạm, một bên hữu hạm.

Sau đây là lời tường thuật của của một nhân chứng, sĩ quan hải hành Đào Dân ,có mặt trên đài chỉ huy HQ-16 trong lúc xảy ra trận hải chiến:

“Cả chiến hạm như bị giật lùi vì tiếng khai hỏa của đại pháo 127 ly. Những người trên đài chỉ huy chú tâm đến nỗi ai cũng có cảm tưởng mình nhìn thấy được đường đi của viên đại bác dầu tiên. Rồi tiếng nổ dồn dập của khẩu đại bác 40 ly đôi trước mũi và khẩu 40 ly đơn sau lái hữu hạm, cùng với tiếng nổ liên hồi của đại bác 20 ly làm thành một hòa âm khó tả. Khói thuốc súng từ trước mũi, sau lái, boong trên phía sau và ngay đài chỉ huy phía dưới bay lên làm mờ cả một vùng trời trên chiến hạm … Từ lỗ tròn của ổ đại bác 127 ly trước mũi, Trung Úy Ất đã đứng hẳn người lên, nhô cả thân mình lên trên ụ súng để tận mắt chứng kiến kết quả của những viên đạn đang nổ, điều chỉnh những sai sót. Tiếng oang oang thường ngày của Ất được dịp phát ra từ đó mà ở đài chỉ huy chúng tôi còn nghe được. “Lên hai độ”, “xuống một độ”, “bên phải”, “bên trái một chút”. Cả đài chỉ huy cùng chăm chú theo dõi từng viên đại pháo phát nổ xung quanh tàu địch, bỗng ồ lên như ong vỡ tổ:” Trúng rồi!” Tôi nhìn lên, chếch về phía bên phải mũi tàu, một chiến hạm địch đang bốc khói. Có lẽ là khói của viên đạn nổ tung ngay đài chỉ huy vì sau đó, dường như hoạt động của tàu này có phần chậm lại”.

Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 là một thành phần của phân đội Bắc dưới quyền điều động của HQ-16. Trong lúc hải chiến, HQ-10 nằm chếch về hướng Nam, cách HQ-16 chừng 1 hải lý. Vì là một tàu loại rà mìn được biến cải, nên chiến hạm HQ-10 chậm và nhỏ nhất trong số các đơn vị VN tham chiến. Ngoài ra, ngay từ khi gia nhập Hải Đội Hoàng Sa, tình trạng kỹ thuật của HQ-10 đã không được khả quan vì chỉ còn một máy chánh, radar lại bị hư.

Trước đây, trên đường đi từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa vào ngày 18/1, soái hạm HQ-5 đã phải rời đội hình, bỏ HQ-10 lại phía sau vì chạy quá chậm. Tuy cần đi trước cho kịp giờ hẹn với các chiến hạm bạn tại Hoàng Sa, HQ-5 vẫn dùng radar của mình để hướng dẫn HQ-10 hải hành trong đêm. Vũ khí chính của HQ-10 là khẩu trọng pháo 76.2 ly đặt tại sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn tại sân giữa và 4 đại bác 20 ly đặt hai bên hông đài chỉ huy và sân sau.

Theo kế hoạch lúc ban đầu, phân đội Bắc có nhiệm vụ yểm trợ hải pháo để phân đội Nam đổ quân chiếm đảo Quang Hòa. Nhưng sau khi cuộc đổ bộ bất thành vì quân Trung Quốc trên đảo quá đông và tàu yểm trợ của chúng cũng rất nhiều – tổng cộng 11 chiếc đủ loại – nên sau khi thảo luận kỹ càng, lực lượng VN quyết định tiêu diệt các chiến hạm địch trước. Đây là một quyết định rất sáng suốt vì nếu phá được đoàn tàu yểm trợ, địch quân trên đảo sẽ bị cô lập và sẽ bị đánh tan dễ dàng. Do đó, HQ-10 cũng được chỉ định một mục tiêu tác xạ, đó là chiếc tàu TQ mang số 396. Theo lời tường thuật của các nhân chứng, chỉ trong vòng 5 phút đầu, các khẩu hải pháo trên HQ-10 đã bắn tê liệt chiến hạm địch, phòng lái và hầm máy bị cháy khiến chiếc tàu này không còn điều khiển được nữa, cứ chạy vòng vòng làm mồi cho hỏa lực chính xác của HQ-10. Tuy nhiên, vì chỉ còn một máy, xoay trở rất khó khăn nên HQ-10 cũng bị trúng nhiều đạn địch. Hạm Trưởng, HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà bị tử trận, Hạm Phó là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí bị thương nặng. Sau khi bắn hạ tàu địch, cuối cùng Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo cũng bị hy-sinh. Một số nhân viên xuống được bè thoát được, mang theo vị Hạm Phó, nhưng chẳng bao lâu, viên Đại Úy hạm phó cũng đền nợ nước vì bị mất máu quá nhiều.

Chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 đã bị quân TQ bắn chìm. Cả hạm trưởng và hạm phó đều hy sinh

Trong số các tàu VN tham chiến, có lẽ chỉ Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 mới xứng đáng mang danh “chiến hạm”. Trong khi các chiến hạm khác tuy được gọi là Tuần Dương Hạm hay Hộ Tống Hạm, nhưng thật ra chỉ là loại tuần duyên (Coast Guard) hay tàu rà mìn của Hoa Kỳ. HQ-4 nguyên là một Khu Trục Hộ Tống Hạm được trang bị radar phòng không tối tân (DER – Destroyer Escort Radar). Vũ khí chính là hai giàn đại pháo 76.2 ly có radar kiểm xạ (radar control) với khả năng tự dò tìm góc độ và tầm xa để “khóa chặt” (lock on) mục tiêu. HQ-4 dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiệm của Hạm Trưởng Vũ Hữu San đã bắn hạ dễ dàng các chiến hạm Trung Quốc. Nhưng rất tiếc, vào thời điểm năm 1974 khi cuộc chiến tại Việt Nam gần tàn, khả năng tác chiến của HQ-4 đã giảm sút nhiều mặc dù thủy thủ đoàn rất thiện chiến. Một điểm khá bất lợi nữa là HQ-4 ngoài hai khẩu 76.2 ly, không có đại bác 40 ly bắn nhanh. Trong một trận hải chiến khi mục tiêu chỉ các trên dưới một hải lý, một dàn 40 ly bắn nhanh sẽ có lợi thế hơn một khẩu 76.2 ly bắn chậm.

Nhưng dù với những bất lợi nói trên, dưới quyền chỉ huy sáng suốt, kinh nghiệm của Hạm Trưởng Vũ Hữu San cùng sự quả cảm, gan dạ của thủy thủ đoàn, HQ-4 đã xứng đáng mang danh Khu Trục Hạm. Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ vào tàu địch, hai khẩu đại bác 76.2 ly đã chuẩn-bị từ lâu, khai hỏa chính xác trúng ngay tàu địch lúc đó nằm trong khoảng cách 1,600 yards. Chỉ trong vòng vài phút đầu, chiếc Kronstadt 271 là soái hạm của hải đội TQ đã bị bắn cháy không còn khả năng tác chiến. Nhưng cũng như những chiến hạm đồng đội khác, HQ-4 là một mục tiêu khá lớn cho tàu địch nên cũng bị trúng nhiều vết đạn. Tuy-nhiên các máy móc chính, nhất là hệ thống truyền tin vẫn trong tình trạng khiển dụng tốt.

Trên soái hạm HQ-5, khi lệnh tác chiến được ban hành, các ổ súng nổ dòn dã hướng về tàu địch. Trong lúc tác chiến, Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, lo việc di chuyển chiến hạm để vào vị trí tác xạ hữu hiệu nhất cũng như để tránh các vùng san hô, đá ngầm nguy hiểm trong khi Hạm Phó và Sĩ Quan Hải Pháo lo việc chỉ huy tác chiến. Mục tiêu của HQ-5 là chiếc Kronstadt mang số 274 . Mặc dầu 274 chống trả mãnh liệt nhưng bị hư hại nặng vì trúng nhiều đạn 40 ly và 20 ly nên bị loại ra khỏi vòng chiến. Để dễ bề lẩn tránh, tàu địch phun ra một màn khói ngụy trang khiến HQ-5 khó nhận biết chính xác mục tiêu. Tuy nhiên, bị trúng đạn quá nặng, chiếc Kronstadt này bắt buộc phải ủi vô bờ san hô phía Nam đảo Quang Hòa để tránh bị chìm.

Tuy đã loại được đối thủ, nhưng tình trạng tác chiến của HQ-5 cũng không mấy khả quan. Tới khoảng 10 giờ 50 sáng tức là vào phút thứ 25 của trận chiến, tất cả các ổ súng lớn trên chiến hạm đều bị trở ngại tác xạ không bắn được, ngoại trừ khẩu đại bác 40 ly bên tả hạm do Thượng Sĩ Tài làm trưởng khẩu. Như vậy, nguyên hông phải của chiến hạm không còn trọng pháo để bảo vệ. Nguy hiểm hơn nữa, các chiến hạm còn lại của TQ tập trung lực lượng nhắm vào HQ-5 như để trả thù cho đồng bọn. Tuy bị bao vây và bắt đầu bị trúng nhiều đạn địch, khẩu đại bác 40 ly độc nhất còn lại phản pháo ác liệt khiến địch phải chùn lại. Trung Tá San cho biết cũng trong lúc đó, các chiến hạm VN quan sát thấy có bốn lượng sóng lớn trắng xóa đang tiến tới từ hướng Đông Bắc với vận tốc rất nhanh và có tin các phi tiễn đĩnh loại Komar của địch đang trên đường đến tiếp viện.

Trước tình thế bất lợi, vả lại các chiến hạm chính của địch tham chiến cũng đã bị hư hại, Đại Tá Hà Văn Ngạc đã ra lệnh cho các chiến hạm VN rời vùng giao tranh để bảo toàn lực lượng.

Khi rời khỏi vùng giao tranh vào khoảng 11 giờ sáng ngày 19/1, hải đội VN cũng chia làm hai cánh. HQ-16 vì hoạt động ở khu phía Bắc và đã bị thiệt hại khá nặng có nguy cơ bị chìm nên đã đổi đường ngược lên phía Bắc, hướng về đảo Hoàng Sa rồi sau đó di chuyển về hướng Tây nhắm về Đà Nẵng. Trong khi đó phân đội Nam gồm HQ-4 và HQ-5 hải hành về hướng Đông Nam. Phía TQ cũng không còn sức để đuổi theo.

Khoảng ba tiếng đồng hồ sau, vào lúc 2 giờ 15 phút, phân đội Nam gồm HQ-4 và HQ-5 nhận được lệnh của Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải quân VN lúc đó có mặt tại Ðà Nẵng. Ông yêu cầu tất cả các chiến binh phải quay trở lại cố thủ tại Hoàng Sa. Các chiến hạm liền đổi đường về hướng Tây Bắc trở lại vùng đã xảy ra trận hải chiến hồi sáng. Nhưng khi gần tới Hoàng Sa, vào lúc 5 giờ 20 chiều, lệnh cố thủ được hủy bỏ, phân đội Nam được lệnh trở về Đà Nẵng. Về lệnh “cố thủ” này, Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 nhớ lại:

“Sau Hoàng Sa 24 năm, chúng tôi còn sống và vẫn đi tìm trong mấy chục triệu sách thư viện nhưng cho đến nay, đã không thể nào tìm thấy được cái lý tưởng nào cao xa hơn được biểu lộ qua hình ảnh Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 và Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 tuân hành quân lệnh chuẩn bị lên cạn phơi xác mình. Quân lịnh như núi! Lịnh này đúng hay sai cũng là lệnh! Đến chiều tối, lệnh hải hành rời bỏ Hoàng Sa mới được ban ra và chúng tôi các chiến hạm mang đầy vết thương vẫn còn đang rỉ máu, được về Đà Nẵng để lo mai táng cho các bạn đã hy sinh, đưa đồng đội bị thương vào quân y viện và sửa chữa chiến hạm . . .”.

