Science&Technology

Ngày Pháp qua xứ An Nam thì khu vực Đông nam Á nói chung và VN nói riêng hãy còn hoang sơ chưa phát triển, công cuộc khai hóa của người Pháp bắt đầu và đã làm thay đổi toàn bộ xã hội và con người VN, cái ảnh hưởng đó còn lưu lại trong mọi khía cạnh đời sống và cả trong nếp suy nghĩ con người VN. Có một cái không ai phủ nhận trong quá trình phát triển kinh tế tầm nhìn của người ta rất xa và bao quát, tuy là nước thuộc địa nhưng người ta vẫn tuân thủ những quyền lợi và bảo vệ môi trường rất tốt… cái nhân trong đối xử vẫn còn, cái gì CS tuyên truyền đã làm lệch rất nhiều về sự khai hóa văn minh của người Pháp. Đến khi Mỹ đặt chân lên VN Sài gòn lúc đó đã là Hòn ngọc viễn đông và kinh tế vẫn phát triển vùn vụt mặc dù cuộc nội chiến vẫn chưa kết thúc, có nhiều thành tựu chính người VN đã làm được khi đó dẫn đầu cả khu vực như : Sản xuất ra đàn Piano hiệu Vĩnh xương, chế tạo được máy hát và thành lập hãng thu băng, có nhiều tập đoàn Tư sản làm ra nhiều sản phẩm không thua kém gì phương tây… Những thành tựu đó đạt được là do thành quả lao động của chính người VN, trong môi trường dân chũ khả năng tư duy sáng tạo được phát huy tối đa và ngay cả trong điều kiện là nước thuộc địa khả năng đó vẫn được thể hiện. Ngày nay, sau bao nhiêu năm phát triển những gì đẹp nhất trong Tp. đều là cái Pháp để lại, dấu ấn nền văn minh phương tây của Pháp khi xưa vẫn đẹp hơn những cái hình thành do CS đem lại. Và những con người VN bửa nay phải đi ăn mày, xin từng đồng viện trợ của nước ngoài để phát triển đất nước, cái nhục đi xin tiền khiến cả thế giới khinh bỉ người dân Việt

Cách Thức Vượt Tường Lửa

Tài liệu này không đề cập đến lý thuyết và các vấn đề của tường lửa, mà chỉ trình bày các cách vượt tường lửa ngắn gọn. Vì vượt tường lửa của các xứ độc tài (mà Việt Nam là một) là một hình thức rượt đuổi – khi người ta tìm ra được một cách vượt tường lửa thì chế độ độc tài lại tìm cách khóa lại, rồi người ta lại tìm một cách khác …. – do đó tài liệu này chỉ hữu ích nếu nó làm giúp được người dùng biết cách vượt tường lửa hơn là cung cấp nơi vượt tường lửa.

1. Dùng phần mềm đặc biệt để vượt tường lửa:

Có một số phần mềm có thể dùng trong việc vượt tường lửa để xem các trang web bị ngăn chận.

- Tor: http://www.torproject.org/ Sau khi download về, cần phải định hình browser. Để tiện gọn hơn, dùng torpark là một gói phần mềm miễn phí sẵn sàng để sử dụng mà không cần cài đặt gì cả. Download xuống và dùng thôi. Bạn tìm phần mềm torpark trên net, dùng keyword “torpark”. Torpark đã ngừng lại ở ấn bản 1.5.0.7. Thay thế nó là xB Browser.

- xB Browser: http://xerobank.com/xB_Browser.php. Phần mềm này là hậu thân của torpark. Nếu sử dụng với tính cách cá nhân thì bạn có thể dùng xB Browser miễn phí. Download nó xuống, cài đặt và dùng xB Browser như bạn dùng IE hay FireFox để vượt tường lửa xem các trang web bị chận.

- FreeGate: http://www.dit-inc.us/freegate Phần mềm miễn phí do công ty Dynamic Internet Technology (DIT) thực hiện để giúp người sử dụng tại Trung Quốc vượt tường lửa. Chỉ cần download và chạy. Phần mềm sẽ tự động đi tìm các proxy servers, định hình trong IE browser. Bạn dùng IE sau đó để xem các trang web bị chận.

- UltraSurf: http://www.ultrareach.com/company/download.htm Vì các trang web của Pháp Luân Công bị chận bởi tường lửa Trung Quốc họ mới thành lập công ty UltraReach Internet Corp để thực hiện phần mềm UltraSurf miễn phí giúp cho người dân Trung Quốc vượt tường lửa. Tuy nhiên bất cứ ai ở các quốc gia độc tài cũng dùng phần mềm này được để vượt tường lửa của xứ họ.

2. Dùng proxy servers để vượt tường lửa:

Proxy servers là những server làm trung gian để lướt mạng và qua đó giúp vượt tường lửa. Proxy servers trong dạng địa chỉ IP và bạn phải vào trong browser IE, FireFox, v.v… để cài địa chỉ IP của proxy server đó vào. Sau đó bạn dùng browser để lướt mạng xem những trang web bị chặn trước đó.

a) Tìm danh sách các proxy servers: Có những trang như www.proxy4free.com liệt kê các proxy servers miễn phí. Nếu bạn không vào được trang trên thì vào net tìm “free proxy servers”.

b) Cài địa chỉ IP của proxy servers vào browser: Địa chỉ IP của proxy servers trong dạng số a.b.c.d và có thể có số cổng (port number). Thí dụ: 63.149.98.48, port 80.

Internet Explorer: Vào Tools, Internet Options, Connections, LAN settings, rồi trong phần “Proxy server”, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

FireFox: Vào Tools, Options, Advanced, Network, bấm vào nút Settings, chọn “Manual proxy configuration”, rồi trong hàng HTTP Proxy, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

3. Dùng Anonymizer web / web proxy để vượt tường lửa:

Anonymizer là những dịch vụ giúp người dùng lướt mạng một cách kín đáo và giúp đi xuyên qua tường lửa. Dịch vụ anonymizer căn bản chỉ là những trang web proxy. Người ta vào các trang web đó, rồi đánh vào địa chỉ của trang web đã bị ngăn chận. Các trang web anonymizer sẽ làm công việc trung gian chuyển tải nội dung trang web bị chận xuống đến máy vi tính của người lướt mạng.

Quý bạn không cần phải download phần mềm nào cả, không cài đặt gì cả, không sửa đổi gì trong browser của mình cả, chỉ duy nhất đến trang web cung cấp dịch vụ anonymizer (một số miễn phí, một số khác tính tiền)

Những trang anonymizer phổ thông như:

www.anonymouse.org

www.hidemyass.com

www.shadowsurf.com

www.anonymizer.com

https://proxify.com/

www.proxyforall.com

www.proxeasy.com

Nếu những trang trên đã bị chế độ độc tài biết đến và chận lại thì bạn vào các trang tìm kiếm như google.com, yahoo.com, v.v… để đi tìm cách dịch vụ khác. Chữ (keyword) đi tìm là “anonymizer”.

Để tài liệu này ngày một hữu ích và dễ dùng hơn cho thật nhiều người, chúng tôi ước mong được đón nhận các góp ý, phê bình, và hướng dẫn từ tất cả các bạn.


- Psiphon : Một cách vượt tường lửa khác

http://www.viettan.org/spip.php?art…

 

Ðiều lo nhất về Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng

Có bẩy triệu người Việt Nam đã vào mạng lưới của nhóm trí thức chống việc các công ty Trung Quốc khai thác bô xít (bauxite). Người Việt ở trong và ngoài nước đều lo lắng về vụ này. Không biết đến lúc nào những người chủ trương mạng lưới đó sẽ bị bắt, như các ông Ðiếu Cầy và Người Buôn Gió.

