Arts&Entertainment

Âm nhạc VN đang thời thịnh vượng của các teen, với nhịp sống nhanh hiện nay không có thời gian để nằm ngẫm nghĩ câu thơ đoạn nhạc.
Bây giờ nghe nhảy nhót cho vui vẽ rồi quên đi…

Việt Nam có bao nhiêu người biết nghe nhạc cổ điển?

* Trần Thị Trường

- “Ở Việt Nam, có bao nhiêu người cảm thụ được cái hay của âm nhạc cổ điển, cái hay của những tiếng đàn có đẳng cấp? Làm thế nào để có những người đó?” – Nhà văn Trần Thị Trường viết gửi Bee những băn khoăn về tương lai của nhạc cổ điển ở Việt Nam.

Đi nghe nhạc ở Nhà hát Lớn về thao thức mãi không ngủ được. Câu hỏi về tương lai của những nghệ sĩ như Nguyễn Hoàng Linh, một pianist tài năng, một tiến sĩ nghệ thuật, học trò xuất sắc của những nghệ sĩ nổi tiếng Lise Boucher, Claude Savard (Giáo sư Montreal Canada) và NSND Đặng Thái Sơn, người trình diễn trong Recitan Piano tối nay sẽ ra sao cứ trở đi trở lại trong đầu.
Mô tả ảnh.

Tôi đến Nhà hát sớm hơn thường lệ, quan sát xem khán thính giả của đêm diễn là ai? Những người yêu nhạc cổ điển bác học? Dĩ nhiên rồi, nhưng thuộc thành phần nào trong xã hội? Người của những thành phần: doanh nhân thành đạt, trí thức hàng đầu, trẻ, già, trai, gái, trong và ngoài nước?

Tim tôi thót lại khi gần đến giờ biểu diễn những hàng ghế trống trong nhà hát vẫn còn. Đã từng kinh nghiệm trong các show diễn của Nghệ sĩ Ngọc Tân, giọng ca hàng đầu dòng thính phòng, đêm diễn sẽ thất bại toàn diện nếu hàng ghế còn trống. Nghệ sĩ nhìn thấy ghế còn trống, (hay bất chợt nghe tiếng di động của khán giả đổ chuông, khán giả nói chuyện rì rầm) là mọi cảm xúc tiêu tán.

Rất may, sau đó ít phút, khán giả đã chật khán phòng. Song, đa số khán giả là người nước ngoài, tới từ châu Âu, quê hương của âm nhạc cổ điển, và những nghệ sĩ solist Việt Nam có đẳng cấp, nhà giáo, sinh viên của Học viện âm nhạc, bạn bè và gia đình.

Khi khán phòng trở nên yên lặng, không khí tĩnh lặng tràn ngập sự mong đợi thì Nguyễn Hoàng Linh xuất hiện. Trong bộ váy may theo lối cổ điển nhưng màu xanh tươi trẻ của lụa táp-ta, Nguyễn Hoàng Linh tiến đến cây đàn Steinway & Son’s với một sự hồi hộp không kém hồi hộp của khán giả. Nhưng chỉ sau vài giây, những hợp âm dồn dập vang lên. Những hợp âm lộng lẫy và du dương của Franz Schubert. Những hợp âm diễn tả sự phức tạp tam hồn của Karol Szymanowsky. Những hợp âm dịu dàng huyền bí của Franz Lisrt.

Và cuối cùng là những hợp âm mô tả cuộc sống thời đại đang diễn ra của một tác giả trẻ (sinh 1978) đương đại người Nga định cư ở Israel… Xen giữa những tác phẩm do Nguyễn Hoàng Linh biểu diễn, nhằm thay đổi thị giác và tăng sự phong phú cho hình thức đêm diễn là phần biểu diễn của cây sáo trẻ Lê Thư Hương, người từng là thủ khoa hệ ĐH tại nhạc viện Hà Nội, từng 4 năm tu nghiệp tại Nhạc viện Hoàng gia Đan Mạch, với tác phẩm viết cho Flute và Piano cung Mi trưởng của Carl Reinecke – Lê Thư Hương biểu diễn cùng Trần Ngọc Bích.

Xem xong về nhà rồi nằm băn khoăn. Rằng ở Việt Nam, có bao nhiêu người cảm thụ được cái hay của âm nhạc cổ điển, cái hay của những tiếng đàn có đẳng cấp? Làm thế nào để có những người đó? Và âm nhạc cổ điển có thực sự cần thiết cho con người không?

Tại sao nhiều người chỉ thích nghe nhạc nhẹ? Bỏ tiền mua vé xem nhạc nhẹ, đầu tư, quảng cáo cho nhạc nhẹ, ngay cả truyền thông cũng chỉ thông tin nhiều về nhạc nhẹ? Điều đó khiến cho nghệ sĩ được đào tạo bài bản, có tài năng tầm vóc không dám thực hiện giấc mơ biểu diễn của mình?

Nhạc nhẹ hoàn toàn có lý tồn tại trong cuộc sống, nó có khả năng chia sẻ, đánh thức, nâng đỡ con người. Nhưng thế giới thường đánh giá văn hóa một quốc gia thông qua khả năng sáng tạo, trình độ hòa tấu âm nhạc cổ điển. Bởi chỉ nhạc cổ điển mới đánh thức tư duy con người.

Còn nhớ, trong những năm tháng khó khăn của đất nước và của mỗi gia đình với niềm hy vọng tương lai, đất nước và nhiều gia đình đã cố công gửi con mình đi tu nghiệp ở nước ngoài. Giờ họ thành tài. Những tên tuổi sáng ngời như: Đặng Thái Sơn (Canada), Tôn Nữ Nguyệt Minh (Đức), Nguyễn Bích Trà (Anh quốc), Nguyễn Hữu Khôi Nguyên, Nguyễn Hữu Khôi Nam (Pháp), Lê Phi Phi (Macedonia)… đều rất muốn có dịp biểu diễn tại Việt Nam.