Còn Ðề Ðốc Trần Văn Chơn cho biết về lệnh “quay trở lại Hoàng Sa” như sau: “Vì sau trận hải chiến, hệ thống truyền tin của các chiến hạm không được toàn hảo nên tôi không biết rõ tình hình tại Hoàng Sa do đó đã ra lệnh cho các chiến hạm trở lại để bảo vệ lãnh thổ. Khi hệ thống truyền tin được sửa chữa xong, tôi biết rõ hơn về tình trạng các chiến hạm nên đã ra lệnh trở về Ðà Nẵng.”

Đến ngày 20 tháng 1, các chiến hạm HQ/VNCH về tới Đà Nẵng. HQ-4 và HQ-5 cập cầu Thống Nhất tại bến thương cảng hối 7 giờ 30 sáng. Riêng Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 được Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-6 hộ tống cập cầu Tiên Sa thuộc BTL/V1DH vào lúc 10 giờ sáng.

Thiệt hại về phía VN: 1 chiến hạm bị chìm và 3 chiếc khác bị hư hại. Nhiều binh sĩ tử thương và bị thương .

Ngoài ra, còn một số binh sĩ và nhân viên dân chính bị bắt giữ vào ngày 20/1/74 khi phi cơ và chiến hạm Trung Quốc oanh, pháo kích rồi cho quân đổ bộ lên các đảo. Nhóm tù binh này gồm 14 nhân viên thuộc HQ-4 được đổ bộ lên đảo Cam Tuyền vào khoảng 10 giờ sáng ngày 18/1 và 34 binh sĩ Địa Phương Quân cùng nhân viên khí tượng, trong số này có một nhân viên dân chính Hoa Kỳ tên Gerald Emil Kosh. Những người bị bắt bị đưa về đảo Hải Nam vào ngày 21/1 và sau cùng bì giam tại nhà lao Thu Dung thuộc tỉnh Quảng Châu. Năm thương bệnh binh được trao trả vào ngày 31/1 tại cầu Shumchum là ranh giới giữa Hồng Kông và tỉnh Quảng Đông. Sau 27 ngày bị giam giữ, trước sự đòi hỏi hợp lý của VN và dưới áp lực của giới ngoại giao cũng như hội Hồng Thập Tự quốc tế, Trung Quốc đã phải phóng thích toàn bộ số 43 tù binh còn lại.

Trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa giữa Hải quân quân đội Saigon và Hải quân Trung Quốc diễn ra trong vòng 30 phút, một thời gian tương đối ngắn ngủi, nhưng hậu quả còn kéo dài cho tới ngày nay.

Sau khi chiếm được Hoàng Sa, lực lượng TQ tiến sâu hơn về phía Nam, chiếm thêm một số đảo thuộc vùng Trường Sa. Hiện nay, các đảo tại Hoàng Sa đã được xây dựng thành những căn cứ quân sự quan trọng, có phi trường và cầu tàu khá tối tân. Ngoài ra, TQ cũng đã có quân đồn trú thường trực và xây cất công sự phòng thủ rất kiên cố trên nhiều hải đảo khác tại Biển Ðông. Tham vọng của Trung Quốc còn biểu lộ trắng trợn hơn khi họ đơn phương vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền hầu như trọn Biển Ðông, có nơi chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý.

Mất quần đảo Hòang Sa và những đảo khác ở Trường Sa, chúng ta mất những tiền đồn quan trọng của quốc gia, mất những mỏ dầu vào tay gã khổng lồ đang khát dầu, và đặc biệt, chúng ta mất những nơi che chở an tòan cho ngư dân khốn khổ của chúng ta vào mùa giông bão. Nhưng chúng ta luôn nhớ Hòang Sa và quần đảo thân yêu ấy mãi mãi là của chúng ta. Những người đi trước đã đổ máu vì mảnh đất này, do vậy, hỡi các bạn trẻ, đừng bao giờ quên điều đó ! Nơi ấy là Tổ quốc chúng ta!

Nguồn: Blog Bùi Thanh.

Báo chí lề bên trái: Màn trình diễn ngoạn mục chưa từng có

——————————————————————————–

Kami, X-cafevn

Chúng ta ai cũng biết trong một chế độ do những kẻ nhân danh cộng sản lãnh đạo như Việt nam hiện nay, phương tiện truyền thông dưới bất kỳ hình thức nào: báo viết, báo hình , báo nói v.v.. đều bị nhà nước độc quyền quản lý và sử dụng trong việc tuyên truyền theo đường lối của họ. Lý do chính của việc độc quyền thông tin này là những kẻ lãnh đạo của các quốc gia cộng sản họ muốn bưng bít thông tin, bưng bít sự thật. Họ sợ rằng nếu cho tự do tìm hiểu thông tin thì họ khó có thể lừa dối, chính vì vậy họ đã coi dân chúng chỉ là những cái máy không hơn không kém, vì họ cho rằng dân chúng của họ là một lũ ngu dốt, nói gì cũng tin.

Hiện tượng nó trên lâu dần đã trở thành một sự đương nhiên và là nguyên tắc của một xã hội cộng sản cai trị, khi mà người dân chỉ được phép nghe mà không được phép bầy tỏ ý kiến hay chính kiến của cá nhân mình, nếu những ý kiến hay suy nghĩ ấy không phù hợp với đường lối của đảng và chính quyền. Ngược lại những kẻ lên tiếng hay có các hành động phản ứng đều bị coi là hành vi chống đối và được quy tội chống đối chính sách chủ trương của đảng và nhà nước.

Trước kia, khi chưa có thông tin trên mạng internet, sự bưng bít thông tin vô cùng có hiệu quả. Người dân trong nước hầu như chỉ biết các thông tin theo một kênh duy nhất của nhà nước thông qua các tờ báo in, đài truyền hình , đài phát thanh do nhà nước thống nhất quản lý. Những tin tức trước khi được truyền tải tới người dân đã bị kiểm duyệt, lựa chọn hết sức khắt khe với mục đích phù hợp với chính sách của đảng và nhà nước nghĩa là có lợi cho sự cai trị của họ. Nhiều thông tin bị bóp méo 180 độ, nói trắng thành đen hay nói không thành có, bất kể thế nào người dân chỉ có một quyền duy nhất là nghe , xem và tin các thông tin đó là sự thật.

Ngày nay thông tin đến với người dân không chỉ còn nhà nước độc quyền như trước, nhất là từ khi cuộc cách mạng về tin học bùng nổ với hệ thống internet toàn cầu, người dân đặc biệt là những người có khả năng truy cập thông tin trên mạng đã nắm bắt kịp thời các thông tin về chính trị, xã hội …đầy đủ và đa chiều hơn. Ngoài ra họ có quyền nói lên các suy nghĩ của mình thông qua các mạng XH, các tờ báo trong và ngoài nước, các blog cá nhân bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, kể cả nhà nước Việt nam dùng tường lửa để chặn các trang mạng, các blog mà theo họ đã truyền tải các thông tin bất lợi cho chế độ dù cho các thông tin ấy là có thực 100%.

Kể từ đó, bức màn đen bưng bít thông tin của chính quyền đã bị xé toạc, các phương tiện truyền thông độc quyền của chính quyền hết khả năng tự tung tự tác, khả năng nói một mình, nói bưng bít đã bị vô hiệu hóa khi mà người dân đã có các tin tức khác để so sánh. Dần dần người dân đã hiểu ra rằng những điều báo chí của đảng nói hầu hết là không đúng sự thật, mức độ tin cậy rất thấp vì họ được chứng kiến qua các sự việc người thật việc thật như vụ Tòa Khâm sứ Hà nội, Giáo xứ Thái hà, hay các sự kiện liên quan đến vận mệnh đất nước liên quan đến cuộc sống của họ thông qua các sự kiện HS-TS hay gần đây nhất là vấn đề khai thác bauxite Tây nguyên.

Sự mất lòng tin vào báo chí của đảng được thể hiện rõ thông qua số lượng các tờ báo in ngày càng sụt giảm, một số tờ phải đình bản vì báo in ra không bán được. Điều này thể hiện rất rõ nếu so sánh trên các trang web, các blog giữa truyền thông lề bên phải và lề bên trái. Ví dụ:

Ngày 3/4/2006, khai trương trang tiếng Trung Quốc của báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, báo này khoe rằng: “Bình quân mỗi tháng, báo có trên dưới 25 triệu lượt người truy cập.” (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Ne…106&cn_id=1953). Trang mạng báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam được cấp giấy phép ngày 01/12/2005, tức có hơn 3 năm rưỡi hoạt động, nếu số lượng người truy cập không đổi, thì đến nay số lượng truy cập lên đến hơn 1 tỷ!!!

Nếu quả thực báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thu hút “đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước” như thế thì thật đáng mừng cho sự nghiệp tuyên giáo của Đảng, cho nền báo chí nước nhà.

Nhưng thực tế không phải như vậy, ngày hôm nay, 11 tháng 9, alexa.com – trang mạng chuyên xếp hạng các website trên thế giới – cho biết báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đứng thứ 116.901 trên thế giới. Còn bauxitevietnam.info, đến nay, sau chưa đầy 5 tháng, tuy chỉ có tổng số 6,5 triệu lượt người truy cập, nhưng đã chiếm vị trí thứ 54.235, cao gấp đôi báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam! (1).

Hay đau đớn hơn là một số tờ báo online của chính quyền có số lượng truy cập hàng ngày còn thấp hơn nhiều một số blog cá nhân lề bên trái, ví dụ như theo bảng xếp hạng ngày 29/8/2009 của Alexa.com thì trang anhbasam.wordpress.com này đang đứng thứ 358.795 trên toàn thế giới trong khi Đại Đoàn Kết thứ … 847.807(2). Hiện tượng này đã trở thành phổ biến vì người dân đã hiểu rằng, báo chí nhà nước với hơn 700 tờ báo dưới các dạng truyền hình, tiếng , báo giấy, báo online v.v.. nhưng đều có chung một tổng biên tập cho phép nói một giọng và một tin y như nhau nhưng cái quan trọng hơn là người dân đã cảm giác truyền thông nhà nước coi thường khả năng hiểu và phân tích của họ.

Gần đây nhất, sự hình thành và vai trò của báo chí lề bên trái với các trang website của một số nhóm người hay các blog cá nhân đã thể hiện rõ vai trò báo chí đối lập với chính quyền nhà nước qua các sự kiện “Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng lỡ lời” và đặc biệt sự kiện trang điện tử Đảng cộng sản VN mắc “sơ suất kỹ thuật” khi đăng tin hải quân Trung quốc tập trận trên hai quần đảo HS-TS của Việt nam,mà không đi kèm lời bình luận đã bị cho rằng đó là một hành động thừa nhận chủ quyền của Trung quốc trên hai quần đảo này.

Ngay sau khi được đăng, bài báo nói trên đã bị nhiều người phát hiện và đã gây phẫn nộ trong dư luận, trong bối cảnh mà một số nhà báo và blogger ở Việt Nam dám lên tiếng chỉ trích Trung Quốc thì lại bị chính quyền câu lưu, bắt giam như những kẻ tội phạm.

Điều làm cho độc giả bất bình đó là báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đưa bài báo đó lên, mà không hề có một bình luận nào kèm theo để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời họ đưa tin như thể hải quân Trung Quốc là hải quân ta.

Trước những phản ứng phẫn nộ của dư luận, ban biên tập trang điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lặng lẽ rút bài báo đó đi sau 4 ngày tồn tại, nhưng cũng không hề có một lời giải thích.(3)

Sự kiện này được đánh giá như là một màn trình diễn ngoạn mục chưa từng có của truyền thông Việt nam kể từ năm 1930 tới nay, khi mà vị GS nổi tiếng Nguyễn Huệ Chi đã lên tiếng ” Đòi cách chức lãnh đạo báo Đảng”(4), ông GS Nguyễn Huệ Chi đã gay gắt: “Đây là lỗi về chính trị và do đầu óc ngu muội của con người gây ra chứ sao lại đổ cho kỹ thuật…Nếu một trang phục vụ một đảng mà đảng ấy đang cầm quyền, đảng ấy tự nhận là mình gánh trách nhiệm bảo vệ đất nước thì một trang mà để xảy ra sơ suất như thế thì phải cách chức ông Tổng Biên tập, đấy là nhẹ nhất.”