Người Việt Nam cũng lo lắng về chủ trương bành trướng của Trung Quốc ở biển Ðông. Tờ Tuổi Trẻ tại Sài Gòn mới thuật lại cuộc chiến đấu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống quân Trung Quốc chiếm Hoàng Sa vào Tháng Chín năm 1974. Trên các mạng lưới đang truyền nhau những tin tức về việc Trung Quốc phát triển hải quân và so sánh lực lượng giữa nước này với nước Mỹ ở vùng Á Ðông.
Các hiện tượng trên cho thấy hai mối lo lớn của người Việt trước mối đe dọa của nước láng giềng phía Bắc. Một là Trung Quốc đang củng cố sức mạnh quân sự, họ có thể tái diễn những cuộc xâm lăng Việt Nam như vào thế kỷ 15 và 18 hay chăng? Hai là một “diễn biến hòa bình,” đang biến nước Việt Nam thành mảnh đất cho người Trung Quốc khai thác mà không cần phải xâm chiếm. Họ chỉ cần nắm đầu được một đảng độc tài là có thể sai bảo cả công an lẫn quân đội để dẹp tan những đám dân Việt phản đối.
Nhưng thực sự đâu là mối lo lâu dài và lớn nhất của dân tộc Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh?
Một người bạn tôi mới trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tầu có một nhận định khác. Theo anh, những vụ Hoàng Sa, Trường Sa và Bô xít chỉ là chuyện trước mắt và ngắn hạn. Mối lo dài hạn cần chú ý là trong lúc người Trung Hoa đang quyết tâm tiến tới trên con đường cải tổ để bước vào thế kỷ 21 thì người Việt Nam vẫn bị lúng túng không thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu còn rơi rớt từ thế kỷ 19. Cứ như vậy thì trong một hai thế hệ nữa người mình sẽ trở thành lệ thuộc, nếu không phải là “nô lệ” cho người Trung Hoa; dù họ không đem quân chiếm nước mình, dù mình vẫn còn tên nước Việt Nam, vẫn có một chính phủ người Việt cai trị dân Việt. Trung Quốc sẽ làm chủ, người Việt làm công, và điều đáng buồn là cả thế giới coi đó là chuyện tự nhiên không cần can thiệp. Vì trong thế cạnh tranh sinh tồn hiện nay, dân tộc nào yếu thì sẽ đóng vai làm công cho dân tộc mạnh.
Tại sao có thể xẩy ra tình trạng đó? Anh Trần là người quốc tịch Mỹ, công ty anh đang đầu tư ở Trung Quốc làm một sản phẩm mới, sản phẩm này đang thông dụng rồi sẽ tràn ngập khắp thế giới trong vài chục năm nữa, chúng tôi xin phép không nói rõ hơn để khỏi làm phiền cho bản thân anh. Những cuộc gặp gỡ với quan chức và cán bộ quản lý kinh doanh ở Trung Quốc làm cho một người Việt như anh phải thấy sợ. Người Trung Quốc họ làm việc ào ào, mở rộng cửa đón tư bản nước ngoài để tiếp nhận các kỹ thuật mới, học cách tấn công các thị trường mới. Anh Trần so sánh giới quan chức, cán bộ Trung Quốc khác những người ở Việt Nam: Họ có ăn nhưng cũng có làm việc. Trong khi ở nước mình thì không lo công việc mà chỉ biết ăn. Công ty của anh đã thăm dò việc đầu tư ở Việt Nam mấy năm trước đây; nhưng phải bỏ ý định đó vì cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới vẫn coi người ngoài quốc đến nước mình đầu tư là đến “xin ân huệ” chứ không phải đem đến cho dân mình kỹ thuật mới, mở mang cho nước mình những ngành hoạt động mới. Có lẽ họ coi thường đồng bào người Việt mà chỉ biết kính trọng các ông chủ ngoại quốc. Nhưng họ vẫn giữ một thói quen: Chỉ lo bòn rút cho bản thân mình, không cần đến công việc.
Ở Trung Quốc thì khác. Từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, họ chiều đãi các công ty ngoại quốc đến đầu tư. Họ sẵn sàng cung cấp đất để mở cơ xưởng mà không lấy tiền thuê đất trong nhiều năm. Họ sẵn sàng góp một phần vốn nhỏ hơn 50% và người ngoại quốc đầu tư có quyền mua lại số cổ phần đó trong tương lai. Nghĩa là nếu công việc thất bại thì người ngoại quốc chỉ mất ít, là phần vốn đã bỏ vô dưới 100%; mà nếu thành công thì vẫn có hy vọng hưởng nhiều hơn bằng cách mua lại các cổ phần của người Trung Quốc. Một viên chức trẻ tuổi ở Bắc Kinh nói thẳng rằng anh ta có một quỹ đầu tư hàng tỷ Mỹ kim, lấy trong số ngoại tệ dự trữ hơn 2,000 tỷ của ngân hàng trung ương; và anh ta có quyền chi vào các dự án đầu tư với người nước ngoài.
Họ có tham nhũng hay không? Anh Trần thấy chắc là phải có. Thế nào họ cũng chấm mút khi được quyền sử dụng những món tiền lớn như vậy. Cứ xem cách ăn ở, giao dịch của họ thì biết. Nhưng có một điều là họ có làm, làm việc thực sự, một dự án nhà máy được hai bên đồng ý và chấp thuận rồi, ba tháng sau nhà máy đã được khánh thành. Họ chạy hối hả, và họ biết rõ đang muốn gì: Sản xuất đến xuất cảng. Du nhập kỹ thuật mới, phương pháp quản lý mới, phương pháp mới để chinh phục thị trường thế giới như các công ty Mỹ đang làm. Sang năm 2010 hội chợ Thượng Hải sẽ trưng bầy những sản phẩm mới cho cả thế giới thấy, trong đó sẽ có những sản phẩm của công ty anh Trần đang làm.
Họ coi anh Trần là người Mỹ, và nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên lúc đầu khi anh tự giới thiệu là gốc người Việt Nam. Họ tỏ ra lễ phép với anh, nhưng không ngần ngại cho thấy là họ coi thường người Việt Nam. Ðây là một điều đau lòng, nhưng anh phải nói thật: Người Trung Hoa vẫn còn nhắc đến vụ đảng Cộng Sản Việt Nam “vô ơn bạc nghĩa” khi sau năm 1975 quay theo Nga để chống Tầu. Họ nhắc lại sự kiện này như để giải thích thái độ của họ: Khinh thường người Việt Nam! Chúng ta có thể thấy trong những mạng lưới bên Tầu khi họ công khai phổ biến những tài liệu chứng tỏ nếu không có quân đội Tầu giúp thì người Việt Nam không chống nổi Pháp mà cũng không đánh nổi Mỹ! Họ không ngần ngại sẵn sàng nói những lời miệt thị tất cả giới lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, dù trước mặt một người Việt như anh Trần họ vẫn tỏ ra lịch sự, tôn kính. Ngay bây giờ, nhiều người Trung Hoa ở lục địa nói thẳng, các công ty Trung Quốc vẫn còn chú ý đến thị trường Việt Nam một chút. Vì họ coi đó là một nơi để “đổ rác,” tức là những sản phẩm thiếu tiêu chuẩn không được thị trường thế giới chấp nhận. Chính người Trung Hoa có tiền cũng không muốn mua những sản phẩm tiêu chuẩn thấp đó. Các xí nghiệp Trung Quốc sẵn sàng bán đổ bán tháo (dumping) những món hàng này sang Việt Nam, vì nếu không cũng vứt bỏ đi. Vì vậy, bán giá nào cũng được; mà người Việt Nam thấy rẻ thì vẫn ham mua. Nhưng đối với Trung Quốc, Việt Nam không đáng quan tâm. Họ lo chinh phục cả thế giới, và chỉ tôn trọng những nước có lực, có tiền!
Nhưng điều anh Trần lo lắng muốn chia sẻ với chúng tôi khi anh trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tầu lo công việc, là người Trung Hoa họ quyết tâm tiến bộ thật, trong khi nước mình vẫn lúng lúng vì cả guồng máy cai trị tham nhũng và bất lực. Anh nhắc lại nhiều lần: Chúng nó cũng ăn, nhưng chúng nó có làm việc thật. Quan chức Việt Nam thì chỉ lo ăn mà không cần làm! Trong vài chục năm nữa, trong nửa thế kỷ nữa, người Tầu sẽ tiến xa, khoảng cách phát triển giữa hai dân tộc sẽ càng ngày càng rộng. Và lúc đó mình sẽ hoàn toàn đóng vai một nước phụ thuộc, nếu không nói là lệ thuộc, biến thành một thị trường và người làm công cho cường quốc kinh tế lớn nhất nhì thế giới ở ngay bên láng giềng!
Hiện nay người Việt chúng ta coi việc khai thác Bô xít ở Tây nguyên là một cuộc xâm lăng kinh tế đe dọa chủ quyền đất nước. Nhưng đối với người Trung Hoa ở lục địa thì đó cũng chỉ là một dự án nhỏ trong hàng ngàn dự án đầu tư để khai thác tài nguyên khắp thế giới, từ Á Châu sang Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Họ cũng sang Congo, sang Sudan khai thác quặng mỏ. Họ đầu tư vào dầu khí ở các nước Trung Á, ở Canada. Các công ty Trung Quốc đang đi mua cổ phần của các công ty tiên tiến nhất từ Âu Châu sang Mỹ Châu, dù chỉ một phần nhỏ. Một vụ nổi tiếng là dự án của Chinalco tính bỏ ra 19 tỷ rưỡi để tăng gấp đôi phần hùn trong công ty Rio Tinto ở Úc lên 18%, đã bàn cãi cả năm và mới bị Úc gạt bỏ vào Tháng Sáu vừa qua. Trung Quốc là thị trường lớn nhất mua quặng mỏ của Úc. Nhưng chính phủ Úc vẫn không cảm thấy sợ sệt lo làm vui lòng chính quyền Trung Quốc.
Ông thủ tướng Úc nói tiếng Tầu thông thạo, nhưng không ngần ngại tỏ ra bất cần trước những áp lực của Bắc Kinh. Trước khi ông Nguyễn Minh Triết sang Úc, một người đã được dân Úc tiếp đón là bà Rebiya Kadeer, một người gốc Uighur đang sống ở Mỹ và đang bị bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh mô tả là người thúc đẩy dân Uighur ở Tân Cương nổi loạn. Ðầu Tháng Tám, khi nghe tin dân Úc sắp mời bà Kadeer sang dự một liên hoan phim ảnh tại Melbourne trong đó chiếu một cuốn phim về cuộc đời tranh đấu của bà, Ngoại Trưởng Trung Quốc Hà Á Phi đã bãi bỏ một chuyến viếng thăm để tỏ ý phản đối. Chính phủ Tầu còn làm áp lực với ban tổ chức yêu cầu họ ngưng chiếu cuốn phim đó. Họ cũng làm áp lực lên thị trưởng thành phố Melbourne, đòi bãi bỏ việc kết nghĩa giữa thành phố này với Thiên Tân. Và họ làm áp lực cả với câu lạc bộ Báo chí Quốc gia tại thủ đô Canberra không muốn họ mời bà Kadeer đến diễn thuyết. Nhưng tất cả các áp lực đó đều vô hiệu. Và bên cạnh những la lối ồn ào đó, các bộ trưởng hai nước vẫn ký một hợp đồng, công ty PetroChina Trung Quốc mua 41 tỷ Mỹ kim khí đốt của công ty Exxon Mobil tại Úc. Dân Úc chống, cứ chống. Chính phủ Trung Quốc không bằng lòng thì rán chịu.
Trong lúc chính quyền Úc bình tĩnh và cứng rắn đối với Trung Quốc như vậy, thì ở Việt Nam những ai bầy tỏ ý kiến chống đối việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa trước sau đều bị đàn áp. Ðàn áp để làm gì? Có phải vì công an bắt người Việt Nam không được mặc áo phông viết chữ bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa mà chính quyền Bắc Kinh tử tế hơn với nước Việt Nam, với đảng Cộng Sản Việt Nam hay không?
Mà trong lúc chính quyền Cộng Sản chỉ lo đàn áp dân như thế, người Trung Hoa họ vẫn tiến tới. Thế giới sẽ không thèm quan tâm đến chủ quyền của Việt Nam trên những vùng đất và biển đã bị chiếm. Vì nước nào lo quyền lợi của nước đó, không ai lo giúp chuyện người ngoài, dân tộc nào cố giữ lấy chủ quyền của mình. Bây giờ người Trung Quốc đã bắt đầu sang Việt Nam đóng vai ông chủ ở Cao Bằng, Lạng Sơn; cho người Việt đóng vai làm công và chạy việc. Anh Trần lo sẽ có ngày chính người Trung Quốc cũng không thèm đóng vai ông chủ nhỏ ở Việt Nam nữa. Vì họ còn lo đầu tư ở những nơi sinh lợi hơn và lo đi chinh phục các thị trường khắp thế giới.
Vậy thì người Việt Nam chúng ta phải làm gì? Ðây là một câu hỏi để mọi người Việt cùng suy nghĩ và thảo luận. Bởi vì dân Việt Nam không phải là dân hèn. Hãy coi mối lo lắng của anh Trần là tiếng chuông báo động.

