Tại sao từ một Tp mệnh danh hòn ngọc viển đông sau một thời gian cai trị của CS trở nên kẽ ăn mày, một dân tộc VN kiêu hãnh trở nên bạc nhược yều hèn trước ngoại bang, mổi lẩn ra nước ngoài gặp gở giao tiếp phải xấu hổ dấu đi cái quốc tịch VN… etc. Trước sự thật không thể chối cải ấy hãy tìm hiểu bản chất vấn đề
Chế độ ba lá
Đỗ Thái Nhiên
Bài ba lá là kiểu chơi bài chỉ có ba lá bài. Với ba lá bài kia người chủ cái dùng xảo thuật của đôi bàn tay để đưa các con bạc vào mê hồn trận, nhìn lá bài đen tưởng là trắng, nhìn lá bài đỏ tưởng là đen… Cứ như vậy mà cháy túi. Từ đó bài ba lá trở thành thuật ngữ mô tả những hành động dối gạt người khác một cách tinh vi. Tinh vi đến độ “nạn nhân” không hề hay biết là họ đang bị dối gạt. Guồng máy thông tin tuyên truyền của CSVN thường xuyên tự nhận họ là chế độ bao giờ cũng “hiếu với dân”, bao giờ cũng tôn vinh người dân ở vị trí cao cấp nhất: Nhân dân làm chủ tập thể, hội đồng nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, công an nhân dân,… Câu hỏi đặt ra là đàng sau những chữ nhân dân lộng lẫy kia, liệu chừng nhân dân có bị cài đặt để phải sống “vô tư” dưới chế độ độc tài được ngụy trang bằng kỹ thuật của bài ba lá hay không? Bài viết này trả lời câu hỏi vừa nêu bằng cách phân tích và đánh giá chế độ Hà Nội thông qua các kỷ thuật pháp lý, chính trị khác nhau:
1. Chế độ Hà Nội có hay không tính chính thống?
Chính thống là dòng chính, dòng thực. Đất nước là của toàn dân. Toàn dân là chủ nhân ông duy nhất và tối cao của đất nước. Tính chính thống của một chế độ chính trị đòi hỏi chế độ đó phải được người dân ủy nhiệm cho họ quyền được thay mặt người dân để điều hành công việc quốc gia. Cách ủy nhiệm thấy rõ nhất là bầu cử và ứng cử hoàn toàn công bằng, tự do, dân chủ. Người dân sử dụng lá phiếu để bầu chọn ra nhà cầm quyền. Chế độ Hà Nội từ ngày cướp được chính quyền năm 1945 cho tới nay đã liên tục thực hiện những cuộc bầu cử theo kiểu: Đảng cử, công an kềm kẹp, dân bầu. Bầu cử như vậy gọi là bầu cử bài ba lá. Chế độ Hà Nội hiển nhiên là chế độ phi chính thống, chế độ chính thống ba lá.
2. Hành chánh công quyền của chế độ Hà Nội:
Những kẻ gian dối bao giờ cũng tìm cách tạo ra một vẻ bề ngoài quang minh chính đại. Hành động như vậy được người Việt Nam gọi là vừa đá banh vừa thổi còi. Mục tiêu hàng đầu của thể chế tự do dân chủ là nổ lực triệt tiêu tệ nạn vừa đá banh vừa thổi còi. Muốn vậy, guồng máy công quyền dân chủ bao giờ cũng hình thành trên ba trụ cột: hành pháp, lập pháp, tư pháp. Ba trụ cột này hợp tác với nhau trong điều hành công việc quốc gia nhưng hoàn toàn độc lập và tuyệt đối bình đẳng. Sự việc này khẳng định một người, một đảng không thể vừa làm ra luật (Quyền Lập Pháp), vừa thi hành luật (Quyền Hành Pháp), vừa trừng phạt chính mình nếu mình vi phạm luật pháp (Quyền Tư Pháp). Về mặt hình thức, CSVN có đầy đủ tam quyền; hành pháp do thủ tướng đứng đầu, lập pháp là quốc hội CSVN, tư pháp là hệ thống tòa án nhân dân. Thế nhưng trong thực tế: do bầu cử kiểu bài ba lá và nhất là do sự khẳng định của điều 4 hiến pháp 1992, cả ba quyền hành pháp, lập pháp, và tư pháp tại Việt nam từ nhiều thập niên qua đều nằm gọn trong tay của đảng CSVN. Đó là lý do căn bản nhất giải thích tại sao CSVN không thể và không muốn tận diệt quốc nạn tham ô. Đó còn là lý do dẫn đến kết luận: chế độ Hà Nội đang thống trị đất nước theo mô hình hành chánh công quyền bài ba lá.
3. Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam
Hiến pháp là văn kiện luật pháp tối cao của quốc gia. Bên dưới hiến pháp là đạo luật, sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh, quyết định, nghị định, v.v… gọi chung là luật pháp. Hiến pháp chỉ đạo mục tiêu mà luật pháp phải phục vụ. Hiến pháp qui định những phương pháp pháp lý mà luật pháp có thể vận dụng. Hiến pháp lãnh đạo luật pháp. Luật pháp không được quyền chống lại hoặc làm cho hiến pháp bị đông lạnh.
nước CHXHCN Việt Nam lớn tiếng đề cao và mạnh mẽ cam kết: bảo vệ và phát triển mọi quyền tự do của con người. Thế nhưng đi vào thực tế, hiến pháp 1992 chỉ là một tảng đá bất động đối với nhân quyền và công dân quyền. Phương pháp Hà Nội đã sử dụng để làm cho hiến pháp hóa đá xin được giải bày như sau: Đi kèm theo mỗi điều luật hiến pháp tuyên xưng nhân quyền, CSVN lại cài đặt một ghi chú rằng quyền này sẽ do luật qui định. Tiếp đó, luật qui định có nhĩa là CSVN dùng luật rừng để chà đạp nhân quyền. Xin hãy khảo sát một vài điều luật của hiến pháp 1992 để giúp cho câu chuyện hiến pháp hóa đá trở nên dễ hiểu hơn:
Điều 54: Công dân không phân biệt dân tộc, nam,nữ, thành phần xã hội…đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào quốc hội, hội đồng nhân dân theo qui định của luật pháp.
Sau đây là ý nghĩa của điều được gọi là theo qui định của luật pháp: công dân chỉ được quyền ứng cử vào quốc hội và các hội đồng nhân dân, nếu được sự cho phép của Mặt Trận Tổ Quốc, mặt trận này là tay chân của đảng CSVN. Như vậy rõ ràng là luật qui định hiến pháp chứ không phải hiến pháp qui định luật.
Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của luật pháp.
Tự do báo chí là dân quyền trọng yếu ghi ở điều 69. Câu hỏi kế tiếp là: Luật của CSVN đã làm gì để biến điều 69 thành hoạt động cụ thể của Xã hội? Thưa rằng ngày 29/11/2006, bằng chỉ thị số 37, ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN, đã ban bố quyết định tuyệt đối cấm tư nhân tức là cấm quần chúng Việt Nam làm báo dưới bất kỳ hình thức nào. Rõ ràng là chỉ thị 37 ngồi xổm trên điều 69 của hiến pháp CSVN.
Bây giờ chúng ta hãy xét tới điều 17 nói về quyền tư hữu của người dân.
Điều 17: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, , thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lãnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỷ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà luật pháp qui định là của nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân.
Điều 17 là sự xác nhận: luật CSVN qui định tất cả tài sản có được từ đất nước Việt Nam và con người Việt Nam đều là “của nhà nước”, tức là của đảng CSVN. Ngừơi dân chỉ được hiến pháp CS phong lên làm ông chủ lớn bằng nhóm chữ: “Sở hữu toàn dân”. Nhóm chữ này hoàn toàn rỗng tuếch, vô nghĩa.
Như vậy, hiến pháp 1992 có ba đặc điểm:
1. Pháp chế dân chủ đòi hỏi hiến pháp phải lãnh đạo các loại luật. Hiến pháp 1992 đã dùng nhóm chữ “Theo qui định của luật pháp” để nhường ngôi cai trị đất nước cho luật rừng của CSVN.
2. Luật pháp CSVN qui định rất chi tiết cho đảng CSVN tất cả những quyền và những lợi mà một chế độ độc tài tham ô có thể thâu tóm được.