Gay gắt nhưng rất dứt khoát, hành động này chỉ gặp ở một đất nước có đa nguyên về chính trị và tiếng nói đối lập được công nhận, nhưng ở Việt nam hôm nay, dầu chưa có đa nguyên , chưa chấp nhận tiếng nói đối lập nhưng báo chí lề bên trái đã làm tốt vai trò của mình.

Đó là một bước tiến dài và một thành công lớn của báo chí lề bên trái.

Mỗi ngày tiến thêm một bước, càng ngày chúng ta đã thấy rõ, lực lượng báo chí đối lập với chính quyền đã dần hình thành rõ nét, có sự liên kết và hoạt động có hiệu quả rõ rệt. Những ngày này khi vào các trang website lề bên trái trong và ngoài nước của các tổ chức và cá nhân ưa chuộng công lý và tôn trọng sự thật như bauxite.info, danluan.org, x-cafevn.org…hay các blog cá nhân của các nhà văn, nhà báo, các trí thức có tên tuổi như: Bùi Thanh Hiếu, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập v.v.. chúng ta có thể đọc được rất nhiều ý kiến đa chiều bày tỏ sự bức xúc và trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân trước vận mệnh của tổ quốc và dân tộc mình. Những ý kiến đó không ngoài với mong muốn chỉ ra cho đảng CSVN và các cấp chính quyền những sai phạm và khiếm khuyết trong việc chỉ đạo và điều hành đất nước của các quan chức và các cơ quan chính quyền. Đáng tiếc những cái đó báo chí của chính quyền đã không dám đề cập tới và không làm nổi.

Quy luật tự nhiên của sự phát triển của xã hội loài người là sự phản biện xã hội nhằm để tiến tới khắc phục các sai lầm, các tồn tại để thay thế bằng các biện pháp khác tiến bộ hơn, hiệu quả hơn. Bài học về sự tồn tại và phát triển của CNTB mà trước đây những người cộng sản luôn nói rằng nó “đang giãy chết” là do nó luôn luôn không ngừng tự điều chỉnh mình cho phù hợp với quy luật khách quan trong từng thời điểm mà kết quả là nó vẫn tồn tại và ngày càng phát triển, đó là hệ quả và tác dụng của tiếng nói phản biện đối lập mà trong xã hội tư bản họ rất coi trọng và tạo điều kiện cho các cá nhân lên tiếng.

Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, sự hình thành và phát triển của báo chí đối lập lề bên trái đã và đang phát huy tác dụng hiệu quả của nó. Thời gian gần đây các nhà văn , nhà báo, các trí thức…ưu tú họ đã dũng cảm, dám lên tiếng phản biện những thiếu sót hay sai làm của chính quyền với mục đích giúp cho đảng và chính quyền thấy sai để sửa, để khắc phục những tồn tại, dó chính là họ đang giúp chính quyền giải quyết các mâu thuẫn.

Tuy các tiếng nói phản biện này còn chưa nhiều nhưng nó là một tín hiệu đáng mừng của công cuộc cải cách để xây dựng một xã hội dân sự sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, người dân thực sự làm chủ vận mệnh đất nước và cá nhân của họ. Cái quan trọng hơn cả là tiếng nói đối lập phản biện xã hội đã buộc đảng CSVN và chính quyền bước đầu lắng nghe và tiếp thu, đó là một bước tiến khá xa.

Tiếp tục việc làm đó, chúng ta mỗi nhà báo, nhà văn, mỗi trí thức có trách nhiệm với dân tộc, hãy dũng cảm lên tiếng trước các phát biểu, các hành động của các vị lãnh đạo đảng và chính quyền chưa đúng và chưa tốt bằng các bài viết, bằng các ý kiến phản biện trên các trang website, blog cả lề bên phải và bên trái để thể hiện các suy nghĩ và quan điểm của cá nhân mình. Đó là những hành động thiết thực để xây dựng và phát triển hệ thống báo chí đối lập với đảng CSVN và chính quyền, và quan trọng hơn cả là tiếng nói cổ vũ cho phong trào đấu tranh vì dân chủ và xây dựng xã hội dân sự.

Đối lập hoàn toàn không có nghĩa là chống, mà ngược lại phải coi báo chí và tiếng nói đối lập là phương tiện không thể thiếu để kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nước và các cá nhân quan chức các cấp trong các hoạt động. Trong giai đoạn đảng CSVN chưa chính thức chấp nhận tiếng nói phản biện công khai hay nói cách khác là tiếng nói đối lập của các tổ chức và cá nhân khác, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục duy trì và phát triển hơn nữa trạng thái hiện tại, để chuẩn bị sẵn sàng để có thể lập tức làm vai trò chính thức khi tình thế thay đổi.

Nhìn lại quá khứ, nhất là trong vấn đề xây dựng một xã hội dân sự, báo chí lề bên trái tiếng nói phản biện đối lập đã đạt được những thành quả không nhỏ trong công cuộc đấu tranh vì dân chủ và xây dựng xã hội dân sự, đó là do sự đóng góp của mỗi cá nhân chúng ta,những người tôn trọng công lý và tự do.

Dùng đấu tranh bất bạo động để đòi hỏi xây dựng một xã hội dân sự, người dân thực sự làm chủ thì vai trò của truyền thông lề bên trái hết sức quan trọng để tuyên truyền và giải thích cho đông đảo quần chúng hiểu và ủng hộ. Xây dựng một xã hội dân chủ, tự do coi trọng luật pháp, mọi người bình đẳng trước pháp luật là quy luật tất yếu của xã hội loài người. Không có bất kỳ ai, bất kỳ thế lực nào có thể cưỡng lại được quy luật tất yếu đó.

Ngày đó tất sẽ đến, nhanh hay chậm một phần cũng phụ thuộc vào vai trò của báo chí truyền thông lề bên trái, báo chí đối lập. Hôm nay báo chí và truyền thông đối lập đã hình thành và bước đầu đã phát huy hiệu quả rõ rệt làm cho chính quyền phải quan tâm xem xét.

Mỗi chúng ta hãy cùng nhau đóng góp sức của mình có thể để làm cho báo chí lề bên trái, tiếng nói phản biện đối lập với chính quyền ngày càng vững mạnh hơn nữa.

Mưu sinh trên vỉa hè Sài Gòn

03/09/2009 – 12:12 Võ Chung

Chiếc máy may cũ mềm, áo quần chất đầy xung quanh, vô số bịch ni-lông, chỉ cuộn đủ màu… là chân dung của thợ sửa quần áo dễ dàng bắt gặp tại nhiều nơi trên đường phố Sài Gòn.

Bác Phú có 20 năm gắn bó vỉa hè với nghề sửa giày và túi xách, vá xe (Võ Chung)
Anh Cường:

* “Lấy được số tiền đó mình cũng không giàu nỗi, hơn nữa lương tâm không cho phép làm thế. Nghèo phải cho sạch chứ”

“Anh thu đáy và lưng quần này thêm hai phân, 5 giờ chiều em lấy”, cô gái trao bịch đồ, vội vã lên xe sau lời nhắn.

Từng có tiệm may tại thành phố Long Xuyên, An Giang, rồi đi làm công nhân, thợ hồ, lơ xe, thợ sắt, cuối cùng sửa đồ vỉa hè Sài Gòn là nơi anh Đặng Thanh Tâm gắn bó hơn 7 năm nay.

“Khỏe hơn những nghề tôi từng làm, lại tự do hơn, thu nhập cũng không đến nỗi nào”, anh Tâm chia sẻ về công việc của mình. Cũng theo anh Tâm, nhiều lúc bị thu đồ, đuổi về nhưng ở quê thì nghề này không có đất sống đành phải trụ lại.

39 tuổi, anh Lê Thanh Quang đã có thâm niên 15 năm hành nghề sửa đồ trên con đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3. Quang quê ở Mỏ Cày, Bến Tre, gia đình đông anh em, ruộng đất ít, nên anh lên đất Sài Gòn kiếm sống khi còn đang học dở cấp 2. Lúc đầu làm cùng người anh họ nhưng hơn chục năm nay anh tách ra làm riêng.

Đều đặn 7 ngày trong tuần, từ 8 giờ sáng đến 22 giờ đêm anh gắn cuộc đời mình trên vỉa hè con đường này. Ngày đông khách thì hơn 100 nghìn đồng, ít cũng được 80 nghìn đồng/ngày, tháng cuối năm tiền công có thể lên đến vài trăm nghìn mỗi ngày.

Khung giá: sửa lưng 10-15 nghìn đồng/quần; bóp ống 5-10 nghìn đồng/quần; lên lai 4-8 nghìn đồng/quần; thay dây kéo 7-20 nghìn đồng/cái… cao nhất là 40 nghìn đồng. “Thế nhưng cái nghề này không thể cứ nhất thiết căn cứ vào đó, nhìn khách, nhìn đồ mà lấy tiền. Khách sang, đồ đắt tiền, Việt kiều tính cao hơn, gặp khách lao động chỉ lấy giá hữu nghị, nhiều khi sửa giúp thôi”, anh Quang nói.

Tuy nhiên, đâu dễ yên ổn để làm – bị đuổi đi, thu máy là chuyện thường ngày nhưng vì để mưu sinh nên bắt chỗ này thì chạy qua chỗ kia. Từ đầu năm đến nay, anh đã phải 4 lần lên phường và quận để xin lại máy, mỗi lần như thế phải đóng phạt từ 30.000- 80.000 đồng.
“Không có tiền cưới vợ”

Đây là lời tự sự của anh Nguyễn Văn Gòn, một thợ sửa đồ góc đường bà Huyện Thanh Quan – Nguyễn Đình Chiểu khi tôi tiếp xúc. Theo lời anh Gòn, mỗi tháng thu nhập giao động ở mức 4 triệu đồng nhưng trừ tiền điện, gởi đồ, ăn uống, xăng xe, tiền trọ, gởi về quê cho em ăn học… có tháng còn bị âm. Giờ mà cưới vợ thì mấy đứa em ngoài quê có nguy cơ phải bỏ học, cố gắng làm vài năm nữa khấm khá hơn rồi tính.

Cùng cảnh đời, đã gần 40 tuổi, anh Trần Tiến Long vẫn chưa thể tìm được cho mình mái ấm riêng. Anh thổ lộ rằng trước kia cũng có hẹn hò với vài cô, dù chưa nói trắng nhưng có lẽ họ thấy nghề nghiệp mình không lấy gì làm ổn định nên nói khéo khó hợp nhau và chẳng đi đến đâu. Giờ thì ban ngày ra ngồi đây, tối về ngã lưng với mấy đứa em ở quê cùng vào mưu sinh. Dù bố mẹ ở quê luôn hối thúc nhưng cái tuổi này chuyện yêu đương không còn hừng hực khí thế như xưa. Thôi đành chờ duyên vậy.

May mắn hơn, anh Lê Cường đã có cho mình một nửa, sáng ra hai vợ chồng chở nhau ra đây, chồng làm nghề sửa đồ, vợ bán quần áo thuê ở cửa hàng thời trang bên kia đường. Mấy tháng nay, hai vợ chồng phải tằn tiện chi tiêu, tìm thuê phòng rẻ hơn, tích góp tiền để dành cho cô vợ sinh em bé trong vài tháng tới.