Ngô Nhân Dụng

Khi người Mỹ chán ghét hàng Trung Quốc

Uyển Mai - Tổng hợp

Từ vỏ xe dzỏm đến vách nhà thối

Sở Y Tế bang Florida (USA) đã nhận hơn 140 đơn khiếu nại của cư dân về việc vách ngăn của căn nhà họ đang ở bỗng dưng phát mùi hôi thối: người ta ngửi thấy trong nhà có một mùi kỳ lạ giống như mùi trứng thối, thậm chí có người còn bị nhức đầu và rát cổ họng, tìm kiếm mãi mới phát giác ra “thủ phạm” chính là những vách ngăn (dry wall). Sau khi coi lại mới biết những vách ngăn này được nhập từ… Trung Quốc!
Mùi trứng thối đó là do vách ngăn có hàm lượng chất lưu huỳnh quá cao. Chất lưu huỳnh này còn ăn mòn các ống dẫn và dây điện gắn trong tường. Những ngôi nhà gặp tình trạng đó đa số được xây trong những năm 2005- 2006, lúc vật liệu xây dựng khan hiếm vì nhà đất đang được giá, nhiều nhà thầu xây cất đã mua các vách ngăn từ Trung Quốc mà không quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Không riêng Florida, những tiểu bang khác như Louisiana, Alabama…, nơi có độ ẩm cao, cũng bị cảnh ngộ tương tự. (1)

Người Việt yêu nước Việt

Không quá khó để hình dung ra sự tức giận của chủ nhân các căn nhà đó: một căn nhà mới toanh bỗng nhiên bị hư hại nặng nề mà chẳng phải vì bão lụt gì hết. Người Mỹ còn chưa quên việc vỏ xe Trung Quốc thiếu phẩm chất đã gây ra hàng loạt tai nạn và việc đồ chơi trẻ em, đồ gia dụng… bị nhiễm chất chì độc hại. Sự bực tức lên đến mức một bài báo phải lấy tựa đề là: “Communism Seeps Into American Homes And It Smells Like Rotten Eggs.” (Chủ nghĩa Cộng Sản đang mò vào nhà người Mỹ và nó có mùi trứng thối) (2)
Thuế vỏ xe của Tổng thống Obama làm Trung Quốc tím mặt
Trước khi đón tiếp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trong hội nghị thượng đỉnh G-20 tháng 9 này, Tổng thống Barack Obama đã ra quyết định đánh thuế thêm 35% trên mức thuế cũ 4% mặt hàng vỏ xe Trung Quốc bắt đầu từ 26/09/2009. Qua năm thứ hai, mức thuế sẽ là 30%, và năm thứ ba sẽ là 25%
Từ nhiều năm qua, giá công nhân rẻ mạt với những quy định kém về môi sinh và an toàn lao động đã giúp cho vỏ xe Trung Quốc có giá thành quá rẻ. Thế nhưng, với mức thuế nói trên (tuy vẫn thấp hơn mức đề nghị của Cơ quan Thương mãi Quốc tế Hoa Kỳ) vỏ xe Trung Quốc sẽ không còn dễ dàng chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ. Thậm chí mức thuế đó còn có thể chặn luôn sự nhập cảng mặt hàng này.
Ông Chen Deming, Bộ trưởng bộ Thương mại Trung Quốc, nói rằng, “Đây là một hình thức trầm trọng của hành vi bảo hộ mậu dịch. Nó không những vi phạm luật lệ của WTO mà còn làm trái lại lời cam kết của Hoa Kỳ tại Hội nghị Thượng đỉnh Tài chính G-20. Nó là một sự lạm dụng những điều khoản bảo vệ đặc biệt và sẽ tạo ra một tín hiệu sai lầm với thế giới.”
Để trả lời những cáo buộc của Trung Quốc, phát ngôn viên của tòa Bạch Ốc, ông Robert Gibbs, phát biểu, “Chúng tôi (Hoa Kỳ) chỉ đơn giản làm việc chấn chỉnh lại những quy định đó và chúng tôi mong mỏi người Trung Quốc cũng hiểu được những quy định này.” (3)
Hoa Kỳ không thiếu nghệ nhân thủ công mỹ nghệ
Không thể chối cãi việc sản phẩm nước ngoài, nhất là hàng Trung Quốc, được bày bán tràn lan ở Mỹ vì giá rẻ và mẫu mã phong phú, bắt mắt. Nhưng sẽ là một lầm lẫn to lớn nếu nghĩ rằng người Mỹ không biết hay không thích tự làm lấy vật dụng cho mình.
Hàng thủ công mỹ nghệ của Hoa Kỳ ít được người nước ngoài biết đến vì giá thành khá cao nhưng đã và đang giữ một vị trí quan trọng trong đời sống cũng như trong văn hóa Mỹ. Những sản phẩm thủ công như thêu đan, may mặc, nữ trang, vật dụng, đồ chơi… không chỉ là vật để đem bán lấy tiền mà còn là cách giúp người nghệ nhân thể hiện khiếu thẩm mỹ của mình. Tuy không kiếm được nhiều tiền, đa số nghệ nhân đều cảm thấy hài lòng vui vẻ vì đó vừa là nghề tự do vừa là thú tiêu khiển của họ. (4)
Với sự hỗ trợ của Internet, hoạt động của các nghệ nhân Hoa Kỳ ngày càng được nhiều người biết đến. Người Mỹ mua nhiều hơn những mặt hàng “pround-to-be-made-in-USA” (hãnh diện được làm tại Mỹ). Theo báo cáo của Association of Crafts and Creative Industries (Hiệp hội các nghề Thủ Công và Sáng tạo – UM) ngành thủ công Hoa Kỳ đã từng có lúc thu vào gần 10 tỷ đô la một năm. (5)

Cơ hội cho Việt Nam?

Khi người Mỹ chán ghét hàng Trung Quốc thì đó chính là cơ hội cho những nước khác, đặc biệt là Việt Nam. Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ rất nhiều hang dệt may và thủ công nghệ. Gốm Bát Tràng, tranh sơn mài, tranh thêu… là những sản phẩm thủ công có tiếng của Việt Nam.
Nhưng sản phẩm mỹ nghệ của Việt Nam còn nhiều bất cập như chất lượng chưa cao hay mẫu mã không theo thị hiếu của người tiêu dùng. Một cái áo rất đẹp nhưng sau khi giặt đã thấy bị sổ lông, hay một chiếc túi được thêu rất khéo nhưng mầu sắc hơi (bị) “quê” là điều thường thấy ở các mặt hàng thủ công Việt Nam.
Nếu muốn đứng vững trong thị trường Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu thị hiếu của người dân Mỹ. Điều này sẽ không quá khó nếu để ý tới cách làm việc và sản phẩm của các nghệ nhân Hoa Kỳ thay vì chạy đi bắt chước mẫu mã của hàng Tàu, hàng Thái, hàng Hồng Kông… (6)
Với mạng lưới thông tin toàn cầu, việc giao lưu học hỏi với thế giới sẽ giúp cho người dân mở mang kiến thức dẫn đến sự phát triển tay nghề và khả năng sáng tạo.
Trong quá khứ, Trung Quốc đã có những cơ hội quá thuận lợi để phát triển kinh tế, nhưng vì chạy theo chính sách ngu dân và tham lam của nhà nước đảng trị, hàng hóa Trung Quốc đã bị mang tiếng xấu khó gột rửa. Đây là một bằng chứng cho thấy sự phát triển và ổn định kinh tế sẽ không bao giờ có được dưới chế độ độc tài cộng sản.