3. Tất cả những gì thuộc về quyền và lợi của người dân, nhất là quyền tư hữu và quyền dân chủ đều bị hiến pháp 1992 tước bỏ dưới nhãn hiệu “theo qui định của luật pháp”
Đọc hiến pháp CSVN, người đọc mừng rỡ khi thấy mọi quyền dân chủ nhân quyền của người dân đều được tôn xưng. Thế nhưng qua đến màn “Theo qui đinh của luật pháp” thì toàn bộ những quyền hành kia đều bị hạ bệ triệt để. Không còn nghi ngờ gì nữa: hiến pháp 1992 đích thực là hiến pháp bài ba lá.
Tóm lại, Chính thống chính trị của Ba Đình là chính thống ba lá. Tam quyền phân lập của Ba Đình là tam quyền ba lá. Hiến pháp của Ba Đình là hiến pháp ba lá.
Một chế độ tồn tại nhờ ma thuật bài ba lá, chế độ đó không thể sửa sai, chế độ đó chỉ có thể bị lật đổ.
Đảng muốn người dân phải biết rõ: Đảng đứng trên cả luật pháp !!!
Nguyễn Vọng
Cuối cùng thì cây cầu bắt qua sông Gianh thuộc địa phận xã Quảng Hải tỉnh Quảng Bình cũng được khánh thành. Đây là một trong số những cây cầu “dần xây” của Việt Nam, cây cầu liên quan đến cái chết thê thảm của mấy chục người dân vô tội nôn nóng trở về nhà cho kịp những ngày cuối năm bận rộn chuẩn bị đón tết Kỷ Sửu, bị chìm đò vì đò chở quá nặng bị lật.
Cây cầu nầy liên quan đến cái chết tức tưởi của mấy chục con người bởi vì nó bị chậm trễ đến 4 năm, giá như nó được xây dựng đúng tiến độ thì cái bến đò thô sơ cạnh đó đã bị xóa sổ đời nào, có đâu nên nỗi! Các quan chức tỉnh Quản Bình lẫn các quan chức ngành GTVT theo đúng truyền thống chẳng ai thấy mình có lỗi, có trách nhiệm gì trong chuyện tai nạn này cả, cầu xây chậm là “bởi những lý do khách quan” (trích đúng lời của các quan chức ngành GTVT trả lời báo chí trong nước), còn để cho tai nạn xảy ra là lỗi của…ông lái đò! Và trong tinh thần lạc quan vô trách nhiệm đó, sáng nay mồng 4 tháng 9 người ta tưng bừng tổ chức lễ thông xe khánh thành cây cầu. Trong khi trên cầu người ta hí hửng báo công, gắn huy chương trao bằng khen cho gần 20 quan chức cán bộ đã có công trong việc hoàn thành công trình xây dựng cầu…trễ 4 năm thì dưới chân cầu nhân dân địa phương dẫn các nhà báo đi tham quan những chỗ bị nứt nẻ nơi móng cầu mà người dân đã phát hiện trước đó rất lâu nhưng có lẽ vì quá bận rộn cho kịp ngày khánh thành mà nhà thầu thi công chưa kịp xóa dấu vết. Nhưng nhà báo có thấy cũng chẳng ăn nhằm gì đâu bỡi chuyện nầy trở nên quá tầm thường từ lâu rồi.