“Gần chục năm ở bộ đội, hết đánh nhau thấy mình còn sống đã là mừng”. Bác Lưu Văn Phú, quê Hải Dương, giải ngũ về quê làm cán bộ xã, rồi cán bộ nông trường đi xây dựng miền Nam. Sợ cảnh núi rừng, ông bỏ về thành phố hành nghề sửa giày dép, túi xách kiêm vá, bơm xe và gắn bó với vỉa hè suốt 20 năm nay. “Những năm trước cái nghề này thu nhập không đến nỗi nào nhưng ngày càng khó. Cộng thêm hai năm trở lại đây bà xã đổ bệnh, nên làm bao nhiêu dồn vào thuốc men hết”, ông Phú cho biết.
Kỷ niệm nghề nghiệp

Làm cái nghề kiếm từng đồng, sống từng ngày, vậy mà trong số những người tôi gặp, xem ra chẳng ai tham của không phải từ sức lao động. Chuyện khách bỏ quên tiền trong đồ mang sửa không phải là hiếm, vậy mà chưa thể tìm được ai trong số thợ sửa đồ này ỉm đi để làm của riêng. “Lấy được số tiền đó mình cũng không giàu nỗi, hơn nữa lương tâm không cho phép làm thế. Nghèo phải cho sạch chứ”, anh Cường nói.

Cả con phố sửa đồ Nguyễn Đình Chiểu, có lẽ ai cũng biết chuyện một ông khách Việt kiều bỏ quên 27 tờ 100 đô Mỹ trong đồ mang sửa tại bàn anh Phú. Gần tới giờ hẹn lấy, ông này mới sực nhớ còn bỏ quên tiền trong đồ mang sửa, hối hả chạy ra hỏi và được anh xác nhận có giữ số tiền kia. Ông khách đãng trí tặng luôn cho anh 7 tờ 100 đô Mỹ.

Với anh Gòn, gần 5 năm trong nghề, anh nhớ nhất là sửa đồ cho một cô gái khoảng 20 tuổi. Lần đó cô gái trẻ kia mang một chiếc quần jean còn chưa cắt khuy, yêu cầu anh cắt ngắn hết chỗ có thể ngắn hơn và xé tua chứ không được may. Chưa dừng lại ở đó, cô gái còn yêu cầu anh làm cho chỗ “hiểm” mỏng đi chỉ chừa lại sợi vải ngang. Dù chẳng muốn nhận nhưng vì được chủ nhân cam đoan hư không bắt đền nên anh đâm liều. Mất cả ngày hôm đó anh mới hoàn thành ‘tác phẩm’ khó quên cho cô gái. Tiền công tác phẩm nhớ đời này là 200 nghìn đồng, kể cả 50 nghìn tiền “boa”.

Tuy nhiên, không phải ai trong số những người thợ này cũng mãi gắn bó với vỉa hè. Anh Thùy quê Quảng Ngãi là một người như thế. Giờ anh là chủ nhân của hai cửa hàng quần áo trên đường Hồ Văn Huê, Phú Nhuận với 8 nhân viên bán hàng. “Chính việc sửa đồ đẹp đã đem đến cho tôi thành công hôm nay”, anh Thùy chân thật

NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CĂN BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TỘC SINH TỒN.

A.- ĐIỀU KIỆN CỐT YẾU CHO SỰ SINH TỒN MỘT DÂN TỘC.

Một cá nhơn muốn sinh tồn sung mãn phải tranh đấu để chống những họa hại từ bên ngoài đưa đến có thể làm hại mạng mình và để giành những vật liệu cần thiết cho sự thỏa mãn những nhu cầu của mình.

Một dân tộc muốn sinh tồn cũng phải tranh đấu như thế. Ngoài thiên tai địa biến có thể làm suy yếu mình, dân tộc lại còn có thể bị nạn dị tộc xâm lược. Thêm nữa, dân tộc cũng phải tổ chức sự khai thác những nguồn lợi thiên nhiên trong nước và cố gắng để thâu đoạt những vật liệu mình thiếu. Vậy, sự tranh đấu là một điều kiện tất yếu cho sự sinh tồn của dân tộc.

Từ trước đến nay, các dân tộc đã tranh đấu nhau một cách hết sức ráo riết. Nhiều dân tộc đã bị tiêu diệt. Nhiều dân tộc khác, sau khi chiếm một địa vị tôn quí trên đài thế giới đã bị suy yếu, có khi mất cả độc lập. Ngoài ra, cũng có những dân tộc từ trước đến nay luôn luôn đứng vào một địa vị kém hèn.

Lịch sử thăng trầm của các dân tộc cho ta biết rằng muốn có thể sinh tồn sung mãn, dân tộc cũng như người phải mạnh mẽ và sáng suốt. Những dân tộc hèn yếu tất nhiên không thể chống chọi lại các địch thủ xâm lấn mình. Nhưng những dân tộc có nhiều năng lực tranh đấu mà theo một chánh sách thiếu khôn khéo cũng rất khó đem sự thắng lợi về mình.

Dầu sao, sự hùng cường một dân tộc cũng là một điều kiện căn bản cho sự sinh tồn. Nhưng sự hùng cường này do đâu mà ra.

Trước hết, nó dựa vào những điều kiện vật chất thiên nhiên. Tự ngàn xưa, các dân tộc đã chiếm lấy một lãnh thổ cho mình. Lãnh thổ này liên lạc mật thiết với dân tộc và thường cùng với dân tộc hòa lẫn nhau trong ý niệm quốc gia.

Diện tích rộng hẹp của lãnh thổ tùy theo khả năng tranh đấu và cơ vận của dân tộc. Vị trí nó thì tùy theo khuynh hướng tự nhiên của dân tộc, hoặc tùy theo hoàn cảnh mà ra. Có nhiều dân tộc tự chọn lấy địa bàn của mình. Những giống dân ưa sinh hoạt nơi rừng núi chỉ ở các vùng sơn cước, trong khi những giống dân quen sống gần nước luôn luôn tìm cách chiếm lấy những vùng có ao hồ, những lưu vực các con song, hay những đất ven bờ biển. Nhiều giống dân trái lại, đã bị dị tộc xâm lấn, phải bỏ cư địa cũ mà dời đi nơi khác. Trong sự di cư này, họ có thể noi theo khuynh hướng tự nhiên của họ, nhưng cũng có thể thay đổi cách sanh hoạt của mình nếu bị dồn vào một địa bàn họ không chọn lựa được.

Dầu sao, lãnh thổ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến dân tộc. Chính nó làm cái khung cảnh vật chất cho sự sinh hoạt của dân tộc. Những điều kiện khí hậu, địa thế, những thực phẩm và vật liệu lãnh thổ cung cấp cho người, những điều kiện lãnh thổ đặt ra cho sự sanh hoạt của người đã đóng một vai tuồng rất quan trọng trong sự đào tạo tánh cách thể chất và tâm lý các dân tộc. Ai cũng biết rằng các dân tộc sống ở xứ lạnh khác các dân tộc sống ở xứ nóng, các dân tộc gần biển khác các dân tộc ở giữa đại lục.

Những điều kiện vật chất mà lãnh thổ đặt ra cho dân tộc có một tánh cách cứng rắn, ít di chuyển. Nó đóng một vai tuồng rất quan trọng trong sự hùng cường một dân tộc. Lãnh thổ càng có nhiều sản phẩm thì dân tộc càng có điều kiện để trở thành hùng cường.

Cơ vận của dân tộc có thể do sự biến chuyển của kỹ thuật mà thay đổi. Trước thế kỷ thứ 18, nhơn loại đại khái sống nhờ nông nghiệp và những dân tộc hùng cường là những dân tộc chiếm được những cánh đồng rộng rãi phì nhiêu. Từ thế kỷ thứ 18 trở đi, kỹ nghệ phát triển và sự hùng cường lại về với những dân tộc chiếm được một lãnh thổ nhiều khoáng sản.

Tuy nhiên, vai tuồng của dân tộc cũng không phải là nhỏ. Những dân tộc sống trên một lãnh thổ phì nhiêu, nhiều khoáng sản có thể vì sự sanh hoạt quá thuận lợi mà trở thành ủy mị, yếu hèn, dễ dàng làm mồi cho những cuộc xâm lăng. Trái lại, những dân tộc sống trên một đất đai bần bạc có thể nhờ sự cực khổ mà trở thành những chiến sĩ lợi hại, đặt ách đô hộ lên trên những dân tộc giàu có hơn mình. Người Mông cổ ngày xưa và người Nhựt bổn trong thời đại cận kim đã xây dựng được những đế quốc hùng cường mặc dầu địa bàn của họ hết sức là bần bạc.

Một mặt khác, sự hùng cường của dân tộc còn do nơi chỗ dân tộc ấy có biết sử dụng sản phẩm của lãnh thổ mình hay không. Người da đỏ ngày xưa đã chiếm cả những đất đai rộng rãi phì nhiêu đầy khoáng sản của Mỹ châu. Nhưng họ không biết lợi dụng những nguồn tài lợi thiên nhiên đó, trong khi Hiệp chúng quốc Mỹ sau này đã nhờ những nguồn tài lợi ấy mà trở thành mạnh nhứt hoàn cầu.

Như thế, ngoài những sản phẩm tự nhiên lãnh thổ cung cấp cho mình, một dân tộc còn phải tự mình hoạt động ráo riết mới được hùng cường. Vấn đề mở rộng lãnh thổ trong thế giới hiện giờ là một vấn đề nan giải, nhứt là cho các dân tộc hiện còn yếu kém. Vả lại, cũng như vấn đề khai thác những sản phẩm hiện có trên mỗi lãnh thổ, nó thuộc phạm vi tranh đấu của từng dân tộc một. Đứng trên một lập trường khái quát hơn, chúng ta chỉ có thể xem xét sự tác động của dân tộc đối với dân chúng mình mà thôi.

Về mặt này, việc quan trọng nhứt là việc phát triển năng lực tranh đấu của dân tộc, nâng cao trình độ của mọi người lên. Mọi người đều phải được đào luyện cho có một thân thể cường tráng và đủ sức làm một chiến sĩ. Trình độ văn hóa và kỹ thuật chung cũng phải được nâng cao lên để vượt qua hay ít nữa, cũng đuổi kịp các dân tộc khác. Ngoài ra, những đức tánh xã hội cũng như những đức tánh cần cho sự chiến đấu cũng đều phải được phát triển.

Thêm nữa, sự hoạt động và sức cố gắng của mọi người trong dân tộc đều phải đồng nhứt với nhau và phải hướng về mục đích sinh tồn chung. Điều này bắt buộc dân tộc phải thực hiện một nền đoàn kết chặt chẽ. Những mầm chia rẽ, chia rẽ địa phương, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ đảng phái, chia rẽ giai cấp, cần phải tiêu diệt tận gốc.

Sự hủy diệt những mầm chia rẽ không hàm ý rằng dân tộc phải sống dưới một chế độ độc tài khắc nghiệt, đặt tất cả mọi người dưới một kỷ luật sắt và uốn nắn mọi người theo một khuôn khổ chung.

Ta nên nhớ rằng cứu cánh của người là mưu đồ sự sinh tồn cá nhơn của mình. Sự tranh đấu cho dân tộc chỉ là một phương tiện để đi đến cứu cánh ấy. Dầu cho người có hy sanh cho dân tộc đi nữa, người cũng muốn cho sự hy sanh đó có ý nghĩa. Trong trường hợp đó, một chế độ khắc nghiệt không màng đến sự sinh tồn cá nhơn của người chỉ có thể đưa đến một sự đoàn kết cưỡng bách và tự nhiên không vững chắc.

Muốn cho nền đoàn kết được vững chắc, đủ sức trải qua những thử thách gay go, người ta phải làm cho nó có tánh cách tình nguyện. Mà muốn cho mọi người trong dân tộc vui lòng cố kết nhau lại làm một khối, người ta phải bảo đảm sự sinh tồn cá nhơn của mọi người trong dân tộc. Như thế, dân tộc phải để cho mọi người được hưởng những tự do căn bản, và chế độ xã hội phải có tánh cách công bằng để không ai có thể bóc lột được ai và sự hùng cường của dân tộc có lợi cho tất cả mọi người.