Đổi mới Đảng, tránh nguy cơ sụp đổ!

THIỆN Ý

I. TỔ QUỐC TRƯỚC HAI HIỂM HỌA

Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: Giặc ngoại xâm và giặc nội xâm. Mọi người Việt Nam yêu nước có trách nhiệm tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa đó.

Chúng ta đã từng gọi một cách chính xác “bọn bành trướng bá quyền Bắc kinh là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm” . Những hành động lấn lướt khiêu khích gần đây ở Biển Đông, chứng tỏ bản chất của chúng không hề thay đổi. Ngày 2-7-2009 trả lời ký giả Mạc Lâm, nhà ngoại giao Dương Danh Dy từng làm việc nhiều năm ở Trung Quốc nhận định, Trung Quốc là anh láng giềng to, khỏe, tham, lại xấu tính và “Sau thời điểm 2010 trở đi chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm…”

Hai mươi năm qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hết sức cố gắng xây dựng với Bắc Kinh mối quan hệ “đồng chí” kèm theo “16 chữ vàng” (do Giang Trạch Dân đặt ra, Lê Khả Phiêu tán thành đưa vào Tuyên Bố Chung tháng 2-1999): “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Mấy năm sau lại bổ sung “tinh thần 4 tốt”: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”). Để tỏ lòng trung thành với mối quan hệ đó, Nhà nước Việt Nam đã bắt bớ công dân của mình xuống đường biểu tình với khẩu hiệu “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam”. Đó là thủ đoạn ngoại giao khôn khéo hay chỉ là sự đớn hèn? Tình trạng này còn kéo dài bao lâu? Rồi bằng cách nào để có thể thực hiện được di chúc thiêng liêng của Đức Trần Nhân Tôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác!”? Không làm được điều đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể thoát khỏi trách nhiệm trước lịch sử là đã để đất đai thấm máu cha ông lọt vào tay giặc.

Giặc nội xâm là cách nói của chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ thói tham ô, lãng phí, quan liêu. Từ năm 1948 khi ông viết những điều này trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc, 60 năm đã trôi qua, tham nhũng hồi ấy chỉ như ruồi muỗi, ngày nay đã trở thành hùm beo, mặc dù ở mọi cấp, mọi ngành đều có cơ quan chống tham nhũng! Cứ xem chế độ tiền lương, Chủ tịch nước cũng chưa đạt mức phải đóng thuế thu nhập, thế mà cán bộ nào cũng nhà cao cửa rộng tiêu xài hoang phí thì có thể đoán biết tham nhũng là bệnh của cả hệ thống! Nguyên nhân nào đẻ ra tình trạng đó? Biện pháp nào để ngăn chặn đây?

Có thể bạn cho rằng cần phải thêm hiểm họa về môi trường, nhưng thực tế cho thấy vụ Vê Đan và nhiều vụ khác đều là con đẻ của quan liêu tham nhũng.

Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử 80 năm của Đảng Cộng Sản Việt Nam để đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của Đảng và tìm lại sức sống cho Đảng, hòng cứu nguy cho dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa nói trên.

II. BA THẾ MẠNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1. Mọi đảng viên Cộng Sản kể cả chủ tịch Hồ Chí Minh đều bắt đầu từ chủ nghĩa yêu nước mà đến với chủ nghĩa cộng sản. Bây giờ nhiều người cho đó là chọn nhầm đường, lạc đường, hoặc nặng lời hơn, có người lên án Đảng Cộng Sản lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, rằng nhân dân theo Việt Minh, theo Mặt trận dân tộc giải phóng, chớ không phải theo cộng sản. Có người cho rằng con đường cộng sản không phải là một tất yếu lịch sử để giải phóng dân tộc, nếu…

Tiếc rằng lịch sử không cho chúng ta chữ “nếu”! Tôi thích câu nói của Milovan Djilas: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, đến 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”! Và cũng ông ấy đã nói: “Không thể nói rằng họ (người cộng sản) đã cố tình lừa dối, rồi sau đó không chịu thực hiện. Sự thật là họ không thể thực hiện được những điều mà họ đã nhiệt liệt tin tưởng”. Dù gì thì lịch sử cũng phải ghi nhận việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng tháng 8 và đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến “Điện Biên chấn động địa cầu”. Những người “quốc gia” nên nhận sự kém cỏi của mình là không làm được gì có sức thuyết phục dân tộc. Chế độ Việt Nam Cộng hòa được dựng lên nhờ vào bàn tay của người Mỹ, mà người Mỹ thì đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho người Pháp. Do đó Việt Nam Cộng hòa không tìm được niềm tin từ nhân dân. Rồi để cứu Việt Nam Cộng hòa và danh dự nước Mỹ, hằng triệu tấn bom đạn và chất độc hóa học đã dội lên đầu nhân dân Việt Nam!

Tất cả điều ấy làm cho số đông người Việt Nam tin theo Đảng Cộng Sản, từng thật lòng khi nói “ơn Bác, ơn Đảng”, thật lòng gọi hai tiếng “Đảng ta”! Trong bối cảnh đó, chủ tịch Hồ Chí Minh khi răn dạy đảng viên đã nói một câu mà ngày nay nghe cứ tưởng như chuyện đùa “Đừng tưởng rằng cứ dán lên ngực hai chữ cộng sản là sẽ được nhân dân yêu mến, nếu như không rèn luyện đạo đức… ”

Tuy nhiên,vào đầu những năm 50 trở đi đã nãy mầm tai họa:

- Nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược, trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán.
- Đường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản.

Hậu quả là niềm tin của nhân dân đối với Đảng nhiều lần bị hẫng hụt. Dù vậy chưa phải như đánh giá của ông Đào Hiếu: “Trừ một số tư sản mại bản, tư sản đỏ,… thì đại đa số nhân dân Việt Nam đều căm ghét chế độ hiện nay”. Nếu nhận định đó là đúng thì sự sụp đổ của chế độ đã không thể cưỡng được! Đó có thể là tình trạng của những năm 80, khi khủng hoảng kinh tế, xã hội chưa có lối ra.

2. Chính Đổi Mới đã giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam gượng dậy, mạnh lên, lấy lại niềm tin của nhân dân. Mấy bài nói của ông Lê Hồng Hà về tình hình đất nước 20 năm qua, tôi rất đồng tình ở nhiều nhận định sâu sắc và những ý kiến về phương hướng sắp tới. Tuy nhiên, tôi không nghĩ như ông khi cho rằng: “20 năm qua, cuộc đấu tranh giữa một bên là Đảng Cộng Sản và một bên là toàn dân Việt Nam, kết quả là dân thắng Đảng trên hai mặt trận kinh tế và tư tưởng, nhưng dân chưa thắng về chính trị, vì hệ thống chuyên chính vô sản vẫn còn nguyên.” Tôi nghĩ, nói như vậy là phủ nhận sự chuyển biến bên trong của Đảng Cộng Sản. Do đặc điểm hình thành và phát triển, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn đề cao hai ngọn cờ Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Ý thức hệ cộng sản không được đặt cao tuyệt đối mà có thể du di. Cách xử lý của chủ tịch Hồ Chí Minh trước và sau Cách mạng tháng 8 là như thế. Cách xử lý của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản trước cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội những năm 80 cũng là như thế. Nếu không có những đảng viên như Kim Ngọc, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, có lẽ phải kể cả ông Trường Chinh nữa, thì không có Đổi Mới. Chúng ta có thể lấy Bắc Triều Tiên, Cuba làm đối chứng cho nhận định này! Đảng Cộng Sản Việt Nam cho rằng Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, điều ấy không ngoa. Nhưng dùng hai chữ Đổi Mới là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, thực ra phải nói là “trở lại như cũ trên con đường văn minh của nhân loại” .

Chính vì chỉ “đổi mới” chứ không chịu “trở lại như cũ” cho nên những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản luôn luôn ngập ngừng, cứ hai bước tiến một bước lùi, chỉ vì sợ bị mất độc quyền lãnh đạo. Ở đây xẩy ra cuộc đấu tranh giữa những người muốn Đổi Mới toàn diện mạnh mẽ như Trần Xuân Bách với lực lượng bảo thủ muốn ghìm lại, nhất là ở lĩnh vực chính trị. Dù gì thì Đổi Mới đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược. Hệ thống chuyên chính vô sản cũng mềm đi chứ không cứng rắn được như trước. Ví dụ, trong vụ giới trí thức kiến nghị dừng dự án Bauxite Tây Nguyên, ban đầu đã có ý đe dọa, gán cho tội chịu ảnh hưởng của bọn phản động, nhưng rồi đã phải lùi lại. Một trang Web Bauxite Việt Nam có danh sách gần 3000 người ký tên trong 8 đợt kiến nghị, có hằng trăm ý kiến phản biện sắc bén, được hằng triệu người truy cập, quả là một hiện tượng chưa từng có.