Nhưng ít khi có dịp. Lỗi đâu phải ở họ? Ở cộng đồng thiếu vắng khán giả hâm mộ và thưởng thức. Lỗi cũng không chỉ là của khán giả mà của nền giáo dục hoặc còn bất cập hoặc còn có khoảng trống.

Có một câu ngạn ngữ xưa là “vô tri bất mộ”, nếu không cảm thụ được, không biết cách để hiểu được những biểu tượng văn hóa bằng âm thanh thì đương nhiên nó trở nên vô nghĩa. Nhiều chuyên gia cho rằng muốn có công chúng cho âm nhạc (hay bất kỳ một nghệ thuật nào) thì phải đào tào ra họ. Việc đào tạo bắt đầu từ trường phổ thông.

Tất nhiên, nếu vậy thì sẽ cần phải nói tới những chuyện khác?

Văn học trong nước bị các yếu tố “ngoại” tác động

Minh Thư

(Toquoc)- Sự xuất hiện tràn lan của các tác phẩm văn học trên thị trường thực và ảo (mạng Internet) khiến người đọc có nhiều nguồn sách để chọn đọc. Chạy đua với yếu tố thương mại của những nhà kinh doanh, những người làm sách là cuộc chạy đua kiếm tìm, chọn lọc những giá trị thực trong mỗi cuốn sách của độc giả.

Người Việt xuất hiện ngày càng nhiều ở châu Âu
Sự xâm thực của yếu tố “ngoại” trong văn học

Năm 1995, Việt Nam chính thức mở cửa, đồng thời với quá trình đó là sự xâm nhập của văn hoá phương Tây. Sự xuất hiện, bùng nổ tác phẩm văn học mạng những năm 2000 khiến Internet trở thành kênh phát hành sách nhanh, mang lại hiệu ứng tức thời làm thay đổi thói quen đọc sách. Giới trẻ, vốn có khả năng thích nghi nhanh nhất bị cuốn vào những tiện ích từ thế giới ảo đầy cám dỗ. Cùng sự mở mang tri thức là sự “nhập siêu” ồ ạt của văn hoá phim, ảnh, truyện… nước ngoài.

Cuộc chạy đua giữa nhà quản lý, nhà xuất bản và nhà phát hành lại bắt đầu, mà cái đích là “kiểm soát” tâm thức của độc giả trong nước trước hàng ngoại.

Sự tò mò chiếm ưu thế, trên những giá sách xuất hiện nhiều sách dịch từ tiếng nước ngoài. Cái được tìm chính là lối sống, lối suy nghĩ, thói quen sinh hoạt… của xã hội khác. Nhiều tác phẩm văn học phương Tây, văn học Trung Quốc, văn học Nhật Bản… dần trở nên thân thuộc với người đọc Việt Nam, nhất là những đọc giả trẻ, như một phần cuộc sống. Thậm chí, xã hội phương Tây dần trở nên thân thuộc đến nỗi một trào lưu du học những năm đầu thế kỷ XXI bắt đầu.

Dịch chuyển trọng tâm sự đọc là điều nhận thấy trên các kệ sách. Những cuốn về đời sống xã hội phương Tây được quan tâm nhiều hơn. Một nghịch lý là những tác phẩm trong nước vốn quẩn quanh trong vài đề tài quen thuộc cây đa- bến nước- sân đình, đời sống thành thị, đời sống người dân vùng cao; văn học đề tài chiến tranh, văn học đề tài công- nông… dần bị những nhà nghiên cứu lý luận cho là dần cạn kiệt, những thể loại như văn học sử, trường ca, sử thi… lại ít thu hút đọc giả. Và nghiễm nhiên văn học nội địa bị xâm thực.

Tần suất những cuộc viếng thăm đầy thân tình của những nhà văn nước ngoài (Robert Olen Butler, Eli Amir, Marc Levy, Paolo Giordano…) tăng lên và thu hút đông độc giả trong nước. Đối lập lại là những cuộc hội thảo, những buổi giới thiệu sách của những tác giả trong nước, do những cơ quan, đơn vị trong nước tổ chức đầy tính báo cáo, tổ chức lấy có mà hiệu quả mang đến cho sự đọc chả đáng là bao, quanh đi quẩn lại chỉ vài nhà văn cầm trịch, với những gương mặt phóng viên báo chí quen thuộc.

Văn học nước ngoài với những đặc trưng của nó như tính mở, sự thăng hoa, bộc lộ cảm xúc thật, yếu tố ly kì, cách viết đơn giản, hướng tới những giá trị thực… bắt nguồn từ những xã hội phồn thịnh mở ra cho độc giả Việt một cánh cửa bước vào thế giới mới. Tâm hồn được dẫn dắt bởi những H.Murakami, Yann Martel, Kim Dung, Marc Levy, J.K.Rowling… cùng với BBQ, KFC, Coca-Cola… đã là thói quen sinh hoạt thường ngày của một nhóm đông đảo đối tượng trẻ thành thị.

Ảnh hưởng đến đời sống văn học trong nước

Tác phẩm văn học là biểu hiện qua ngôn ngữ văn chương sự chắt lọc những suy nghĩ, kiến thức hiểu biết về đời sống xã hội. Sáng tác, tác giả thường quan tâm thể hiện ý tưởng của mình trong tác phẩm. Không hẳn mọi nhà văn trong nước bị ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại nhưng đời sống văn học trong nước có những biến đổi, nhất là những cây viết trẻ. Một kiểu sáng tác theo cái tôi bản thể, cái tôi cá nhân, thể hiện những hiểu biết nông nhưng lại kích thích trí tò mò nhất thời được các NXB mạng và đọc giả mạng dễ dàng chấp nhận.