Như thế, những hoạt động của các cá nhơn và đoàn thể vẫn phải được dung nạp. Nhưng sự giáo dục phải hướng đến chỗ gây cho mọi người một ý thức dân tộc sinh tồn mạnh mẽ và quyền lợi tổ quốc được đặt lên trên hết. Đồng thời, tinh thần dân chủ chơn chánh cùng óc khoan dung phải được vun bồi để tránh những cuộc xung đột quá mãnh liệt vì quyền lợi tôn giáo hay chánh kiến bất đồng.

Với một chế độ xã hội và một phương pháp thích hợp, vừa cho người được hưởng một sự tự do rộng rãi, vừa duy trì được một kỷ luật quốc gia nghiêm minh, dân tộc có thể thực hiện được nền đoàn kết nội bộ. Nó có thể tổ chức sự khai thác các tài nguyên của lãnh thổ mình và tự gây cho mình đủ sức mạnh cần thiết để đối phó với các dân tộc khác, hầu bảo vệ quyền lợi mình.

Sự tranh đấu với các dân tộc khác có thể nói là không lúc nào ngừng. Sau những cuộc chiến tranh thật sự, các dân tộc từ xưa đến nay vẫn phải tiếp tục những cuộc chiến ttranh bí mật hoặc đương đầu nhau trong những cuộc tranh giành thế lực gay go.

Muốn nắm phần thắng lợi trong những cuộc tranh đấu ấy, dân tộc cũng như người phải mạnh. Nhưng nếu sức mạnh riêng nó không đủ để bảo đảm sự thắng lợi của người, sự hùng cường riêng nó cũng không đủ đưa dân tộc đến chỗ thành công.

Ta đã thấy rằng ngoài sức mạnh, con người còn phải có một quan năng biến cải cường kiện mới mong thắng lợi trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Dân tộc muốn tránh sự thất bại cũng phải có một quan năng biến cải như thế. Quan năng biến cải này chính là khả năng giúp dân tộc tự sửa chữa chế độ xã hội cùng kỹ thuật làm việc và tranh đấu của mình để tiến kịp thời đại, và có một chánh sách khôn khéo, thích hợp với tình thế mỗi lúc.

Những dân tộc Á châu sở dĩ phải lọt vào ách đô hộ của các dân tộc da trắng là vì quan năng biến cải của họ quá yếu, không giúp họ thay đổi quan niệm tổ chức và tranh đấu của họ cho kịp với thời thế. Những dân tộc sớm thức tỉnh, như dân tộc Nhựt, đã duy tân một cách nhanh chóng. Không những thoát nạn thuộc địa, dân tộc Nhựt lại còn trở thành hùng cường, khiến cho các cường quốc da trắng phải nể sợ. Vậy, chính quan năng biến cải đã giúp cho dân Nhựt được sinh tồn vẻ vang trong khi các dân tộc da vàng khác phải chịu cái nhục làm nô lệ cho người.

Nhưng sự hùng cường của một dân tộc cũng không đưa dân tộc ấy đến chỗ thành công nếu dân tộc ấy không khôn khéo trong sự giao thiệp với các dân tộc khác. Lẽ tự nhiên là sự tranh đấu sinh tồn bắt buộc mỗi dân tộc phải đề phòng đối với các dị tộc. Nhưng nếu không biết cách cư xử để cho nhiều dân tộc thù địch liên minh lại đối phó với mình, một dân tộc rất khó nắm phần thắng lợi. Những mánh khóe ngoại giao do đó, hết sức cần thiết cho sự sinh tồn một dân tộc.

Chính vì quá kiêu căng, ra mặt chọi lại nhiều cường quốc quá mà nước Đức đã phải hai lần thảm bại trong thế kỷ thứ 20. Mà cũng nhờ tài ngoại giao khéo léo của mình, biết liên minh các nước để chọi lại những cường quốc có thể cạnh tranh với mình mà dân tộc Anh đã nắm giữ được bá quyền trong bao nhiêu thế kỷ.

Một mặt khác, những sự trao đổi văn hóa cũng như những sự thôn tính lẫn nhau có thể gây ra giữa các dân tộc, nhứt là những dân tộc sống cạnh nhau, nhiều thiện cảm hay ác cảm với nhau. Nhưng nếu cá nhơn và cá nhơn có thể lấy tình nghĩa mà đối đãi nhau, dân tộc và dân tộc có thể giao thiệp nhau vì quyền lợi. Những cuộc liên minh giữa các dân tộc bao giờ cũng có tánh cách tạm thời. Và trên bàn cờ quốc tế, kẻ thù hôm qua thường là người bạn ngày nay, và người bạn hôm nay rất có thể là kẻ thù ngày mai.

Hơn nữa, ngay trong khi cần liên minh nhau, các dân tộc có thể vẫn xung đột nhau như thường. Trong lúc cần phải họp tập nhau lại để đương đầu với khối Cộng sản, những dân tộc trong khối tự do đã cạnh tranh nhau một cách mãnh liệt. Người Anh và người Mỹ đã cố giành nhau lấy những mỏ dầu lửa ở Trung đông. Họ cũng theo hai chánh sách khác nhau trong sự đối phó với Trung cộng. Chiến tranh bí mật giữa các nước thật ra không bao giờ chấm dứt, và các cơ quan gián điệp thường tổ chức sự do thám ngay ở các nước được xem là bạn.

Lịch sử cận đại đã cho ta thấy rằng sự sinh tồn của dân tộc phần lớn dựa vào những cơ quan trinh thám của dân tộc ấy. Những dân tộc có một cơ quan trinh thám mạnh mẽ và nhiều khả năng chẳng những có thể hiểu biết rõ ràng tình thế chung và thi hành một chánh sách thích hợp, mà lại còn có thể tổ chức sự phá hoại ngay bên trong hàng ngũ đối phương. Do đó, sức mạnh vật chất của dân tộc có thể được sử dụng với một hiệu lực tối đa và tự nhiên phải đưa đến nhiều kết quả tốt.

Trong việc xây dựng và duy trì bá quyền của nước mình mấy thế kỷ trước đây, cơ quan trinh thám Anh đã đóng một vai tuồng trọng hệ. Đảng Hắc long đã làm cho nước Nhựt trở thành một đế quốc mạnh mẽ và giúp nước ấy chóng khôi phục lại một địa vị khả quan sau khi bị thảm bại. Hiện giờ, trong cuộc xung đột Mỹ Nga, phái Cộng sản đã bồi bổ những chỗ yếu kém của mình về phương diện kỹ thuật và võ khí bằng một cơ quan gián điệp đắc lực. Do đó, nước Mỹ, mặc dầu mạnh hơn Nga nhiều, thường phải bị khó khăn trong cuộc chiến tranh nguội với Nga.

Những điều trên này cho ta thấy rằng một dân tộc muốn sinh tồn được sung mãn phải hết sức khéo léo trong sự bang giao của mình. Vấn đề tình cảm cần phải được gạt qua một bên : một dân tộc không thể nhứt định thân hay thù một dân tộc khác vì trong quá khứ, dân tộc ấy làm lợi hay hại cho mình. Sự giao thiệp giữa các dân tộc chỉ có thể dựa vào quyền lợi của dân tộc mà thôi. Một mặt khác, những tổ chức chuyên về bí mật chiến phải được khuếch trương để có đủ sức thảo những kế hoạch lâu dài cho dân tộc và đồng thời chận đứng sự xâm nhập kín đáo của các dân tộc khác ngay trong lúc thái bình.

B.- VẤN ĐỀ TỔ CHỨC DÂN TỘC.

1.- KHÁI LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI.

Trên đây là những điều kiện khái quát tối cần cho sự sinh tồn một dân tộc. Đứng về phương diện thực hành mà nói, vấn đề đầu tiên mà mỗi dân tộc phải giải quyết là vấn đề tự tổ chức.

Một số người cho rằng sự tổ chức dân tộc phần lớn tùy thuộc trình độ tiến hóa của dân chúng. Một chế độ không phù hợp với trình độ tiến hóa của dân tộc sẽ ít có cơ đứng vững được.

Một số người khác chủ trương rằng mỗi dân tộc đều có những đức tánh riêng biệt và chỉ có thể theo một hình thức tổ chức phù hợp với đức tánh mình mà thôi. Một chế độ không thích hợp với đức tánh của dân tộc sẽ đưa nhiều họa hại đến cho dân tộc ấy.

Những ý kiến trên này thật ra cũng có nhiều phần hữu lý. Những dân tộc dã man không thể áp dụng được một chế độ thi hành ở các nước đã văn minh. Người Tây tạng hiện còn tôn trọng thần quyền và chắc chắn không tán thành chế độ quân chủ chớ đừng nói đến chế độ dân chủ.

Một mặt khác, những dân tộc quen với chủ trương độc tài hay chủ trương phóng túng rất khó thi hành một chế độ cần những người công dân tôn trọng tự do nhưng cũng biết tuân theo kỷ luật. Dân Đức vốn quen uốn mình theo kỷ luật cũng như dân Pháp thờ chủ nghĩa cá nhơn quá độ không được thành công bằng dân Anh trong sự thực hiện chế độ đại nghị.

Tuy nhiên, ta không thể vì những lý do trên đây mà không lưu ý đến vấn đề chế độ lý tưởng. Nếu cứ chủ trương rằng chế độ xã hội phải tùy trình độ tiến hóa hay đức tánh căn bản của dân tộc, ta có thể đi đến chỗ duy trì mãi một chế độ được xem là thích hợp với trình độ hay đức tánh của dân tộc mình, nhưng kỳ thật lại khép dân tộc vào một khuôn khổ chật hẹp, làm cho nó không tiến hóa được.

Điều này có hại vô cùng cho sự sinh tồn của dân tộc, vì nó làm cho dân tộc thua kém các dân tộc khác. Ta nên nhớ rằng dân tộc nào cũng phải đi từ chỗ dã man đến một trình độ văn minh cao hơn, và chính quan năng biến cải làm cho các dân tộc tiền tiến biết thay đổi, biết canh tân, biết cởi bỏ những chế độ cũ để đi đến một chế độ mới hoàn hảo hơn.

Một số người khác lại cho rằng vấn đề chế độ thật ra không quan trọng bằng vấn đề người. Nếu người tốt, chế độ sẽ tốt theo. Trái lại, khi người xấu, chế độ hay đến đâu cũng hóa dở.

Điều này không phải là không đúng. Dưới thời quân chủ chuyên chế, dân chúng có thể được sung sướng, và quốc gia có thể trở thành hùng cường nếu nhà vua là một vị anh quân. Đường Thái tông bên Trung hoa, Lý Thánh tông và Lê Thánh tông ở Việt Nam đã chứng tỏ rằng chế độ quân chủ chuyên chế cũng có thể mang hạnh phúc đến cho người và sự sinh tồn đến cho dân tộc.

Nhưng ta không nên quên rằng con người rất dễ sa ngã, và một chế độ không có những biện pháp để ngăn cản những sự lạm quyền không thế nào có đủ điều kiện mưu sinh tồn cho dân tộc. Lịch sử cho ta biết rằng những vị anh quân rất hiếm hoi, và các hôn quân đã có những ảnh hưởng tai hại vô cùng cho dân tộc.

Như vậy, chủ trương đào luyện con người hết sức cần thiết, nhưng vẫn chưa sung mãn. Muốn cho sự sinh tồn của dân tộc được bảo đảm, ngoài chủ trương đức trị, ta còn phải có chủ trương pháp trị. Nói một cách khác, ngoài việc tuyển lựa người có đức, ta còn phải có một chế độ thích hợp nữa.

Trong trường hợp đó, vấn đề tổ chức vẫn cần phải đặt ra. Sự tổ chức một dân tộc bao gồm nhiều mặt khác nhau, trong đó quan trọng nhứt là vấn đề chánh trị.

2.- TỔ CHỨC CHÁNH TRỊ.

a)- LƯỢC KHẢO VỀ CÁC CHẾ ĐỘ CHÁNH TRỊ ĐÃ LƯU HÀNH.

Để có một quan niệm rõ ràng về chế độ chánh trị thích hợp nhứt cho sự sinh tồn một dân tộc, ta hãy thử xét qua những chế độ lưu hành trên thế giới từ trước đến giờ.