Tự do kinh tế đem lại nhiều công ăn việc làm, cuộc sống vật chất của người dân dễ chịu hơn, bộ mặt đất nước cũng thay đổi. Các biện pháp quản lý xã hội có mềm hơn. Cán bộ, công chức nói chung gắn bó với Nhà nước. Doanh nhân được ưu đãi, chăm sóc. Do đó số đông tầng lớp trung lưu và trí thức chưa quá bức xúc đòi hỏi tự do dân chủ. Công nhân đình công, nông dân biểu tình đều vì quyền lợi vật chất cụ thể chứ chưa phải đòi được tự do lập Hội, lập Công đoàn. Có tài liệu cho rằng trung bình mỗi người dân Việt Nam có chân trong 2,33 tổ chức Hội, Đoàn, làm cho họ cứ tưởng rằng mình đã được nhiều tổ chức của một xã hội dân sự bảo vệ lợi ích khi cần thiết.

3. Đảng Cộng Sản Việt Nam nắm chắc lực lượng quân đội và công an bằng một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trên xuống tận cơ sở và giáo dục họ đồng nhất Đảng với Tổ quốc. Nhận định của ông Lê Hồng Hà rất đúng khi cho rằng không thể dùng bạo lực để lật đổ chế độ này.

Tuy vậy, ba thế mạnh kể trên đang bị “ba điểm yếu” bào mòn từng ngày. Nếu không kịp thời có giải pháp sáng suốt và mạnh mẽ để Đổi mới Đảng thì về lâu dài nguy cơ sụp đổ khó tránh khỏi..

III. BA ĐIỂM YẾU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

1. Do “ngu trung” với ý thức hệ, Đảng Cộng Sản Việt Nam không rút được bài học nhầm lẫn chọn bạn đồng minh, đã tiếp tục phạm sai lầm lớn hơn ở cuộc gặp Thành Đô năm 1990, cầu hòa với Bắc Kinh trong thế yếu. Từ đó, hai kẻ thù mang mặt nạ “đồng chí”, giả vờ kết giao trên “16 chữ vàng”! (Do quá phẫn nộ trước hành động ngang ngược gần đây của nhà cầm quyền Bắc Kinh, nhân dân đã nhại lại thành 16 chữ đen là “Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, cướp biển lâu dài, thôn tính tương lai” ). Nhầm lẫn trước năm 1954, còn có thể thông cảm, nhưng từ khi Bắc Kinh liên tục gây chiến tranh biên giới với tất cả quốc gia láng giềng Ấn Độ, Liên Xô, Việt Nam mà vẫn còn cho rằng “cùng là xã hội chủ nghĩa với nhau vẫn tốt hơn” thì thật là mù quáng! Năm 1974 chúng đã chiếm Hoàng Sa, năm 1984 chúng bất ngờ tập kích Lão Sơn giết chết 3700 chiến sĩ Việt Nam, năm 1988 chúng chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa, giết chết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Chúng liên tục lấn tới, lập cơ quan hành chính Tam Sa gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, liên tiếp bắn giết, cướp thuyền, bắt ngư dân chúng ta đánh cá trên vùng biển của mình! Những ai có trái tim yêu nước đều cảm nhận chúng chỉ chực chờ thời cơ để đánh úp chiếm đoạt cả Trường Sa của chúng ta!

Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, cả nước sôi sục một phong trào đòi hủy bỏ dự án Bauxite mở đường cho hùm dữ vào nhà. Các bậc đại công thần của chế độ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, các Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Lê Văn Cương và hằng ngàn trí thức đã lên tiếng cảnh báo những người có trách nhiệm lãnh đạo đất nước phải thức tỉnh. Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng, trong Bài học bất ngờ từ Trung Quốc đã viết:

“.. Năm 2008, tập đoàn Tân Tạo đưa Trung Quốc vào quần đảo Nam Du xây dựng cảng than. Cũng năm 2008, Đài Loan thành công với dự án xây dựng khu luyện thép bên vịnh Sơn Dương. Cuối năm 2008, việc xây dựng nhà máy luyện nhôm Tân Rai, Nhân Cơ giúp Trung Quốc gài quả bom bùn độc trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Nếu một ngày nào đó thực hiện kịch bản chiến tranh bất ngờ như năm 1979, họ sẽ nổ quả bom bùn đã gài sẵn ở Tân Rai làm các tỉnh miền Đông và thành phố Hồ Chí Minh chết khát. Họ chiếm Sơn Dương – Hà Tỉnh chặn cả đường biển lẫn đường bộ từ Nam ra Bắc. Họ chiếm quần đảo Nam Du cắt đường biển quốc tế đến Việt Nam. Một tình huống vô cùng nguy khốn đang hiện ra trước mắt ta đó!”

Báo chí và người phát ngôn Việt Nam không dám nêu tên tàu Trung Quốc mà gọi là “tàu lạ”! Trong khi đó, báo mạng Hoàn Cầu thuộc Tân hoa xã bình luận rằng Trung Quốc nên giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp quân sự! Vậy mà Nhà nước Việt Nam vẫn sợ mất lòng Trung Quốc, không dám đưa vụ bắt ngư dân của mình ra Hội Đồng Bảo an LHQ! Dư luận trong và ngoài nước đều chê trách những người lãnh đạo Việt Nam quá ngờ nghệch đã tự chui vào thế kẹt rồi đâm ra hèn nhát trước sự ép của Bắc Kinh. Ông Nguyễn Hưng Quốc có bài viết tựa đề “Tại sao bổng dưng họ lại hèn như vậy?” Ông Quốc nhắc lại nhiều hành xử anh hùng của người cộng sản Việt Nam trước đây, nhưng không lý giải câu hỏi mới đặt ra.

Ở những cuộc chiến tranh cứu nước trước đây, chúng ta luôn luôn có đồng minh thân thiết và được nhiều quốc gia khác ủng hộ. Trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc 1979, chúng ta còn có đồng minh Liên Xô. Trái lại trong cuộc đối đầu với bọn bành trướng Bắc Kinh hiện nay, Việt Nam hoàn toàn không có đồng minh chiến lược! Tiến sĩ Storey chủ biên tạp chí Đông Nam Á Đương đại cho rằng: “Vấn đề Biển Đông là chủ đề nan giải” (ý nói đối với Việt Nam) và nhận định: “Các nhà lãnh đạo Ba Đình không thể dựa vào một quốc gia nào khác ngoài bản thân mình trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không thể dựa vào Mỹ, không thể dựa vào Nga và càng không thể dựa vào khối ASEAN”. Tại sao ông nhận định như vậy? Bởi vì chúng ta đã tự xếp mình là đồng minh thân thiết nhất của Trung Quốc. Khi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tiếp Lý Nguyên Triều, Trưởng ban tổ chức Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cám ơn họ đào tạo cán bộ cho Việt Nam thì cơ quan an ninh Việt Nam bắt luật sư Lê Công Định. Khi Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb đến Hà Nội thì Đài truyền hình Việt Nam phát lời thú tội của bốn nhà hoạt động dân chủ. Trong đó lời khai bổ sung của Lê Công Định là có gặp nhiều quan chức Mỹ, đại sứ Mỹ cho rằng tổ chức tư pháp cần tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhiều tờ báo và đài truyền hình bình luận rằng những người hoạt động dân chủ bị bắt đều có liên hệ với các thế lực thù địch chống phá Việt Nam. Các động thái kể trên đã cho thế giới hiểu rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam đang đứng về phía nào trên bàn cờ khu vực và toàn cầu!

Ông Lê Tuấn Huy trong bài Bài ngửa ở Biển Đông và bài bản về tư duy, đã nhận xét rất đúng rằng: “Trong tương quan biển Đông đã bị đặt vào thế phải tranh chấp, Việt Nam lại không có đồng minh cơ hữu lẫn đồng minh thể chế, khi mà đồng minh lớn nhất về chính trị lẫn văn hóa chính là chủ thể muốn tước đoạt biển đảo. Việt Nam cũng hầu như không có được sự hậu thuẫn cuả công luận thế giới trong vấn đề này và đó cũng là một phần hậu quả từ việc thiếu vắng tương tác đồng minh” . Ông nhận định: “Chần chừ, với Việt Nam lúc này đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mình vào cảnh thân cô thế cô!” .

Tổ quốc cấp thiết đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chọn giữa 2 con đường: Tìm đồng minh cho dân tộc hay là giữ “đồng chí” cho Đảng? Thật ra thì bọn bành trướng Bắc Kinh đâu có xem Đảng Cộng Sản Việt Nam là đồng chí. Cách hành xử trịch thượng của họ đối với ta như là minh chủ đối với chư hầu! Nếu không mau chóng trả lời dứt khoát câu hỏi trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ càng ngày càng bị mất niềm tin của dân tộc và càng lâm vào thế kẹt.

2. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chỉ thích hợp cho một xã hội có nền kinh tế công hữu và tập thể, phân phối bao cấp từ hạt gạo đến bó rau và đóng cửa với thế giới bên ngoài. Đổi mới kinh tế đã làm cho hệ thống chính trị không còn tương hợp, trở thành chiếc áo cũ rách. Các giá trị hôm qua đặt vào thực tế hôm nay hóa ra khôi hài.