Văn học trẻ những năm đầu thế kỷ XXI đã thực sự khởi sắc? hay các tay bút 8X, 9X, thậm chí 7X bị ảo tưởng bởi những mớ hỗn độn mình viết ra trên mạng, có nhiều người truy cập tìm đọc là tác phẩm văn học, mà thực chất, đó chỉ là những trang nhật ký cá nhân, ghi lại tạm thời những ý kiến của tác giả và nó không mang tính văn học. Và vì thế, người đọc có thể nhanh chóng đưa những sản phẩm này vào một miền quên lãng.

Thêm vào đó, một trong những hiện tượng quảng bá tác phẩm văn học gây nhiều sự hiểu nhầm cho đọc giả là khi một tác phẩm ra lò, cùng với nó là hàng loạt hoạt động quảng bá lăng-xê tác phẩm khiến mọi người đổ xô tìm mua mà khi đọc xong, nhiều cuốn đã khiến đọc giả không khỏi ngán ngẩm.

Tìm đến những trung tâm phát hành sách lớn trên toàn quốc tại Hà Nội, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, tìm thấy trên kệ sách hàng loạt sách văn học, văn học trong nước, ngoài nước đều có, đủ các thể loại truyện tranh, truyện ngắn, tiểu thuyết… nhưng cái đập vào mắt đầu tiên là những trang bìa hấp dẫn, được thiết kế công phu cùng với những poster quảng cáo chất lượng… mà người mua phải duyệt.

Và đã có những điều chỉnh

Fahasa, một trong những công ty phát hành sách có mạng lưới tiêu thụ sách rộng nhất và doanh thu lớn nhất từ thị trường sách trong nước đang đưa ra những chính sách để lựa chọn tác phẩm hay bày bán. Tiếp đó là Phương Nam sách, trong 2 năm gần đây đã triển khai hàng loạt cửa hàng sách, nhà sách tại Hà Nội và Đà Nẵng. Qua 2 hệ thống phát hành lớn này có thể thấy sách văn học được chọn bán đang dần phải tuân theo những tiêu chí nhất định của nhà phát hành.

Nếu những nhà văn trong nước gửi gắm đứa con tinh thần của mình cho một số “địa chỉ” quen thuộc để xuất bản như NXB Hội Nhà văn, NXB Văn học… mà đọc giả có thể nhanh chóng điểm mặt đọc tên thì sách văn học nước ngoài được chuyển ngữ sang tiếng Việt lại có Nhã Nam- công ty có uy tín trong làng sách dịch đỡ đầu với những dịch giả tên tuổi như nhà văn Nguyên Ngọc, Trịnh Lữ, Dương Tường…

Sự kiểm duyệt cuối cùng của Cục Xuất bản- cơ quan Nhà nước quản lý việc xuất bản để đảm bảo các sản phẩm đưa ra thị trường, tới tay người đọc sẽ không còn yếu tố “gây hại” về mặt tinh thần. Một hệ thống kiểm duyệt của các cơ quan Nhà nước, một thị trường sách cạnh tranh khốc liệt vậy mà vẫn có nhiều tác phẩm mang nội dung xấu xuất hiện trên thị trường Việt Nam.

Và khi Lão Hạc, Xuân tóc đỏ, chị Dậu, Chí Phèo, Thị Nở… chỉ xuất hiện trong giáo trình học như một sự gượng ép trả bài, thì bằng cách nào đó, phải điều chỉnh thói quen suy nghĩ của những người trẻ. Tìm và giới thiệu trong chương trình đào tạo những tác phẩm văn học Việt Nam có giá trị là việc nhà trường – giáo viên – phụ huynh – học sinh cần trao đổi để sớm tìm được tiếng nói chung.

Ngoài chương trình học, sự quảng bá những tác phẩm văn học có giá trị của những công ty phát hành, công ty truyền thông và sự công bố giám định chất lượng tác phẩm của các cơ quan quản lý Nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng là sự phối hợp cần thiết.

Có như vậy, chúng ta với hy vọng vào sự trả lại những không gian văn học đẹp, những giá trị văn chương đích thực trong tâm hồn độc giả Việt Nam những năm tới của thế kỷ XXI khi Việt Nam hội nhập toàn cầu.

Ðiều kiện tạo tín nghĩa

Ngô Nhân Dụng
Trong bài trước, mục này đã nhắc đến một “phép lạ xã hội” ở mấy nước Á Ðông theo truyền thống Khổng Giáo, trong mắt nhìn của một ký giả Mỹ. Khi kinh tế suy yếu, không có cảnh tội phạm tăng và gia đình tan vỡ trong các xã hội đó, như thường xảy ra ở nhiều nước phương Tây. Nhưng đối với người dân các nước Á Ðông này thì họ sống phép lạ đó hàng ngày. Họ sống thuận thảo với nhau vì chia sẻ những niềm tin vào các quy tắc đạo lý, như tin rằng ai cũng tôn trọng tín nghĩa, tất cả đã “ký một hợp đồng chung sống” như vậy.

Trong xã hội nào mọi người cũng sống với những hợp đồng ngầm hiểu. Những người lái xe trên xa lộ ở Mỹ bắt buộc phải tin rằng hơn 99% những người lái xe khác đều tôn trọng luật đi đường. Nếu không thì cả hệ thống xa lộ thành rừng rú! Sống trong xã hội Á Ðông với truyền tống Nho Giáo cũng có những hợp đồng hiểu ngầm dài hạn loại đó. Ra đường gặp ai là có thể tin đến 99% rằng người đó cũng được cha mẹ dạy các quy tắc Lễ Nghĩa Liêm Sỉ giống như mình. Căn bản của lối sống có Tín Nghĩa là lòng kính trọng người khác, quan tâm đến sự an vui của họ, lo giữ mối liên hệ với người khác được thuận thảo. Tại sao các nước Á Ðông giữ được những bản hợp đồng Tín Nghĩa suốt đời này sang đời khác? Nói theo lối kinh tế học thì lý do là không ai muốn phá vỡ bản hợp đồng tín nghĩa vì nếu nó bị phá bỏ đi chính mình sẽ bị thiệt thòi, đời sống mỗi người sẽ “tốn kém” hơn!