Đọc qua lịch sử các dân tộc, ta có thể nhận thấy rằng các dân tộc, các quốc gia đã được tổ chức theo nhiều lối khác nhau vô cùng. Nhưng tuy có nhiều hình thức khác nhau, những chế độ quan trọng đã lưu hành đều có thể qui về ba hình thức chánh : chế độ độc tài, chế độ đại nghị và chế độ tổng thống.

1/- Chế độ độc tài.

Cứ theo tên nó, chế độ độc tài là chế độ trong đó một người nắm hết tất cả quyền thế trong tay và một mình quyết định về mọi việc quan trọng có dính dáng đến vận mạng dân tộc. Nhà độc tài có thể nhờ sự phù tá khuyên răn của một hoặc nhiều cố vấn, hay tự mình suy xét và định đoạt không cần ý kiến ai. Ông ta có thể tỏ ra rộng rãi với người khác hay hết sức tàn bạo. Nhưng bất cứ trong trường hợp nào, sự đối lập cũng không được dung tha, và mọi người trong nước, dầu muốn dầu không, đều phải cúi đầu tuân lịnh trên.

Chế độ độc tài thường xuất hiện dưới hình thức quân chủ chuyên chế hay dân chủ tập quyền.

Theo chế độ quân chủ chuyên chế, vị quốc trưởng là một nhà vua nhờ võ lực hay nhờ sự thừa kế mà lên ngôi báu và cai trị muôn dân. Mọi pháp điển, luật lệ, mọi quyết định đều do nhà vua mà ra. Những triều thần đều do nhà vua bổ nhậm, thăng giáng, thuyên chuyển. Ta có thể bảo rằng nhà vua nắm trọn quyền sanh sát cả mọi người.

Nhiều khi nhà vua yếu thế, chỉ có hư vị, còn thực quyền thì thuộc về một người quyền thần gian giảo, lấy danh nghĩa nhà vua mà trị nước. Cũng có khi trong quốc gia, có nhiều nhà quí tộc cạnh tranh với nhà vua. Nhưng trong trường hợp nào cũng vậy, quyền hành vẫn qui về tay một người thường nhờ sợi dây liên lạc huyết thống và võ lực mà nắm quyền điều khiển quốc gia theo ý mình.

Theo chế độ dân chủ tập quyền, quốc trưởng là một người xuất thân từ dân chúng, và nhờ một cuộc cách mạng, một cuộc binh biến, một cuộc bạo động, hay ít nhứt cũng nhờ sự chỉ định của người đồng chí mà nắm chánh quyền. Có khi nhà độc tài nắm thực quyền trong nước, nhưng vẫn để chức vị quốc trưởng trong tay một nhà vua thế tập, và lập hiến. Đó là trường hợp Mussolini, thủ lãnh đảng Phát xít Ý trước đây.

Nhà độc tài của chế độ này thường phải dựa vào một tổ chức võ trang, quân đội hay chánh đảng, và nhờ tổ chức ấy mà cai trị dân chúng. Tuy thế, họ vẫn tuyên truyền rằng mình tranh đấu cho dân chúng và hoạt động theo ý dân chúng. Do đó, về nguyên tắc, họ vẫn chấp nhận cho quốc gia có một Quốc hội do dân chúng cử ra và được quyền bàn cải về quốc sự. Nhưng thật sự, những nhơn viên Quốc hội được chánh quyền chọn lựa sẵn vá luôn luôn làm theo ý chánh quyền. Việc tuyển cử cũng như việc thảo luận và biểu quyết của Quốc hội chỉ là những trò dàn cảnh để gạt dân chúng mà thôi.

Ngoài hai chế độ quân chủ chuyên chế và dân chủ tập quyền, chế độ độc tài có thể mang một vài hình thức khác.

Ở Tây tạng, vị quốc trưởng là một vị Đạt lai Lạt ma được các nhà sư dựa vào phép bói toán mà chọn lựa trong số những đứa trẻ sơ sanh ra đúng vào giờ vị Đạt lai Lạt ma trước tịch đi. Sau khi được chọn, vị Đạt lai Lạt ma ấy được nuôi nấng và giáo dục một cách đặc biệt, để khi lớn lên thì nắm quyền cai trị cả nước.

Lẽ tự nhiên là sự nuôi nấng và giáo dục vị Đạt lai Lạt ma lúc còn vị thành niên cũng như việc nhiếp chánh khi ông ta chưa đến tuổi nắm quyền chánh do một số nhà sư đảm nhiệm. Những nhà sư đó vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến Đạt lai Lạt ma khi ông này đã thành niên. Vì thế, thật sự quyền hành trong nước thường lọt vào tay một số nhà sư. Chính những nhà sư đó mới là những kẻ giữ quyền độc tài cai trị dân chúng.

Ở Ba lan ngày xưa, nhà vua cũng là kẻ nắm trọn quyền trong tay, song không phải nhờ cha truyền ngôi cho, mà được những nhà quí tộc trong nước bầu lên. Chế độ quân chủ tuyển cử này có chút ít hơi hướng dân chủ, nhưng thật ra, cũng dựa vào nguyên tắc độc tài.

Ngoài ra, ở các xã hội cổ, ta còn có thể gặp chế độ quí tộc phân quyền. Theo chế độ này, quyền hành trong nước thuộc về một số nhà quí tộc chia nhau giữ lấy những chức vụ trọng yếu. Người quốc trưởng do họ bầu ra giữ nhiệm vụ ấy trong một nhiệm kỳ nhứt định.

Những khi quốc gia lâm nguy, người ta có thể giao cả quyền chánh cho một người. Nhưng khi quốc gia an ổn trở lại, vị độc tài này phải trả quyền lại cho hội nghị những nhà quí tộc.

Trong sử cổ, người ta gọi chế độ này là chế độ cộng hòa, nhưng quần chúng không được tham dự quốc sự và một phần lớn dân chúng lại là những người nô lệ, không có công quyền. Cứ kể cho đúng ra thì chế độ quí tộc phân quyền là một chế độ trung gian giữa chế độ độc tài thật sự và chế độ đại nghị về sau. Tuy nhiên, đứng về phương diện quần chúng mà nói, nó có tánh cách độc tài hơn là dân chủ.

Dầu sao, những chế độ đặc biệt trên này rất hiếm. Trong lịch sử nhơn loại ngày xưa, chế độ người ta gặp thường hơn hết là chế độ quân chủ chuyên chế. Mấy thế kỷ sau này, chế độ quân chủ chuyên chế bị cho là lạc hậu, quá thời và những nhà độc tài lần lần nghiêng về phía chế độ dân chủ tập quyền nhiều hơn.

Kể ra thì chế độ độc tài cũng có thể có nhiều cái lợi cho dân tộc.

Trước hết, chế độ độc tài làm cho tổ chức dân tộc được thống nhứt và chặt chẽ. Mọi người đều được đặt trong một khuôn khổ và tất cả mọi cố gắng đều hướng về một mục đích chung. Nhờ đó, sự huy động dân tộc được dễ dàng và nhanh chóng. Thêm nữa, vì quyền quyết định thuộc về một vài người, chế độ độc tài có thể giúp cơ quan chỉ huy giữ kín những kế hoạch, những chương trình hành động của mình. Những điều kiện trên đây làm cho lực lượng của dân tộc theo chế độ độc tài có thể được sử dụng với hiệu quả tối đa.

Vì những lý do trên đây, dân tộc theo chế độ độc tài có thể trở nên hùng cường một cách nhanh chóng. Những dân tộc bá chủ ngày xưa thường đã đạt bá quyền mình nhờ một chế độ gắt gao đối với tất cả mọi người. Gần đây, nước Nhựt, nước Thổ nhĩ kỳ đã nhờ chế độ độc tài mà duy tân tự cường trong một thời gian hết sức ngắn ngủi. Nước Đức thời Quốc xã chỉ có mấy năm mà tự tạo cho mình được một lực lượng khổng lồ có thể đương đầu lại các cường quốc chống phát xít trong một thời gian khá dài. Nước Nga trong tay đảng Cộng sản đã từ địa vị một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước kỹ nghệ giữ địa vị cường quốc thứ nhì trên thế giới trong vòng mấy mươi năm.

Nhưng chế độ độc tài không phải là không có hại. Một cá nhơn dầu cho tài giỏi đến đâu cũng không thể nào đủ sự sáng suốt để phán đoán tình thế một cách đúng đắn mãi được. Nhà độc tài có thể bị lầm lạc, càng có thể lầm lạc là vì trong chế độ độc tài, tất cả những nhơn viên hạ cấp đều quá sợ hãi người trên. Chẳng những không dám chỉ trích những chỗ bậy của người trên, họ lại còn sẵn sàng ca ngợi mọi hành động của người trên, bất cần hay dở. Điều này làm cho nhà độc tài chủ quan và mù quáng. Họ không còn thấy rõ sự thật và sự phán đoán của họ không thể nào đúng đắn được.

Mỗi sự lầm lạc của nhà độc tài có thể đưa đến những kết quả tai hại cho toàn thể dân chúng. Như vậy, dầu cho nhà độc tài có thật tâm muốn phụng sự dân tộc, ông ta cũng có thể đưa dân chúng đến một sự thất bại thảm thương. Phưong chi những nhà độc tài thật tâm phụng sự dân tộc vốn có ít, còn những kẻ muốn lợi dụng quyền thế lại nhiều hơn. Trong lịch sử các dân tộc, những nhà vua sáng suốt biết thương dân có thể đếm trên đầu ngón tay, trong khi bọn hôn quân bạo chúa không thể kể xiết được.

Thêm nữa, chính những nhà độc tài bản tâm tốt lại có thể bị sự phú quí làm cho sa ngã. “ Chánh quyền làm hư hỏng con người “.Đó là một điều nhận xét rất đúng. Một nhơn vật nắm giữ quyền bính một nước trong tay tự nhiên có tâm trạng và quan niệm khác với một nhà cách mạng hay một nhà chánh khách đứng ngoài chánh phủ.

Một nhà độc tài khi mới nắm chánh quyền có thể rất lo nghĩ đến quyền lợi dân. Nhưng rồi vì tình thế bắt buộc, vì phải đối phó với những trở lực, với những địch thủ, ông ta lại phải cố giữ vững địa vị mình và lần lần chỉ nghĩ đến những kế hoạch, những chương trình của mình mà lãng quên lập trường của dân chúng.

Một mặt khác, sự sung sướng do chánh quyền đưa đến có thể làm cho nhà độc tài đâm ra thích chánh quyền vì chánh quyền. Những điều trên này có thể làm cho một nhà cách mạng hay một chánh khách tốt đi xa chủ trương nguyên thủy mình, nhiều khi một cách vô tình.

Một cái hại khác không kém quan trọng của chế độ độc tài là sự tàn sát nhau bên trong hàng ngũ. Nhà độc tài không bao giờ có thể dung nạp cho một người bộ hạ được nhiều uy tín, vì họ sợ bị lật đổ. Do đó, tánh mạng những người cộng tác với nhà độc tài rất bấp bênh.

Không kể trường hợp những hôn quân nghe lời sàm tấu của bọn gian thần, và những nhà độc tài của thời đại cận kim bị mưu ly gián của địch thủ mà giết hại những người cộng tác nhiều năng lực và trung thành, lịch sử còn cho ta thấy những cuộc tàn sát do những nhà độc tài chủ ý gây ra để giữ vững địa vị. Vua Lê Thái Tổ ngày xưa giết Trần Nguyên Hãn, vua Nguyễn Thế Tổ giết các ông Đỗ Thành Nhơn và Nguyễn Văn Thành, cũng như ngày nay Hitler giết nhiều tướng cạnh. Staline bao nhiêu lượt thanh trừng đảng Cộng sản Nga, đều tuân theo một định lệ chung của những nhà độc tài : triệt hạ trước những kẻ có thể phương hại đến địa vị mình.

Trong trường hợp đó, tự nhiên là nhơn tài bị sát hại nhiều, và giá trị những kẻ chỉ huy sau khi nhà độc tài khởi xướng phong trào chết đi phải càng ngày càng kém. Điều này không khỏi có ảnh hưởng tai hại đến tương lai dân tộc.