Suốt 20 năm đổi mới, các kỳ Đại hội Đảng cứ khất lần khất lữa việc định nghĩa “Cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” có nội dung gì? Và “Vai trò vị trí của giai cấp công nhân, giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng” có gì thay đổi? Nếu chỉ lấy câu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì không có gì khác các quốc gia dân chủ đã làm, nhưng so ra họ còn làm tốt hơn mình! Đến khóa 10 này, Bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam thấy không thể kéo dài mãi đã tìm cách giải đáp ở Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 từ ngày 14 đến 22 tháng 1 năm 2008 như sau:

“Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội”. (Tài liệu học tập các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa 10, Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2008, trang 33).

Các nhà lý luận của Đảng quên rằng:

“Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ra đời và bắt đầu phát sinh tác dụng cùng với việc xây dựng thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; phạm vi hoạt động của nó được mở rộng theo đà củng cố và phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tư liệu sản xuất trở thành sở hữu công cộng làm cho nền sản xuất không phải để phục vụ cho việc phát tài và làm giàu của cá nhân hay một giai cấp… ” (Từ điển kinh tế, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội 1976, trang 455).

Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân phát triển, xung khắc với quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội như nước với lửa, làm sao chịu được sự chi phối của nó?

Giai cấp công nhân đang nơm nớp lo bị mất việc làm. Nghe nói mình có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng Cộng Sản Việt Nam, họ bảo nhau: “Mấy ông này hay thiệt, vừa đại diện cho công nhân lại vừa là tư bản đỏ!”. Hơn 2500 cuộc đình công của công nhân không có sự chỉ đạo của tổ chức công đoàn do Đảng lãnh đạo, đã nói lên niềm tin của họ đang đặt vào đâu!

Nói về chính sách của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx, János Kornai người Hungary cho rằng: “Đảng Cộng Sản Trung Quốc trình bày ý thức hệ giả mạo khi dẫn chiếu đến chủ nghĩa Marx. Cái hệ thống mà Đảng Cộng Sản ngự trị về cơ bản mang tính tư bản chủ nghĩa, vì sở hữu tư nhân đã trở thành hình thức sở hữu áp đảo, và bởi vì cơ chế điều phối chính là cơ chế thị trường”. Nhận định đó hoàn toàn đúng đối với đường lối kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Do không chịu công nhận Đổi Mới là vứt bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội và do tiếp tục duy trì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin, đã làm cho xã hội đầy dẫy những hiện tượng thực hư lẫn lộn, nói một đằng, hiểu một nẻo, đạo đức xuống cấp!

Nói “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, người dân thắc mắc: “Trong lịch sử chưa có ai làm chủ mà không được lãnh đạo, lại còn bị người khác lãnh đạo!”.

Nói “thông qua dân chủ bầu cử Quốc hội”, người dân bảo: “Lâu nay vẫn là Đảng cử, Dân bầu”!

Nói “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”, người dân nói: “Quốc hội bao giờ cũng họp sau khi Đảng đã họp và đề ra nghị quyết chỉ đạo cho Quốc hội phải làm gì. Vừa qua Bộ chính trị quyết định đại dự án Bauxite đâu có cần thông qua Quốc hội”!

Nói đảng viên cán bộ là đày tớ của nhân dân, mấy ông hai lúa cười: “Cả đời mình làm chủ mệt mỏi quá rồi, cầu mong mấy đứa nhỏ sau này có đứa được làm đày tớ cho cả dòng họ được nhờ”!

Nói “Sống và làm việc theo pháp luật”, “Mọi người bình đẳng trước pháp luật”, người dân nói “Pháp chế xã hội chủ nghĩa, tư pháp do Đảng lãnh đạo. Người có chức có quyền mới tham nhũng, mà có chức có quyền thì phải là đảng viên, vậy tư pháp làm sao dám xét xử tham nhũng? Hãy coi Tòa án Hà Nội, rồi Tòa án tối cao cứ như gà mắc tóc trước vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì biết tư pháp Việt Nam được độc lập cỡ nào!

Nói chúng ta đã thực hiện tốt quyền tự do báo chí, người dân hỏi “Không nghe ông Lê Doãn Hợp, Bộ trưởng Thông tin Truyền thông bảo: ‘Phải đi đúng lề phải mới có tự do báo chí đó sao?’”.

Mới đây ông Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam được Đảng giao cho nhiệm vụ vận động nhân dân phản biện các chính sách của Đảng, nhưng suốt mấy năm, Mặt Trận vẫn chưa làm tốt. Xin hỏi, có cách nào để làm tốt được đây, khi mà phản biện chỉ được phép nói trong cái “vòng kim cô” của nghị quyết Đảng? Ai chẳng sợ lỡ miệng ra ngoài vòng sẽ bị thiệt thân? Các ông Nguyễn Mạnh Tường luật sư Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kim Ngọc Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, Trần Xuân Bách Ủy viên Bộ chính trị, là những nhà phản biện dũng cảm đã bị trừng phạt như thế nào ai chẳng biết!

Mới đây, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS do giáo sư Hoàng Tụy làm Chủ tịch Hội đồng, Tiến sĩ Nguyễn Quang A làm Viện trưởng, đã phải tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định 97 của Thủ tướng Chính phủ hạn chế quyền được nghiên cứu và phản biện.

Các giá trị tự do, dân chủ,nhân quyền của nhân loại tiến bộ khi vào Việt Nam đều phải co lại cho vừa cái khung xã hội chủ nghĩa. Cách hiểu, cách làm của Việt Nam trái với các văn kiện quốc tế về quyền con người mà Nhà nước Việt Nam đã cam kết thực hiện. Năm nào, Việt Nam cũng bị lên án vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền và bị xếp hạng vào cuối bảng của các nước trên thế giới. Phản ứng của Nhà nước Việt Nam luôn luôn là “Nhận thông tin sai lạc với thực tế Việt Nam”, hoặc “can thiệp vào nội bộ Việt Nam”, nặng nề hơn nữa là “âm mưu của các thế lực thù địch hòng chống phá Việt Nam”. Chúng ta chấp nhận hội nhập với cộng đồng nhân loại, làm bạn với tất cả các nước, nhưng lại không đồng ý với người ta về những giá trị phổ biến của nền văn minh nhân loại là: xã hội công dân, sở hữu tư nhân, nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ đại nghị. Chủ nghĩa xã hội thế giới đã thất bại vì phủ định những giá trị phổ biến đó, cố tìm những giá trị khác (Xã hội toàn trị, Công hữu, Kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, Chuyên chính vô sản, Dân chủ tập trung xã hội chủ nghĩa) hòng thay thế, rồi lâm vào ngõ cụt và bị sụp đổ!

Chính hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin đã làm suy yếu các khả năng chống tham nhũng, hiểm họa nội xâm của đất nước.

3. Nhiều người già ở Sài Gòn cho rằng tham nhũng hiện nay đã vượt xa chế độ Sài Gòn cũ. Có thể bào chữa rằng tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ có riêng gì mình! Vâng, nhưng tham nhũng ở các quốc gia dân chủ có nhiều thứ thuốc trị mà ta không có! Khi báo chí đưa tin Hoa Kỳ vừa bắt 44 người tham nhũng thì ông hàng xóm nhà tôi bảo: “Nếu nước ta có cơ quan tư pháp độc lập như họ thì chỉ riêng quận mình thôi số tên tham nhũng bị bắt cũng vượt xa con số của cả nước Mỹ!”.

Có lẽ trên thế giới không nước nào có nhiều cơ quan có chức năng chống tham nhũng bằng nước ta. Đảng có Ủy ban kiểm tra, Nhà nước có Tổng thanh tra, các Bộ, các ngành, các đoàn thể, ở từng cấp đều có tổ chức thanh tra, kiểm tra. Có rất nhiều nghị quyết chỉ đạo chống tham nhũng. Một ủy viên Bộ chính trị, Phó thủ tướng làm trưởng ban chống tham nhũng Trung ương. Các Đảng ủy được nhắc nhở phải coi chống tham nhũng là trách nhiệm lớn. Thế nhưng, tham nhũng đã xảy ra ở các Đảng bộ đạt tiêu chuẩn “4 tốt”, danh hiệu “Đảng bộ trong sạch vững mạnh” như: Văn phòng Chính phủ, Đảng ủy Bộ Giao thông Vận tải, Đảng ủy PM18, Đảng ủy dự án Đại lộ Đông-Tây… Vì sao tham nhũng ở Việt Nam “kháng thuốc” ghê gớm vậy?

Có 3 nguyên nhân:

(a) Ở các quốc gia dân chủ họ có nền Tư pháp độc lập, có thể buộc tội cả Tổng thống, còn pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là “vừa đá bóng vừa thổi còi”! Tay này sao nở chặt tay kia!

Trả lời sao đây khi bao nhiêu vụ án lớn không nhúc nhích:

- Vụ PMU 18 còn đó mà các nhà báo viết về nó đã phải đi tù.

- Vụ PCI dù người Nhật đã khai hối lộ cho Huỳnh Ngọc Sĩ, nhưng sau nửa năm, Sĩ chỉ bị khởi tố về tội cho thuê nhà! Dư luận tin rằng Sĩ không thể nuốt trôi khối đô la khổng lồ nếu không chia cho các vị thượng cấp có liên quan trách nhiệm đối với công trình này!

- Năm 2006, cảnh sát Đức tìm thấy Siemens chuyển hơn 5 tỷ đồng vào tài khoản ở Singapore của một quan chức Việt Nam. Đến nay cảnh sát Việt Nam chưa động đậy.