Sau khi nghe kể chuyện ở thành phố Tokyo, 26 triệu người và tại nhiều thị xã nhỏ ở Mỹ người ta có thể bỏ xe đạp ngoài đường mà không lo phải khóa, có độc giả đã viết thư nhắc nhở rằng hồi xưa ở nước ta cũng vậy. Một vị cho biết năm 1954 ở Sài Gòn ông đã sống như thế. Ðêm không khóa cửa, xe đạp dựng trước nhà cũng không khóa. Một vị độc giả khác kể chuyện năm 1959 ông dựng cái xe đạp ngoài bờ sông Sài Gòn đứng hóng mát; sau đó có một người rủ lên xe hơi đi uống bia. Ông đi tới 11 giờ khuya, trở lại Bến Bạch Ðằng thấy cái xe không khóa vẫn dựng đó không mất. Cái phép lạ xã hội mà nhà báo Mỹ thán phục, ngày xưa ở Việt Nam cũng xảy ra.Chắc lối sống của dân Sài Gòn hồi 1954, 59 cũng không khác gì đời sống ở Tokyo ngày nay. Nếu như dân ta giữ được nếp sống đó cho tới bây giờ thì cuộc sống mọi người chắc vui vẻ hơn, nhàn nhã hơn, và nghĩ đến tương lai con cháu cũng sẽ yên tâm hơn nhiều.

Làm sao để xã hội giữ được những quy tắc sống có Tín Nghĩa? Làm cách nào mọi người nhìn thấy nhau là hãy tin cậy trước khi nghi ngờ, nghe ai nói gì thì trước hết hãy coi đó là lời nói thật? Chúng ta có thể thiết lập lại bản hợp đồng xã hội lấy Tín Nghĩa làm tiêu chuẩn sống?

Có lẽ chúng ta sẽ tránh không lên giọng hô hào phục hồi môn đạo đức trong trường học, dù đó là một việc bắt buộc phải làm. Vì dạy thêm một số quy tắc đạo đức cho trẻ em mà khi ra ngoài xã hội các em thấy mọi người (có khi cả cha mẹ các em) không sống theo các quy tắc đạo đức, thì cũng không ích lợi lắm. Hô hào trên báo, đài cả ngày cũng chưa chắc có hiệu quả.

Nên tìm ra những giải pháp thực tế. Mà khi nói đến chuyện thực tế thì có một cách là tính toán theo lối kinh tế học. Theo lối nhìn kinh tế học thì phương cách tốt nhất để một người khác có thể tin mình là làm sao người ta thấy nếu mình không làm đúng lời mình nói, đúng lời hứa hẹn, thì sẽ bị thiệt hại rất lớn. Tức là có hai con đường: Giữ lời hứa có thể bị thiệt, nhưng còn có thể không bị thiệt. Ngược lại, nếu không giữ lời thì sẽ bị thiệt hại rất nhiều, với xác suất 100%! Nếu mọi người trong một xã hội đều thấy như vậy thì hầu hết, nếu không nói là tất cả, sẽ cố giữ Tín Nghĩa, và xã hội sẽ thay đổi.

Quy tắc này đã được sử dụng trong đời sống: Khi chúng ta đi vay nợ, ngân hàng yêu cầu phải có vật cầm thế “làm tin.” Nếu mình không trả nợ, sẽ mất mát nhiều hơn! Vua nước Tần muốn nước Triệu tin lời giao ước của mình thì cho một hoàng tử sang ở nước Triệu làm “con tin.” Hành động đó cũng không khác gì mình cầm thế cái nhà cho ngân hàng khi vay nợ.

Vua nước Triệu có thể lầm, nếu vua Tần thực lòng không coi tính mạng đứa con mình ra gì cả; hoặc ông ta sẵn sàng hy sinh con để mưu đồ một sự nghiệp lớn hơn. Tại sao vua Triệu có thể bị lừa? Vì trong vụ giao dịch giữa Tần và Triệu, không có những tiêu chuẩn định giá khách quan để xem giá trị tính mạng ông hoàng tử đối với vua Tần cao hay thấp. Bây giờ khác. Các ngân hàng thường tìm được giá thị trường của một ngôi nhà, họ chỉ cho vay khi giá trị đó cao hơn món nợ rất nhiều; cho nên ít khi họ lầm. Thị trường là nơi cung cấp những tin tức khách quan, khác với tình cha con của vua Tần mà chỉ ông ấy biết. Trừ khi chính các ngân hàng cũng làm bậy vì họ bỏ qua những quy tắc tín dụng! Chuyện đó mới xẩy ra ở Mỹ, không phải lỗi ở thị trường mà lỗi của ngân hàng.Trong cả hai trường hợp, đưa hoàng tử đi làm con tin hoặc cầm thế nhà để vay nợ, người ta đều thấy nếu một người không giữ đúng lời hứa thì hắn ta sẽ chịu một sự thiệt hại lớn, còn nếu giữ lời hứa thì sẽ đỡ hơn. Ðó là một cách bảo đảm người hứa hẹn sẽ giữ lời. Có một cách bảo đảm cho người ta phải giữ lời hứa trong xã hội bây giờ là ai không giữ lời sẽ bị ra tòa án. Tòa án là một định chế để trừng phạt những người không làm đúng hợp đồng. Nhưng đó phải là những hợp đồng công khai và minh bạch.