Ngoài ra, chế độ độc tài còn có cái hại rất to là làm khổ dân. Trong một nước theo chế độ độc tài, pháp lịnh luôn luôn truyền từ trên xuống dưới và người đại diện thấp nhứt của chánh quyền cũng đã có một oai thế rất lớn đối với dân chúng rồi. Vả lại, kẻ dưới rất sợ người trên, thành ra nhiều khi quá cẩn thận trong sự thi hành các pháp luật, và do đó mà nhũng nhiễu dân chúng. Đó là chưa kể trường hợp họ lạm dụng oai thế mà bóc lột hiếp đáp thường dân. Trong trường hợp này, dân chúng có thể phẫn uất quá, đứng lên chống chọi lại chánh quyền, và cuộc nội loạn gây ra tự nhiên làm yếu sức dân tộc trước các dân tộc khác.

Một mặt khác, chế độ độc tài muốn đứng vững được phải uốn nắn tư tưởng mọi người theo một khuôn khổ. Mọi học thuyết có thể hại đến học thuyết được tôn sung đều bị cấm nhặt. Lẽ cố nhiên là cá nhơn bị bó buộc quá nhiều như thế không sao có thể mở mang trí phán đoán của mình. Óc sáng kiến cũng bị tê liệt đi và sở thức của họ bị thâu vào trong một vòng chật hẹp.

Chẳng những làm cho cá nhơn khổ sở, điều này còn có thể khiến cho dân tộc lầm lạc trong sự phán đoán về các dân tộc khác. Người Đức ngày xưa đã nhắm mắt lý luận theo thuyết chủng tộc nên đã cho dân Mỹ là một giống dân hèn kém vì lai giống. Sự khinh thị dân Mỹ đã đưa nước Đức đến chỗ thảm bại.

2/- Chế độ đại nghị.

Chế độ đại nghị là chế độ theo đó quyền chánh trong nước thuộc về một Quốc hội do dân chúng cử ra. Tất cả mọi quyết định quan trọng đều do Quốc hội mà ra, những cơ quan chánh quyền chỉ thi hành những quyết định của Quốc hội mà thôi.

Những quốc gia theo chế độ đại nghị có thể chia ra làm hai loại : quân chủ lập hiến đại nghị và dân chủ cộng hòa đại nghị.

Theo chế độ quân chủ lập hiến đại nghị, quốc trưởng là một nhà vua thế tập, còn theo chế độ dân chủ cộng hòa đại nghị, quốc trưởng là một vị tổng thống do Quốc hội công cử, nhưng dầu là một nhà vua hay một vị tổng thống, quốc trưởng cũng chỉ là một nhơn vật tượng trưng cho quốc gia mà không có quyền hành gì, cũng không có trách nhiệm gì. Việc thi hành pháp lịnh thuộc về một nội các do một thủ tướng cầm đầu.

Nội các do Quốc hội bỏ thăm đề cử ra, và trừ những việc thuộc về thủ tục thông thường, nội các không thể tự mình quyết định một vấn đề hơi quan trọng. Chánh sách chung của chánh phủ, cũng như mọi quyết định hơi quan trọng, nhất là quyết định về thuế vụ, về ngoại giao, về chiến tranh, phải được đa số nhơn viên Quốc hội đầu phiếu chấp thuận. Nếu đa số nhơn viên Quốc hội không tín nhiệm chánh phủ hay không tán thành chánh sách của chánh phủ, chánh phủ phải từ chức.

Chế độ đại nghị có cái lợi là bảo đảm được sự tự do cá nhơn của người và để cho dân chúng được quyết định về số phận mình. Những nghị sĩ do dân chúng cử ra phải cố binh vực quyền lợi của dân để có thể được tái cử khi nhiệm kỳ mình mãn. Do đó, họ thường lên tiếng can thiệp khi chánh quyền hà hiếp dân chúng. Vốn được quyền miễn tố khi trình bày ý kiến mình tại Quốc hội, họ không sợ nhơn viên nắm chánh quyền và thẳng tay công kích chánh phủ những khi cần.

Bởi lẽ chánh phủ do Quốc hội cử ra và có thể bị Quốc hội lật đổ, chánh phủ không dám đương đầu lại Quốc hội, và các cơ quan chánh quyền tùy thuộc chánh phủ không dám làm việc phi pháp. Do đó, quyền lợi cá nhơn được bảo vệ một cách đàng hoàng và sự bất công nếu có, cũng có thể sửa chữa được.

Một mặt khác, những quyết định có can hệ đến quyền lợi chung của dân chúng được đem ra bàn cải giữa Quốc hội và dân chúng có thể nhờ báo chí, nhờ sự thỉnh cầu nhơn viên Quốc hội mà góp ý kiến mình. Như thế, số mạng dân chúng không phải tùy thuộc ý muốn một người hay một số ít người.

Tuy thế, chế độ đại nghị cũng có những nhược điểm của nó.

Cái hại thứ nhứt của chế độ đại nghị là chánh phủ thường bấp bênh không vững chắc. Những nước theo chế độ này phải để cho dân chúng tự do làm chánh trị. Do đó, trong nước có nhiều đảng phái. Các chánh khách muốn được đắc cử vào Quốc hội tự nhiên phải dựa vào một chánh đảng mới có đủ phương tiện vận động tuyển cử trong dân chúng. Vì thế đại đa số nếu không phải tất cả những nghị sĩ Quốc hội đều là nhơn viên các đảng phái.

Trừ những trường hợp đặc biệt, không đảng phái nào có thể chắc chắn nắm được một đa số tuyệt đối trong Quốc hội. Chánh phủ đại nghị vốn do Quốc hội cử ra nên phải dựa vào các đảng phái. Bởi lẽ không đảng nào chắc chắn có được đa số tuyệt đối trong Quốc hội, hậu thuẫn của chánh phủ chỉ có thể là một mặt trận gồm nhiều chánh đảng. Các chánh đảng này có những chủ trương khác nhau vô cùng. Họ có thể đồng ý nhau về vấn đề này, nhưng lại chọi nhau về vấn đề kia.

Trong tình thế bình thường, ít có việc rắc rối, các chánh đảng trong mặt trận có thể thỏa thuận nhau được lâu, và chánh phủ có thể vững được trong một thời gian khá dài. Nhưng khi tình thế nhiễu nhương, quốc gia gặp nhiều vấn đề rắc rối cần giải quyết, các đảng phái rất khó thỏa thuận nhau về tất cả mọi vấn đề, cho nên khối đa số trong Quốc hội thay đổi rất thường. Trong trường hợp đó, chánh phủ rất khó đứng vững được lâu. Trong khoảng từ năm 1945 đến năm 1955, nước Pháp đã thay đổi chánh phủ đến hai mươi lần, trung bình mỗi chánh phủ chỉ đứng vững được có 6 tháng.

Chính phủ đã bấp bênh như thế, tự nhiên chánh sách của dân tộc không có tánh cách tiếp tục, và sự cố gắng của dân tộc không có hiệu quả nhiều. Ngoài ra, lực lượng quốc gia còn phân tán vì sự cạnh tranh các đảng phái và các nhóm người binh vực những tư tưởng khác nhau.

Nước Anh nhờ một lịch trình tiến hóa đặc biệt mà chỉ gồm có hai chánh đảng quan trọng. Sự tổ chức tuyển cử theo lối đơn danh đầu phiếu và thói quen của dân chúng Anh trong cuộc tuyển cử làm cho các chánh đảng nhỏ khó cạnh tranh lại những chánh đảng lớn này, thành ra chế độ lưỡng đảng dễ được duy trì. Với chế độ lưỡng đảng, trong Quốc hội thường có một chánh đảng chiếm được một đa số tuyệt đối. Lãnh tụ của đảng này tất nhiên là được chỉ định làm thủ tướng. Theo nguyên tắc, ông ta phải tùy thuộc Quốc hội một cách chặt chẽ, nhưng kỳ thật vì đại đa số nghị sĩ Quốc hội là đảng viên ủng hộ ông ta, ông ta có thể điều khiển được Quốc hội. Quyền hành pháp nhờ đó mà được vững chắc trong suốt nhiệm kỳ mỗi nghị hội và người nắm quyền hành pháp được hưởng một sự tự do khá rộng trong sự thi hành chánh sách mình.

Nhưng tình thế nước Anh là một tình thế hy hữu và khó thực hiện.

Vả lại, việc thực hiện chế độ lưỡng đảng, riêng nó, không đủ bảo đảm cho nền tự do dân chủ của quốc gia. Trong một nước theo chế độ đại nghị, cơ quan lập pháp nắm quyền tối cao, các cơ quan hành pháp và tư pháp đều tùy thuộc nó. Do đó, nhà lãnh tụ của đảng đa số có một thế lực rất lớn. Ông ta có thể đưa cho Quốc hội chuẩn y và ban hành những đạo luật hạn chế lần lần quyền hạn đảng đối lập, và với tư cách là thủ tướng chánh phủ, ông ta có thể vận dụng cái thế của chánh quyền để làm tê liệt đảng đối lập và luôn luôn nắm phần thắng lợi trong những cuộc tuyển cử tự do. Cố thủ tướng Menderes nước Thổ nhĩ kỳ đã theo phương pháp này mà duy trì quyền bính cho đến ngày bị quân đội đảo chánh.

Ở những quốc gia theo chế độ đại nghị, nhà lãnh tụ đảng chiếm được đa số ghế trong Quốc hội tự nhiên được đưa ra làm thủ tướng. Trong trường hợp một chánh đảng thắng lợi trong nhiều cuộc tuyển cử liên tiếp, nhà lãnh đạo đảng này tất nhiên được nắm chánh quyền trong một thời gian dài dặc. Dầu cho ông ta có thật tâm thi hành chánh sách dân chủ, việc ông ta nắm mãi chánh quyền cũng làm cho cá nhơn đóng một vai tuồng quan trọng trong chế độ, và việc kế thừa thường đặt ra nhiều vấn đề phức tạp khó giải quyết.

Một nhược điểm khác của chế độ đại nghị là sự làm việc rất chậm chạp và thiếu kín đáo. Trước khi thi hành một kế hoạch gì chánh phủ phải xin phép Quốc hội. Và trước khi quyết định có chấp thuận kế hoạch đó hay không, Quốc hội phải mở cuộc thảo luận. Những cuộc tranh cải ở Quốc hội tất nhiên không sao giữ bí mật được và thủ tục về việc bàn cải biểu quyết ở Quốc hội cũng như về việc thi hành một kế hoạch rất là chậm chạp.

Trong cuộc chiến tranh cân não giữa các nước theo chế độ đại nghị và khối Liên sô theo chế độ độc tài, thường thường khối các quốc gia theo chế độ đại nghị phải ở vào thế thụ động. Họ chỉ lo đối phó với những cuộc tấn công của Nga hay Trung cộng và những chương trình làm việc của họ bị đối phương phá hoại một cách dễ dàng. Khi thương thuyết với khối Cộng sản, khối những nước theo chế độ đại nghị cũng thường bị lép vế. Như thế là vì những cuộc thảo luận ở Quốc hội cũng như sự phản ứng của dân chúng, một mặt giúp cho đối phương thấy rõ dự định của họ cùng những chỗ yếu của họ, một mặt để cho đối phương có đủ thì giờ tổ chức phá hoại.

Vì những nhược điểm trên này, chế độ đại nghị thường làm yếu sức quốc gia. Sự suy kém này lại càng trầm trọng vì nguyên tắc vô trách nhiệm của chế độ đại nghị. Trong chế độ này, vị quốc trưởng vô trách nhiệm vì không có thực quyền, chánh phủ vô trách nhiệm vì chỉ làm việc theo quyết định của Quốc hội, nghị sĩ Quốc hội cũng vô trách nhiệm vì họ đại diện cho dân chúng. Trong lúc bình thường, mọi người đều làm theo ý mình chẳng cần nghĩ đến hậu quả những việc làm đó. Nhưng lúc tình thế khó khăn, người ta lại đổ lỗi và đùn việc cho nhau.