- Năm 2008, một Việt kiều bị truy tố “hối lộ 150 nghìn đô la để bán được thiết bị cho một dự án ở Vũng Tàu” .Đến nay phía Việt Nam chưa có ý kiến gì.

- vv…

(b) Ở nước dân chủ có hệ thống báo chí được gọi là “quyền lực thứ tư”. Báo chí “lề phải” của chúng ta luôn luôn phải chờ được phép mới dám đưa tin. Trước đây các phóng viên viết bài chống tham nhũng cứ chờ cơ quan điều tra của Bộ Công an cung cấp tài liệu. Từ khi 2 phóng viên của báo Tuổi trẻ và báo Thanh Niên dùng tài liệu của công an để viết bài vẫn bị xử tù thì những cây bút chống tham nhũng của báo chí Việt Nam càng co lại giữ mình.

(c) Các quốc gia dân chủ đều có các Đảng đối lập luôn luôn săm soi mọi hành vi sai trái của Đảng cầm quyền. Do đó các đảng cầm quyền phải có nhiều biện pháp quản lý đảng viên giúp họ tránh các cạm bẫy. Còn ở nước ta, Đảng một mình một chợ, đảng viên chẳng cần giữ ý, không sợ bất cứ ai!

Tại Hội nghị Trung ương 3, tháng 7 năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã có nhận định rất đúng rằng: “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”. Từ đó đến nay, ba năm đã trôi qua, tham nhũng không hề nao núng bởi nhận xét của ông. Vậy thì liệu rằng sẽ có lúc chính chế độ phải nao núng bởi tham nhũng?

IV. NÊU 4 CÂU HỎI, TRƯỚC KHI TRÌNH GIẢI PHÁP

1. Ông Lý Quang Diệu cho rằng năm 1975, Sài Gòn có tiềm lực kinh tế ngang với Băng cốc, nhưng 20 năm sau Sài Gòn tụt hậu so với Băng cốc 20 năm. Vì sao? Có phải chỉ vì Băng cốc có nhiều chính sách khuyến khích phát triển công thương nghiệp tư bản, trong khi đó Sài Gòn ra sức cải tạo công thương nghiệp tư bản? Nhìn rộng ra tại sao tất cả các nước theo chủ nghĩa xã hội đều nghèo đói so với các nước phát triển tư bản? Nhiều nhà lý luận Marx-Lê sang các nước tư bản phát triển đều thừa nhận rằng ở các nước này “có nhiều xã hội chủ nghĩa” hơn Liên Xô, Đông Âu! Cứ xem 2 quốc gia bị chia cắt là Đức và Triều Tiên, bên theo chủ nghĩa xã hội thì nghèo đói, bên phát triển tư bản chủ nghĩa thì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh. Nước ta từ khi Đổi mới, tức là từ bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa tự do kinh tế thì sức sản xuất được giải phóng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Như vậy làm sao có thể nói đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa là ưu việt? Lê-nin từng cho rằng trong cuộc cạnh tranh “ai thắng ai ”, chiến thắng sẽ thuộc về bên nào có năng suất lao động cao hơn. Nếu chủ nghĩa xã hội có năng suất cao hơn thì đâu đã bị “hạ gục” (chữ dùng của Tổng thống Obama)?

2. Ngày nay, toàn thế giới đều biết, trước đây ở Liên Xô, chính quyền Xô Viết đã thủ tiêu hằng vạn cán bộ cao cấp, hằng triệu dân lành, cấm phát hành nhiều tác phẩm tiến bộ và đày ải các tác giả của nó, kể cả những người đoạt giải Nobel. Ở Trung Quốc, đại cách mạng văn hóa vô sản đã giết hằng triệu người, trong đó có cả Chủ tịch nước, nhiều ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng và các nhà văn hóa lớn. Ở Campuchia, Đảng Cộng Sản (từng là đồng minh của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời chống Mỹ) đã gây ra họa diệt chủng chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tất cả các Đảng Cộng Sản ở Đông Âu, Cuba, Bắc Triều Tiên đều có những trang sử đen về nhân quyền. Có lẽ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam mềm hơn tất cả? Nhưng dù vậy, chúng ta cũng đâu có thiếu những ngày tháng nhắc tới không khỏi đau lòng: Cải cách ruộng đất, Chống Nhân Văn giai phẩm, Cải tạo công thương nghiệp, Chỉnh đốn tổ chức, Cải tạo bọn xét lại chống Đảng…

Có phải vì ý thức hệ cộng sản lấy đấu tranh giai cấp làm động lực tiến bộ, coi lập trường giai cấp, một khái niệm rất mơ hồ, là nền móng của đạo đức, từ đó đã đẻ ra tình trạng tay phải chặt tay trái, đồng chí giết nhau, lương giáo nghi kỵ, con tố cha, vợ tố chồng, độc quyền tư tưởng, triệt tiêu tư duy độc lập, kiềm hãm khả năng sáng tạo của con người?

3. Qua hơn 20 năm đổi mới, một lớp doanh nhân (Đảng muốn gọi tránh, chứ đúng ra phải gọi đúng tên là giai cấp tư sản) đã hình thành, trong đó có khá đông đảng viên cộng sản và con em họ.

Dù cho rằng phải đổi mới nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng đổi mới thế nào cũng không thể vượt khỏi các nguyên lý của nó. Trước đổi mới, chỉ cần diễn đạt khác với các nguyên lý giáo điều chút xíu đã bị lên án là xét lại, chống Đảng, đã phải đi tù. Đó là tội của các đồng chí Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang… Đổi mới đến mức không còn các nguyên lý cũng tức là từ bỏ chủ nghĩa xã hội! Đường lối kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam bắt đầu từ Đại hội 6 đến nay thực sự đã từ bỏ hết các nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Bởi vì C. Mác – Ph. Ăng-ghen đã viết: “Chủ nghĩa cộng sản phải xóa bỏ buôn bán, xóa bỏ chế độ sản xuất tư sản, xóa bỏ ngay cả giai cấp tư sản nữa” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nhà xuất bản Sự thật, năm 1974, trang 70) và “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước” (Sách trên, trang 78).

Vậy nếu không phải là từ bỏ vĩnh viễn chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sách lược, cho phép giai cấp tư sản tồn tại trong “giai đoạn quá độ” thì có nghĩa là rồi đây Đảng sẽ có chính sách “từng bước một đoạt lấy” như đã từng làm trong quá khứ? Nhưng lần này liệu những đảng viên cộng sản (số rất đông) và con em họ, những “tư sản đỏ” có chấp nhận chính sách đó hay chống lại? Và toàn dân Việt Nam liệu có đồng ý thực hiện cái chính sách từng kéo lùi Sài Gòn tụt hậu 20 năm so với Băng cốc? Và nếu tính chung cả nước Việt Nam thì sự tụt hậu và nỗi đau đớn do chủ nghĩa xã hội theo mô hình Stalin gây ra còn ghê gớm hơn nhiều!

4. Vậy thì vì lý do gì Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam quyết kiên trì chủ nghĩa xã hội? Rốt lại, vì chỉ có hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ các lý lẽ về quyền lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng Sản! Nhưng giữ nó thì phải gánh chịu “3 điểm yếu” từng ngày bào mòn “3 thế mạnh” của Đảng, còn bỏ nó liệu có phiêu lưu như Chủ tịch Nguyễn Minh Triết từng cảnh báo: “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”?

Không! Tôi cho rằng trái lại, bỏ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa sẽ đem lại rất nhiều điều thần kỳ cho Đảng và cho Đất nước.

Tháng 7 năm 2009, ông Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên chủ tịch Quốc hội, có 4 bài viết và trả lời phỏng vấn của Tuần Việt Nam, nêu những tiêu đề: “Giờ là lúc phải đổi mới toàn diện”; “Tôi mong lãnh đạo quốc gia có tầm nhìn Lý Quang Diệu” (ông Lý Quang Diệu từng có ý kiến cho rằng việc hoạch định chính sách phát triển đất nước đừng để ảnh hưởng của ý thức hệ); “Dân là gốc, pháp luật là tối thượng”; “Dân là gốc thuộc phạm trù vĩnh viễn, Đảng và Nhà nước thuộc phạm trù lịch sử”; “Không ai độc quyền chân lý”, “Qua tranh luận, thử thách trong cuộc sống… có khi phải thay đổi nhận thức tới 180 độ”. Những ý kiến của ông Nguyễn Văn An đã gợi ra nhiều điều quan trọng cho nội dung Đổi mới toàn diện.

Mới đây, trong bài phát biểu nhân Kỷ niệm Quốc khánh, 2-9-2009, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tuyên bố “Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới”. Chúng ta đã đổi mới ngoạn mục về kinh tế, nay “Đổi mới toàn diện” như Tổng bí thư tuyên bố chính là yêu cầu cấp thiết của toàn dân tộc. Tiếc rằng,Tổng bí thư chưa nói rõ thế nào là Đổi mới toàn diện.

Chúng tôi nghĩ rằng Đổi mới toàn diện cần có nội dung sau đây:

“Phải phù hợp với trào lưu thời đại của nhân loại ở thế kỷ 21; Phải có tác dụng tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Phải Đổi mới tất cả các mặt: kinh tế, văn hóa,giáo dục, xã hội và chính trị.”