Dmitry Karamazov, nhân vật của Dostoievsky kể chuyện một viên trung tá trong quân đội Nga hoàng, có trách nhiệm quản trị ngân quỹ cả đơn vị lục quân. Sau mỗi lần thanh tra tài chánh đến khám sổ sách, đếm tiền, viên trung tá này lại đem một món tiền lớn trao cho Trifonov, một thương gia. Sau khi dùng tiền vốn này buôn bán, Trifonov sẽ đem trả lại vốn và lãi, cộng thêm những món quà hậu hĩnh. Cả hai cùng có lợi, mà ngân quỹ vẫn không bị mất đồng nào. Cho tới bữa viên sĩ quan tài chánh bị đổi đi. Ông ta đến Trifonov đòi lại 4,500 rúp trả vào quỹ. Nhà buôn này chối biến, “Tôi vay nợ ông đồng nào đâu, mà ông đâu có tiền, làm sao tôi vay tiền của ông được nhỉ?”

Dmitry Karamazov nhận xét rằng viên trung tá đã quá tin tưởng vào Trifonov. Niềm tin này dựa trên giả thiết là Trifonov phải giữ lời hứa, phải tôn trọng bản hợp đồng ngầm hiểu giữa hai bên, bản hợp đồng đó tạo ra một người thì tin và người kia thì được tin tưởng. Nhưng họ có ký kết một bản hợp đồng nào hay không? Nghĩa là người này có thể kiện người kia ra tòa nếu hắn không tôn trọng hợp công hay không? Trong trường hợp này rõ ràng là không. Không ai dám ký một bản hợp đồng viết rằng “Chúng tôi thỏa thuận cùng nhau rút bớt tiền viện trợ của Nhật Bản để cùng nhau đi cá độ bóng đá!”

Khả năng có thể ký hợp đồng mà bản hợp đồng có hiệu lực thi hành, đó là một nền tảng tạo ra lòng tin tưởng lẫn nhau. Cuối thời Chiến quốc và thời Tam quốc, việc thi hành hợp đồng là do người ta tự làm lấy. Vũ lực là cách họ quen dùng để thi hành các bản hợp đồng. Giống như các đảng Mafia bây giờ vẫn áp dụng. Vì họ không thể ký những hợp đồng cùng đi ắn cướp hoặc giết người. Theo lối mafia, ai không làm đúng hợp đồng thì cho một lưỡi đao!

Còn trong xã hội văn minh thì niềm tin giữa mọi người dựa trên pháp luật. Muốn người ta tin thì phải làm sao người ta thấy họ có thể kiện mình ra tòa, như Thomas Schelling từng diễn giải: Một người dễ được tin tưởng vì hắn có thể bị kiện! Ở các quốc gia Á Châu (ngoài Việt Nam và Trung Quốc), người dân bớt thói quen hối lộ quan chức chính vì người ta biết các quan chức cũng có thể bị kiện ra tòa. Các quan chức cũng biết họ có thể kiện ông thủ tướng, ông tổng thống ra tòa. Một người có thể bị kiện ra tòa thì dễ được người khác tin tưởng hơn. Nếu tất cả đều phải sống theo quy tắc đó thì chúng ta có thể tạo nên niềm tin cho cả nước. Thí dụ, niềm tin vào guồng máy công chức trong sạch.

Một xã hội sống trong Tín Nghĩa thì chắc chắn phải coi chuyện tham nhũng là chuyện bất thường. Những người hối lộ và ăn hối lộ đều “xé bản hợp đồng” mà mọi người đã thỏa thuận ngầm với nhau. Cũng giống như nếu có người lái xe ra đường mà bất chấp luật lệ. Nếu nhiều người cứ ngang nhiên lái như thế mãi thì coi như cả thành phố hay cả nước không có luật lái xe. Bản hợp đồng bị xé, mạnh ai nấy sống. Nạn tham nhũng là thứ làm tiêu hao đạo lý của một xã hội rất tai hại, chưa kể những thiệt hại vì kinh tế không tiến được đúng mức. Vì khi bản hợp đồng đạo lý của xã hội bị xé rồi, rất khó tái lập. Phá nó rất dễ, xây dựng thì rất khó.

Những người cầm quyền ở Nhật Bản, Nam Hàn hay Ðài Loan đều hứa hẹn với dân chúng là họ không chấp nhận cho quan lại tham nhũng. Các quan chức nước họ cũng đều hứa hẹn với cấp trên như thế. Bất cứ chính quyền nào cũng có thể đều hứa hẹn như vậy, nhưng làm sao cho dân tin?

Một yếu tố giúp cho nạn tham nhũng ở các nước này giảm bớt là vì người ta biết có những tòa án xử tội người tham nhũng rất nặng. Trước khi xé bản hợp đồng với xã hội mà ăn hối lộ, nếu biết trước là mình có thể bị thiệt hại rất nặng nếu bị bắt, thì thế nào người ta cũng ngần ngại không đòi đút lót nữa. Xác suất bị bắt càng lớn thì càng bớt tham nhũng. Ở Mỹ khó lòng hối lộ một cảnh sát viên, vì lương một anh cảnh sát mới ở Los Angeles, chỉ cần tốt nghiệp trung học, cũng trên 50,000 đô la một năm, bảo hiểm y tế tốt, hưu bổng đầy đủ. Nếu bị ra tòa rồi mất công việc đó thì sẽ thiệt hại vô cùng. Và nhờ báo chí được tự do, những việc tham nhũng, hối lộ rất dễ bị khui ra, xác suất bị truy tố rất cao. Nếu một hệ thống để cho xác suất bị bắt thấp, mà sự trừng phạt cũng nhẹ, thì chắc chắn sẽ sinh ra tham nhũng, hối lộ.