Dân tộc Pháp đã hiến cho ta nhiều gương thảm bại về việc này. Trước trận chiến tranh 1939-1945, các đảng phái chống chọi nhau lung tung khiến cho quốc gia suy yếu và thua nước Đức. Khi thất trận rồi, chánh phủ đại nghị trốn trách nhiệm và tự giải tán, nhường quyền lại cho thống chế Pétain để ông này đứng ra nhận chịu những điều kiện đình chiến của Đức. Đến lúc nước Pháp được giải phóng, người ta lại lôi thống chế Pétain ra tòa buộc vào tội phản quốc.

Đệ Tứ Cộng hòa Pháp quốc thành lập sau năm 1945 cũng không hơn gì Đệ Tam Cộng hòa. Các đảng phái Pháp cứ phá rối nhau, làm cho chánh phủ bị lật đổ, nhiều khi ngay lúc cần phải giải quyết những vấn đề quốc tế trọng hệ cho sự sinh tồn của dân tộc. Lắm lúc những lý do được đưa ra để lật đổ chánh phủ hết sức nhỏ nhen và các chánh đảng gây ra tình trạng hỗn độn trong nước thường cũng không có giải pháp gì khác hơn là chánh phủ bị lật đổ.

Trong tình thế đó, tự nhiên địa vị quốc tế của Pháp không thể vững được và nước Pháp lần lần bị các bạn đồng minh nghi ngờ hay khinh rẻ.

Để sửa chữa những khuyết điểm của chế độ đại nghị, những chánh khách cầm đầu phong trào lật đổ Đệ Tứ Cộng hòa Pháp đã đưa ra một hiến pháp đặc biệt : hiến pháp De Gaulle. Theo lời họ, hiến pháp này vẫn tôn trọng nguyên tắc đại nghị. Nhưng kỳ thật, nó đã làm cho chế độ đại nghị hoàn toàn biến hình. Quốc hội không còn là cơ quan nắm giữ chủ quyền và không còn thế lực nhiều đối với Thủ tướng. Ngay đến việc lập pháp, quyền Quốc hội cũng bị hạn chế rất nhiều.

Thực quyền được chuyển sang Tổng thống và với danh nghĩa là một người “ trọng tài “. Tổng thống thật sự đứng trên Quốc hội và Thủ tướng. Hiện nay, nhờ có công cứu quốc và do đó mà có một uy tín rất lớn trong nhơn dân, nhờ bản tánh tôn trọng nền dân chủ, De Gaulle vẫn giữ cho chế độ hiện hữu ở Pháp có tánh cách ôn hòa và không phản dân chủ. Với một tổng thống khác, hiến pháp Đệ ngũ Cộng hòa Pháp có thể đưa đến chế độ độc tài một cách dễ dàng. Vì đó, các nhà chánh trị học khách quan đều bảo rằng chế độ De Gaulle không thế nào tồn tại sau De Gaulle được.

Người ta có thể không đồng ý về sự phê phán này, nhưng dầu sao ta cũng phải công nhận rằng chế độ Đệ ngũ Cộng hòa Pháp là một chế độ lai căn, không thật là chế độ đại nghị mà cũng không thật là chế độ tổng thống, và chẳng những không họp tập được cái hay của cả hai chế độ ấy như những tác giả bản hiến pháp De Gaulle mong ước, nó còn kém hơn cả hai chế độ ấy trong việc bảo vệ nền tự do dân chủ.

Về chế độ đại nghị thuần túy, ta còn có thể nhận thấy rằng sự miễn tố, rất cần thiết để cho các nghị sĩ tự do trình bày ý kiến không sợ chánh quyền làm khó, đã đưa đến nhiều sự lạm dụng đáng tiếc. Một số nghị sĩ đã dựa vào nó mà đưa ra những chủ trương phản quốc một cách rõ rệt. Đảng viên cộng sản ở các nước dân chủ đại nghị đã lấy nghị trường làm nơi hoạt động và việc làm của họ có hại rất nhiều cho quyền lợi dân tộc mà các chánh phủ không thể chấm dứt được.

3/- Chế độ Tổng Thống.

Chế độ Tổng thống là chế độ thi hành ở Hiệp chúng quốc Mỹ và Phi luật tân. Nó là một biến thể của chế độ đại nghị. Thật ra thì những nhà lập ra hiến pháp Mỹ đã dựa vào hiến pháp Anh lúc nhà vua Anh hãy còn nhiều quyền hành và trách nhiệm.

Đặc điểm của chế độ tổng thống là ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân ra và độc lập đối với nhau.

Theo chế độ độc tài, tất cả quyền bính qui vào cơ quan hành pháp. Cơ quan lập pháp chỉ có nhiệm vụ tán thành các quyết định của cơ quan hành pháp. Cơ quan tư pháp cũng là tay sai của cơ quan hành pháp.

Chế độ đại nghị chấp thuận nguyên tắc phân quyền, nhưng thật sự trong chế độ ấy, cơ quan lập pháp giữ một vai tuồng ưu tiên. Cơ quan hành pháp tùy thuộc cơ quan lập pháp. Về cơ quan tư pháp, nó không phải lệ thuộc vào cơ quan hành pháp, nhưng vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng cơ quan hành pháp.

Trong chế độ tổng thống, ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có những quyền rõ rệt và được xem là ngang nhau.

Cơ quan lập pháp là Quốc hội. Ở Hiệp chúng quốc Mỹ, Quốc hội gồm có hai viện : Thượng nghị viện, nhơn viên là đại diện các tiểu bang và Hạ nghị viện, nhơn viên là đại diện do dân chúng công cử theo lối phổ thông đầu phiếu. Quốc hội giữ quyền làm luật, quyền quyết định chánh sách ngoại giao và quyền thiết lập ngân sách.

Quốc trưởng Hiệp chúng quốc Mỹ là một vị tổng thống do dân chúng đầu phiếu công cử. Ông nắm quyền hành pháp trong suốt nhiệm kỳ, Quốc hội không thể lật đổ ông được. Trừ những vấn đề quan trọng có can hệ đến vận mạng quốc gia hay đến quyền lợi toàn dân, như vấn đề ngoại giao, vấn đề đánh thuế và tiêu phí ngân sách, ông phải tuân theo ý kiến Quốc hội, còn thì ông được trọn quyền thi hành chánh sách mình.

Ngoài ra, Tổng thống lại còn có quyền phủ quyết không thi hành một đạo luật do Quốc hội thông qua. Chỉ sau khi Quốc hội bỏ thăm chấp thuận luật này một lần thứ nhì với đa số 2/3, Tổng thống mới bị bắt buộc phải theo.

Như thế, Tổng thống và Quốc hội ngang quyền nhau và một Tổng thống có thể nắm quyền cai trị quốc gia với một Quốc hội nghịch lại mình. Trong trường hợp Tổng thống và Quốc hội xung đột nhau về vấn đề quyền hạn, sự tranh chấp do Thượng thẩm viện là cơ quan tư pháp tối cao phán đoán.

Thượng thẩm viện gồm có 9 vị thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm sau khi thỏa thuận với Quốc hội. Khi đã được bổ nhiệm họ được giữ chức vụ đến lúc chết, tự do xin từ chức hay bị bãi miễn vì phạm trọng tội. Sự bãi miễn nhơn viên Thượng thẩm viện cũng do Tổng thống quyết định với sự chấp thuận của Quốc hội. Thượng thẩm viện quyết định bằng lối đầu phiếu lấy đa số. Nó có trách vụ bảo vệ hiến pháp và giữ quyền phán quyết trong những vụ xung đột giữa các tiểu bang với nhau, giữa các tiểu bang với chánh phủ trung ương và giữa chánh phủ với Quốc hội. Nó cũng điều khiển bộ máy tư pháp và đảm nhận nhiệm vụ phán quyết trong những vụ xung đột giữa dân chúng.

Quyết định của Thượng thẩm viện là quyết định tối hậu, Tổng thống và Quốc hội đều phải tuân theo. Tuy thế, nó không phải là cơ quan chi phối cả đời sống chánh trị của Hiệp chúng quốc Mỹ như nhiều người thường bảo, vì nó chỉ can thiệp khi Quốc hội và Tổng thống xung đột nhau về vấn đề quyền hành, còn bình thường nó không biết đến hoạt động chánh trị của Quốc hội và Tổng thống.

Xét chế độ Tổng thống, ta thấy rằng nó là một chế độ họp tập được nhiều cái hay của cả hai chế độ, chế độ độc tài và đại nghị. Dân chúng vẫn được hưởng các quyền tự do căn bản và được tham dự đời sống chánh trị trong nước. Do đó, quyền lợi họ cũng được bảo vệ như trong chế độ đại nghị. Nhưng một mặt khác, chánh phủ đứng vững được trong một thời hạn nhứt định và cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái thường chỉ mãnh liệt trong thời kỳ tuyển cử mà thôi. Chánh sách quốc gia nhờ đó mà có tánh cách tiếp tục và sự tranh chấp hỗn loạn có thể tránh được. Nhưng một mặt khác, nhiệm kỳ của Tổng thống có một thời hạn nhứt định. Nếu hiến pháp qui định rõ rệt số nhiệm kỳ liên tiếp mà một cá nhơn có thể đảm nhiệm, ta có thể tránh được nạn lãnh tụ một chánh đảng nắm mãi chánh quyền. Như thế, nhiều khuyết điểm của chế độ đại nghị đã được sửa chữa và quốc gia có kỷ luật hơn.

Tuy nhiên, chế độ Tổng thống cũng không phải là hoàn toàn. Nó không tránh được nhiều mối hại của chế độ đại nghị.

Trong việc đối phó với dân tộc khác, dân tộc theo chế độ Tổng thống cũng tùy thuộc dư luận quần chúng và khó làm việc một cách nhanh chóng và kín đáo. Cuộc chiến tranh nguội Mỹ Nga đã cho ta thấy rằng Mỹ, cũng như Anh Pháp, thường phải giữ thái độ thụ động trước những cuộc tấn công và phá hoại của Nga.

Tuy không mãnh liệt bằng ở Pháp, cuộc cạnh tranh đảng phái Mỹ lắm khi cũng rất tai hại và bị Nga lợi dụng đến triệt để. Ngoài ra, nước theo chế độ Tổng thống thường bị tê liệt trong năm tuyển cử Tổng thống. Trong năm này, nhơn vật hay chánh đảng nắm quyền hành pháp thường giữ một thái độ e dè, vì sợ một sự lầm lỡ của mình bị nhóm đối lập lợi dụng để phản tuyên truyền thành ra mình phải mất quyền chánh trong cuộc tuyển cử sẽ tới. Thái độ e dè này không có hại nhiều cho nền chánh trị nội bộ, nhưng có thể có những hậu quả tai hại trong chánh sách đối ngoại. Trong cuộc chiến tranh nguội Mỹ Nga mấy năm sau này, ta có thể nhận thấy rằng những năm Mỹ tổ chức tuyển cử Tổng thống, Nga thường thắng lợi trong những cuộc tấn công chánh trị của mình.

Một mặt khác, chế độ Tổng thống có thể đưa đến sự lạm dụng quá đáng. Một trong những khuyết điểm của chế độ Tổng thống Mỹ là nghị sĩ Quốc hội ở hai viện lập nên những nhóm dùng thế lực và quyền miễn tố của mình để làm kinh tài một cách ngang nhiên, không ai có thể trị được. Ngoài ra, nếu cơ quan hành pháp có dã tâm, nó có thể che đậy một số nhơn viên làm bậy. Hơn nữa, một vị Tổng thống tham quyền có thể lợi dụng thế lực mà thiết lập chế độ độc tài. Người Pháp sở dĩ không dám theo chế độ Tổng thống là vì trong lịch sử, họ đã bị một vị Tổng thống phản bội hiến pháp để tự xưng hoàng đế với huy hiệu là Nã phá luân Đệ Tam (Napoléon III ).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.