V. BỎ HỆ THỐNG CHÍNH TRI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA: MỘT MŨI TÊN TRÚNG NHIỀU ĐÍCH

1. Từ đây, Đảng và dân tộc ta thực sự trở lại với tư tưởng Dân chủ Cộng hòa của chủ tịch Hồ Chí Minh (như giáo sư người Nhật Yoshiharu Tsuboi nhận định) đã được thực thi sau Cách mạng Tháng 8: Một chính phủ liên hiệp thể hiện quyền làm chủ rộng rãi của toàn dân Việt Nam đoàn kết; Một Bản Hiến pháp 1946 tiến bộ, quy định rõ tổ chức quyền lực Nhà nước và các quyền tự do dân chủ của nhân dân trong xã hội dân sự.

Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng Hồ Chí Minh là một người không giáo điều, ý tưởng nào có thể áp dụng để đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng dân tộc thì người chấp nhận. Người chịu theo Quốc tế 3 chỉ vì bản Cương lĩnh của Lênin ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1930, Chánh cương đoàn kết dân tộc do người soạn thảo cho Đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm Stalin nổi giận: Là chủ nghĩa dân tộc, không phải cộng sản! Năm 1945, người tuyên bố tự giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương để có thể tranh thủ sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các nước đồng minh, tránh cho dân tộc không phải gánh chịu cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân Pháp. Chính các thế lực đế quốc của Pháp và Mỹ đã buộc cụ Hồ phải dựa hẳn vào phe cộng sản.

Tư tưởng chủ yếu của Hồ Chí Minh là:

* “Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam!”

* “Nước Việt Nam là một,dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi.”

* “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do!”

* “Nếu nước đã được độc lập mà nhân dân không có tự do hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”

* “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Chính vì thế mà một nhà sử học Anh cho rằng, từ những ứng xử của người trong lịch sử có thể tin chắc, nếu còn sống chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là người khởi xướng đổi mới một cách sớm sủa và mạnh mẽ.

Trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta là “Đảng Việt Nam” sẽ được toàn dân tộc vui mừng, tin tưởng. Một chính quyền thực sự là của Dân, do Dân, vì Dân, rủ bỏ được các khuyết tật đã kể ở trên. Một xã hội dân sự, người dân có đầy đủ tự do, dân chủ, nhân quyền như các nước tiên tiến. Nước ta thực sự hội nhập với thế giới trong mọi giá trị văn minh của nhân loại. Từ nay không còn mang nỗi lo quái gỡ là sợ bị Diễn biến hòa bình! (Gọi là quái gỡ bởi vì toàn nhân loại tiến bộ không có ai lo như thế. Trái lại ở nước Singapore, người ta còn cho rằng “Thế giới đã thay đổi, nếu chúng ta không thay đổi là chết!”). Từ nay không còn nơm nớp lo “Các thế lực thù địch phương tây can thiệp vào nội bộ”. Và quan trọng hơn là từ nay ở vị thế mới trong cộng đồng các quốc gia tiến bộ văn minh của nhân loại, chúng ta mặc nhiên có những đồng minh chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Có đồng minh chiến lược không phải để gây chiến với bọn bành trướng mà là để có đủ sức mạnh nói chuyện hòa bình, buộc chúng thực thi công lý, đòi lại biển đảo bị chúng chiếm đoạt bất hợp pháp.

Với Nhà nước pháp quyền, với lực lượng truyền thông “đệ tứ quyền”, có sự phản biện của xã hội dân sự, “giặc nội xâm” cũng sẽ bị đẩy lùi.

2. Đổi mới Đảng từ bỏ ý thức hệ cộng sản sẽ là phép màu san bằng rào cản, hòa giải hòa hợp với 3 triệu đồng bào ở nước ngoài, những người yêu nước, có tri thức, có tấm lòng, nhưng không tán thành chủ nghĩa cộng sản và bị ám ảnh rất nặng nề bởi nỗi oán hận từ quá khứ. Từ đây sẽ không còn những cuộc biểu tình chống đối chính quyền trong nước, ngăn cản bà con muốn về xây dựng quê hương. Từ đây các em sinh viên ưu tú du học ở các nước tiên tiến, tiếp thụ các lý tưởng dân chủ không còn nỗi bức xúc, quay ra hoạt động chính trị đối lập với Nhà nước rồi lâm vào cảnh tù tội oan uổng.

Sức mạnh toàn dân tộc sẽ tăng lên gấp bội giúp cho sự nghiệp canh tân đất nước có hiệu quả hơn bao giờ hết. Lịch sử sẽ ghi nhận hành động dũng cảm triệt để đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam là mở ra con đường đại phúc cho dân tộc!

3. Đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên, liệu sự chọn lựa này có làm mất quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau khi đã là Đảng của dân tộc) hay không? Đã đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên thì không nên tính toán hơn thiệt. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng không có một Đảng nào có thế mạnh từ lịch sử như Đảng Cộng Sản Việt Nam (tiền thân của một Đảng dân tộc được kế thừa Đảng Cộng sản Việt Nam). Là một Đảng lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc, rồi chủ xướng đổi mới, cuối cùng dám từ bỏ ý thức hệ lỗi thời để tự biến mình hoàn toàn thành Đảng của Dân tộc. Vậy thì trong tâm tưởng người Việt Nam yêu nước còn có thế lực nào đáng gửi gắm niềm tin là có đủ tài, đủ đức lãnh đạo đất nước hơn một Đảng được thừa kế Đảng Cộng Sản?

4. Khi đã có Cương lĩnh đề ra mục tiêu và nội dung đổi mới, Đảng sẽ định một lộ trình thật khoa học để từng bước thực hiện sự nghiệp trọng đại này một cách chắc chắn.

(a) Nhiều đảng viên cho rằng: Nên trở về với Hiến pháp 1946, đó là Hiến pháp tiến bộ và dân chủ nhất từ trước tới nay ở Việt Nam; Nên trở về với tên gọi Đảng Lao Động Việt Nam, là Đảng của người lao động cũng là của nhân dân Việt Nam. Như vậy không phải tạo ra Đảng mới nào cả mà vẫn là mới so với hiện nay. Nên khôi phục lại hai đảng Xã hội và Dân chủ đã từng có, để tập hợp những người trí thức yêu nước và giữ vai trò phản biện dân chủ.

(b) Tuy nhiên, có nhiều người cho rằng nên từ thực tế hôm nay mà tìm lối ra thích hợp hơn là quay lại cái cũ. Ví dụ, bắt đầu Luật hóa Điều 4 để sự lãnh đạo của Đảng không là Đảng trị. Xây dựng luật bầu cử đảm bảo quyền tự do ứng cử bầu cử của nhân dân, để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, hệ thống chính quyền thực sự là của dân, do dân, vì dân. Xây dựng một hệ thống pháp luật độc lập để Chính phủ điều hành việc nước bằng pháp luật và chịu sự giám sát của nhân dân theo pháp luật. Cuối cùng khi đến lúc đủ điều kiện sẽ soạn lại Hiến pháp theo đúng tinh thần Dân chủ Cộng hòa, đáp ứng nguyện vọng của toàn dân và phù hợp với những công ước quốc tế hiện nay.

Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể theo cách của Đảng Xã hội Pháp hồi 1920: Những người muốn Đảng trở thành Đảng của dân tộc và những người muốn giữ nguyên Đảng Cộng Sản tách nhau ra thành hai Đảng. Sau đó, tổ chức trưng cầu ý dân bằng một cuộc bỏ phiếu kín chọn Đảng lãnh đạo từ hai Đảng này. Đảng không được nhân dân chọn làm lãnh đạo sẽ trở thành Đảng đối lập.

Tôi muốn nhắc lại bài học của Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia trước đây để càng thêm tin tưởng việc triệt để Đổi mới Đảng:

Khi chấp nhận hình thức Chính phủ liên hiệp, Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia đã mở Đại hội đề ra Cương lĩnh mới, tuyên bố từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân Campuchia (bỏ từ Cách mạng với ngụ ý trở thành Đảng của dân tộc). Đại diện Đảng Cộng Sản Việt Nam dự Đại hội này là ông Lê Đức Anh, nguyên cố vấn cho Đảng bạn, đã tức giận cho rằng “Chưa thua mà đã cuốn cờ!” (ý nói cờ cộng sản). Lúc ấy thế và lực của Đảng Nhân dân Campuchia rất yếu so với Đảng Bảo hoàng của Ranarit được uy tín của Sihanuc và Nhà nước Vương quốc yểm trợ. Vậy mà từ vị thế phải chia đôi quyền lực Nhà nước (2 ông Thủ tướng, 2 ông Bộ trưởng, cho tới các cấp dưới…) Đảng Nhân dân Campuchia đã vượt lên sau mỗi nhiệm kỳ và ngày nay hoàn toàn ở thế thượng phong so với các Đảng đối lập.

Đảng Cộng Sản Việt Nam có những ưu thế tuyệt đối mà Đảng Nhân dân Campuchia ngày ấy không thể sánh. Do đó giải pháp triệt để đổi mới Đảng, từ bỏ chủ nghĩa xã hội, trở thành Đảng của dân tộc, không hề là phiêu lưu mà là một hành động sáng suốt, bắt đúng nhịp của thời đại, đáp ứng đúng nguyện vọng của dân tộc, nhất định Đảng sẽ cùng Dân tộc đồng hành tới tương lai vô cùng xán lạn!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.