Làm sao để cho xác suất tội tham nhũng bị khui ra càng cao càng tốt, đó là một cách giảm bớt tham nhũng. Muốn vậy thì ngoài guồng máy tư pháp chính thức, cần phải có nhiều bộ máy tư nhân tham dự việc tố giác tội tham nhũng. Xã hội công dân càng phát triển thì càng nhiều người để làm công việc đó. Có nhiều người sẵn sàng làm công việc đó, vì có lợi cho họ. Ðó là các nhà báo. Ai điều tra ra những vụ tham nhũng và loan tin sẽ được nhiều người đọc, nhiều người kính trọng. Chính họ sẽ tự nguyện đi tìm ra những tin tức đó.Cho nên có hai điều kiện để xã hội sống có tín nghĩa hơn: Báo chí tự do và hệ thống tư pháp nghiêm minh. Ðó là những bảo đảm cho guồng máy hành chánh trong sạch hơn. Chính áp lực tinh thần của xã hội chung quanh là yếu tố tối cần thiết giúp nạn tham nhũng bớt đi. Khi mọi người cùng nghĩ rằng sống ngay thẳng, lương thiện là chuyện tự nhiên, ăn hối lộ, đút tiền là việc bất thường, thì phép lạ xã hội không còn là phép lạ nữa.

Ngô Nhân Dụng

BẰNG KIỀU: kinh nghiệm hơn, đậm đà hơn

Chỉ cách đây vài năm, Bằng Kiều còn nằm trong thành phần những nghệ sĩ trong nước mà sự xuất hiện của anh trong những chương trình ca nhạc tổ chức ở hải ngoại còn gây ra những chống đối đến từ những nguyên nhân mang nặng mầu sắc chính trị. Nhưng không bao lâu sau, tên tuổi anh đã đứng chung với các nghệ sĩ hải ngoại trong tình trạng xẹp dần những dư luận không thuận lợi cho những hoạt động của anh. Sự kiện khiến Bằng Kiều được “hợp thức hóa” chính là cuộc hôn nhân của anh với nữ ca sĩ Trizzie Phương Trinh.

Theo luật di trú Hoa Kỳ, Nguyễn Bằng Kiều đã trở thành một người cư trú hợp pháp. Từ đó mặc nhiên đưa đên sự hợp thức hóa về phương diện thuần túy văn nghệ của Bằng Kiều trong hàng ngũ những nghệ sĩ… Việt Kiều. Tuy đã trở thành một Việt Kiều, nhưng việc muốn quay trở lại quê hương của anh xem chừng như có khá nhiều khó khăn.

Nhưng ở hải ngoại, thế đứng của Bằng Kiều đã hoàn toàn thay đổi. Từ sự chống đối trước kia trong những lần xuất hiện của anh nay được thay thế bằng những tràng pháo tay rộn rã của những người ái mộ. Tình trạng e dè của khán giả hải ngoại khi đến với những chương trình có sự xuất hiện của Bằng Kiều giờ đây đã được thay bằng một sư tham dự đông đảo. Nhất là đối với những người từng yêu thích giọng ca của anh từ cuối thập niên 90, qua những sản phẩm audio từ trong nước lan tràn ra hải ngoại.

Bằng Kiều tên thật là Nguyễn Bằng Kiều. Anh sinh năm 1973 tại Hà Nội. Thân phụ anh là một bác sĩ, nhưng cũng là một nhạc công nghiệp dư, đã qua đời vào giữa thập niên 90, trước khi người con út của ông trở thành một tên tuổi được biết đến nhiều trong nước.

Thân mẫu anh cũng là một nghệ sĩ sân khấu khá nổi tiếng trong các bộ môn chèo, kịch nói và ngâm thơ dưới tên Lưu Nga. Hiện bà vẫn còn ở Hà Nội và tuy không còn hoạt động văn nghệ từ lâu, nhưng thỉnh thoảng vẫn còn ngâm thơ trong nhưng buổi họp mặt giữa bạn bè. Bằng Kiều – một người rất mê bóng đá và là một cầu thủ có hạng của Hội Tuyển Bóng Đá Nghệ Sĩ nam California – vừa cười vừa cho biết anh là cầu thủ nhỏ tuổi nhất trong đôi bóng đá gia đình gồm 11 người con!

Có lẽ do thừa hưởng dòng máu văn nghệ của bố mẹ, nên khi mới lên 3, lên 4, Bằng Kiều đã biết hát nên từng được nhiều cơ quan đến gặp gia đình để mượn anh đi hát trong các buổi hội diễn! Giọng ca dễ thương của anh đã gây được rất nhiều thích thú cho người nghe. Đến khi anh được 7, 8 tuổi đã bắt đầu được mời đi hát tại những tiệc cưới.

Nhận thấy Bàng Kiều có năng khiếu về ca nhạc nên gia đình anh tỏ ra rất khuyến khích anh đi theo con đường thích hợp. Nhờ vậy anh đã bỏ nhiều thì giờ theo học rất nhiều thầy về căn bản nhạc lý cũng như về thanh nhạc trước khi chính thức vào học ở Nhạc Viện Hà Nội khi được 18 tuổi.

Tại Nhạc Viện Hà Nội, Bằng Kiều đã chọn môn kèn Basson để theo học trong 8 năm, và tốt nghiệp vào năm 1997. Cùng trong thời gian theo học ở đây, Bằng Kiều cố gắng tìm cách phát triển khả năng ca hát của mình bằng cách thành lập ban nhạc lấy tên Chìa Khoá Vàng. Một thời gian sau đó, anh cộng tác với ban nhạc Hoa Sữa là một ban nhạc đàn anh cũng theo học trong Nhạc Viện từ trước. Ngoài ra trước khi vào nhạc viện, anh từng mon men đi hát tại một số tụ điểm và vũ trường ở Hà Nội để bắt đầu gây được chút ít tên tuổi trong một phạm vi nhỏ bé nhờ chất giọng tốt, cộng với năng khiếu cùng sự chọu khó học hỏi nơi bạn bè.

Đến năm 91, Bằng Kiều bắt đầu trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp để tên tuổi được biết đến nhiều hơn. Trong khi đó, anh vẫn sử dụng kèn trong các buổi trình diễn với dàn nhạc giao hưởng của trường. Trong số 11 người con trong gia đình họ Nguyễn, ngoài Bằng Kiều còn có người anh của anh là Bằng Thái hoạt động trong ngành kịch nói, hiện đang cộng tác với đoàn kịch Quảng Ninh.

Anh còn một người chị từng có những hoạt động bên ngành chèo cổ tên Kim Liên, hiện sống bên Thụy Điển. Một số anh chị em của Bằng Kiều hiện sống phân tán ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong số có một chị là một doanh gia ở Hồng Kông và một anh hiện cư ngụ tận Angola và là người phụ trách về văn hóa và thể thao cho Cộng Đồng Người Việt tại đây!

Cùng vào năm 97 là năm anh tốt nghiệp Nhạc Viện Hà Nội, Bằng Kiều đã tung ra CD đầu tay của mình trong lúc anh đã được biết đến trong giới sinh viên, học sinh qua những chương trình truyền hình, trình diễn, vũ trường, vv…

Tuy nhiên tên tuổi Bằng Kiều vẫn chưa được phổ biến rộng rãi bởi lý do Hà Nội không phải là một thị trường lớn trong lãnh vực phát triển văn nghệ.

Phải đợi đến khi vào Sài Gòn năm 98, Bằng Kiều mới được coi là thành danh để trở thành một nam ca sĩ nổi tiếng trên toàn quốc. Đây là khoảng thời gian chương trình truyền thanh “Làn Sóng Xanh” đang tạo thành một cơn sốt trong giới trẻ yêu nhạc trong nước trong việc giới thiệu những tiếng hát mới như Lam Trường, Phương Thanh, Thanh Lam, Mỹ Linh, Quang Linh, Cẩm Vân, Bằng Kiều, vv…

Tuy Sài Gòn với “Làn Sóng Xanh” đã giúp anh tạo nên tên tuổi trong số 10 ca sĩ được mến chuộng nhất vào những năm cuối thập niên 90, nhưng Bằng kiều vẫn không cư ngư hẳn ở thành phố này như một số khác từ miền Bắc vào vì vẫn luôn cảm thấy gắn bó với nơi anh đã trưởng thành và được đào tạo thành một người có một căn bản vững vàng về ăm nhạc. Vì vậy anh vẫn thường xuyên đi lại Hà Nội và Sài Gòn. Và cùng thời gian này, anh thành lập một ban nhạc lấy tên là “Quả Dưa Hấu” với một số nhạc sĩ bạn như: Anh Tú, Tuấn Hưng và Tường Vân, gặt hái được nhiều kết quả khả quan.

Tên tuổi Bằng Kiều càng ngày càng nổi bật hơn nữa khi anh xuất hiện trên những chương trình video uy tín trong nước như “Làn Sóng Xanh” và “Duyên Dáng Việt Nam”. Với chương trình sau, anh bắt đầu có mặt từ chương trình số 5 cho đến số 11, trước khi sang Mỹ. Cũng nhờ ở thế đứng vững vàng của mình với một tên tuổi nổi như cồn vào thời đó, Bằng Kiều đã được báo chí trong nước cùng các fans ái mộ xưng tụng là một “siêu sao” nên đã được mời đi lưu diễn khắp nơi trong nước.

Tại Sài Gòn vào năm 98, Bàng Kiều đã được Mỹ Linh mời hát trong CD “Chiều Xuân” của cô. Với một số nhạc phẩm được thu thanh trên CD lần đầu tiên này, Bằng Kiều đã thành công ngay với: Nếu Điều Đó Xẩy Ra, Giọt Sương Trên Mí Mắt, và Trái Tim Không Ngủ Yên, được coi như những ca khúc gắn liền với tên tuổi của anh. Sau đó, Bằng Kiều lại tung ra một CD khác, hát chung với Trần Thu Hà. Qua đến CD thứ 3, Bằng kiều đã dành riêng cho tiếng hát của mình với một số nhạc phẩm chọn lọc và đã gặt hái được thành công đáng kể, trước khi tung ra CD cuối cùng được thục hiện trong nước hát chung với Phương Thanh.

Bằng Kiều biết Trizzie Phương Trinh trong thời gian hai người thu hình cho chương trình Duyên Dáng Việt Nam 9 vào năm 2000. Thật sự anh từng biết Trizzie trước đó qua nhưng chương trình video thực hiện tại hải ngoại. Nhưng đối với anh chỉ “xem cho biết vậy thôi chứ đâu có biết như thế nào”.

Nhưng qua đến năm 2001 anh mới có dịp làm quen trong dịp cả 2 người được mời xuất hiện trong chương trình ca nhạc Kỷ Niệm 10 Năm thành lập Trung Tâm Bến Thành Audio ở câu lạc bộ Lan Anh. Sau lần gặp gỡ đó, Bằng Kiều xác nhận là thấy “hợp hợp và vui vui” sau khi đã trải qua “tương đối là nhiều chuyện tình cảm”, như Bằng kiều thổ lộ! Sau lần đầu tiên gặp gỡ đó, Trizzie quay trở lại Mỹ một thời gian ngắn rồi về Việt Nam sống khoảng gần 2 năm. Trong thời gian này tình cảm giữa hai tâm hồn nghệ sĩ đã trở nên thắm thiết để họ quyết định đi đến hôn nhân.

Trước khi chính thức trở thành vợ chồng, Bằng Kiều và Trizzie Phương Trinh đã đứng ra khai thác một số cơ sở làm ăn, trong số có một nhà hàng trên đường Thái Văn Lung và một phòng trà trên đường Cách Mạng Tháng 8. Nhưng sau một thời gian, cả hai vì quá bận rộn trong lãnh vực nghề nghiệp, không có thời gian trực tiếp coi sóc nên đã phải để cho hai nơi này ngưng hoạt động.

Vào năm 2002, Bằng Kiều sang Mỹ du lịch lần đầu tiên và cùng với Trizzie thành hôn vào ngày 25 tháng 9 tại nam California. Một tháng sau, hai người quay lại Việt Nam để tổ chức một tiệc cưới tại Hà Nội. Và đến năm 2003 thì Bằng Kiều và Trizzie trở về sống hẳn tại Mỹ. Hiện hai người đã có với nhau 2 con trong một cuộc sống rất êm đềm và hạnh phúc. Được hỏi về phản ứng của mẹ anh trước quyết định thành hôn của anh, Bằng Kiều cho biết anh đã được mẹ chấp thuận ngay. Về phía gia đình Trizzie Phương Trinh cũng vậy. Bố mẹ cô đã hoàn toàn tác thành cho cuộc hôn nhân giữa hai nghệ sĩ trẻ này.

Sau 4 năm sống trong cuộc sống hôn nhân, Bằng Kiều tâm sự là anh cảm thấy có nhiều khác biệt so với tình trạng độc thân trước đó. Tuy nhiên anh cảm thấy may mắn khi cả hai vợ chồng đều là nghệ sĩ nên có được sự thông cảm lẫn nhau. Hơn nữa việc chăm sóc con cái cũng được gia đình hai bên hết lòng trợ giúp nên sinh hoạt của hai người không mấy bị xáo trộn.

Đối với một số khó khăn anh đã gặp phải từ phía trong nước sau khi anh qua sống tại Hoa Kỳ, Bằng Kiều cho biết tất cả bắt nguồn vào đầu năm 2003, khi anh xuất hiện trong chương trình văn nghệ Tết do Cộng Đồng Người Việt ở Toronto, Canada tổ chức trước khoảng 6, 7 ngàn người. Bằng Kiều kể lại như sau: “Em lên hát hôm đó thì thủ tục thì chắc như anh cũng biết là phải chào cờ. Em ở trong chương trình, em cũng phải như mọi người khác thôi. Khi mà em hát thì có người lên tặng bó hoa có cắm cờ Việt Nam, cờ vàng 3 sọc đỏ thì bắt đầu là bên kia người ta phản ứng “

Phản ứng mà Bằng Kiều nói đã được Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn quyết định qua một công văn, được báo chí trong nước đăng tải tóm tắt như sau: ”Cục này đề nghị các đài phát thanh, truyền hình trên toàn quốc, các nhà xuất bản, đơn vị nghệ thuật, đơn vị tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và các đơn vị sản xuất, phát hành băng đĩa, ca múa ca nhạc, sân khấu không sử dụng dưới mọi hình thức các tiết mục biểu diễn của 2 ca sĩ Bằng Kiều, Thu Phương và những bài hát do Bằng Kiều sáng tác. Đối vói các chương trình băng đĩa, các ấn phẩm xuất bản đã được phép phát hành, khi tiếp tục nhân bản hoặc tái xuất bản, phải cắt bỏ các tiết mục của hai ca sĩ, cũng như không sử dụng những ca khúc của Bằng Kiều…”

Cũng theo báo chí trong nước thì Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn quyết định Bằng Kiều (và Thu Phương) không được hưởng quyền của nghệ sĩ Việt Nam cũng như không còn được hưởng quyền công dân Việt Nam.

Trước phản ứng này Bằng Kiều cho là “Tất cả là do báo chí người ta quan trọng hoá vấn đề lên thôi chứ còn bản thân em đâu cái gì mà ghê gớm đâu!”. Ngoài ra theo anh biết, không hê có chuyện anh bị cấm về nước. Do đó Bằng Kiều không cho ràng có vấn đề khó khăn nếu anh trở về quê hương khi có dịp vì “em nghĩ lại em là người Việt mà… Em về có thể sẽ bị kỷ luật, có thể bị này kia. Nhưng mà về thì vẫn phải về thôi. Về nhà mà… Khi nào có dịp thì em về thôi.”

Trước những phản ứng ở trong nước đối với anh, Bằng Kiều cho rằng cảm tình của khán giả ở Việt Nam dành cho anh không thay đổi cho nên anh không đặt nặng vấn đề này.

Từ năm 2004, Bằng Kiều nhận lời cộng tác với trung tâm Thúy Nga để xuất hiện lần đầu tiên trên chương trình Paris By Night 72 trong nhạc phầm Anh Sẽ Nhớ Mãi và gần đây nhất là Buồn Ơi Chào Mi trên Paris by Night 83 mới phát hành. Với thể loại nhạc trình bày của mình màBằng Kiều gọi là nhạc trẻ, anh không quan niệm là hát nhũng nhạc phẩm họp với mình mà chính là phải được khán giả yêu thích…

So sánh với thời gian trước kia, Bằng Kiều tự nhận xét là hiện nay giọng hát và phong cách trình diễn của anh “có phần kinh nghiệm hơn và có phần đậm đà hơn”

Những điều đó, khán thính giả sẽ nhận thấy rõ hơn qua những sản phẩm audio và video có phần đóng góp tài nghệ của anh hoặc trong những “live show” có sự xuất hiện của anh, chẳng hạn như trong chương trình “Nhạc Hội Mùa Thu 2006” diễn ra tại Montreal vào ngày 14 tháng 10 tới đây cùng với nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác.

(TVTS – 1070)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.