Các nhà báo đi tham quan những chỗ bị nức nẽ nơi móng cầu.Những cây cầu trên những tuyến đường trọng điểm như cầu Cần Thơ, cầu Chợ Đệm còn bị nứt sập nữa thì cây cầu địa phương nầy kể gì. Chẳng còn ai cảm thấy xấu hổ vì những chuyện như vậy nữa: hầm chui đường bộ Kim Liên ngay giữa Thủ đô Hà Nội được tâng bốc là hiện đại nhất Việt Nam nhưng sau khi khánh thành một ngày gặp trận mưa sơ sơ là biến thành sông với nhiều vết nứt, vậy mà người ta cũng tìm ra được cách nói cho qua chuyện, báo chí cũng nói ngang đó rồi … chuyển qua chuyện khác…vui hơn! Nhưng mấy chục người chết thê thảm quá, dân phẫ nộ quá, người ta phải tìm ra ai đó mà trị tội cho tỏ rõ cái nghiêm minh của pháp luật chứ, vậy là người ta tìm ra chính danh thủ phạm là …anh em ông lái đò. Lại ông lái đò oan nghiệt, mấy năm trước đây tại huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam một ông lái đò già gần tuổi theo ông theo bà cũng phải ra toà vì tội già yếu quá mà còn chèo đò đưa mấy cháu học sinh qua sông đi học, không chống cự nỗi con nước xoáy làm đò chìm chêt mười mấy em học sinh. Chẳng thấy ai bắt tội mấy ông quan địa phương chỉ biết lo ăn mà chẳng biết lo cho dân, đợi đến khi cống nạp cho thuỷ thần mấy chục mạng trẻ em vô tôi mới quyên góp tiền của bá tánh để xây cầu. Nay tiếp tục truyền thống đó đảng và chính quyền tỉnh Quảng Bình cũng tìm ra được hai anh em ông lái đò để nạp cho các quan toà công minh ở Quảng Bình xét xử. Đúng một ngày trước ngày khánh thành cầu Quảng Hải tức vào ngày 3/9 hai anh em ông lái đò ở cái miền quê heo hút nầy đã được toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình tuyên một cái án kịch trần (theo ngôn ngữ báo chí hiện nay) là gần 40 năm tù ở chia cho 2 người. Xem ra cái pháp luật ở nước ta chỉ dành cho dân đen, bởi dân “không đen” – nghĩa là dân có tiền – đều có thể tránh được sự trừng phạt của pháp luật dễ dàng, bởi vậy mới có thuật ngữ “chạy án”. Khi có chuyện rắc rối với pháp luật ít ai nghĩ đến luật sư bỡi họ biết luật sư chẳng ăn nhằm gì, họ chạy đến công an điều tra, đến VKS, đến ông Chánh án sẽ ngồi xử mình, xong ngay. Tội nhẹ thành không tội, tội nặng thành tội nhẹ, rồi đặc xá này nọ thì xem ra cũng chẳng ngồi tù mấy ngày.
Ở đây anh em ông lái đò sông Gianh không có tiền bạc gì ngoài con đò nát đã chìm nên dễ dàng chia nhau gần 40 quyển lịch. Ai nghe tin này cũng xuýt xoa sao án nặng thế, cái tội của họ chẳng qua là cái tội của người dân quê thiếu hiểu biết, hám lợi và chiều khách mà gây nên nỗi. Thân nhân của những nạn nhân chìm đò, người dân Quảng Hải cũng chẳng còn oán trách gì anh em ông lái, thậm chí còn thương hại họ nhưng họ rủa thầm cái đám quan chức địa phương ham ăn mà chẳng ham làm. Họ còn trách đám quan toà bất nhân, mấy chục năm tù mà xem nhẹ như mấy tháng, xử anh dân đen thì nhoáng một cái là xong, chẳng cần đắn đo cân nhắc, trong khi với lũ có tiền thì cù cưa năm này tháng nọ vẫn chưa xong; cứ xem tin báo mấy ngày nay thì rõ: anh chàng vũ trường Century ở Hà Nội, kinh doanh vũ trường thuốc lắc, ma tuý bao nhiêu năm trước mũi công an phường, công an quận ở ngay thủ đô mà chẳng làm sao vì đã được công an bảo kê, sau chẳng hiểu vì sao mà đến nỗi công an của thành phố Hà Nội phải âm thầm tổ chức vây bắt. Cả mấy trăm người đang ăn chơi nhảy nhót ma túy ì xèo, những tưởng phen này anh chàng chủ vũ trừờng này e phải lãnh đủ vì hành vi phạm pháp quá lộ liễu, nhưng rồi đã mấynăm trôi qua mà chẳng thấy xét xử gì mà bây giờ theo báo chí đưa tin từ cơ quan điều tra thì tội của anh chàng không còn nặng nề nghiêm trọng như buổi ban đầu, mà chỉ còn mấy tội lăng nhăng chẳng đáng ở tù. Những chuyện như vậy quá tầm thường chẳng ai thèm quan tâm.
Có người bảo đâu phải chỉ dân đen mới bị ở tù, cán bộ cùng nằm đầy trong các trại giam. Đúng không sai, nhưng chỉ là cái đám cán bộ cấp nhí, và đa phần dính vào án tham nhũng, đảng nhà nước cũng phải trừng phạt để nhân dân bớt dị nghị.Vả lại, cái đám tù nầy tiền bạc dư thừa, đã chạy cho nhẹ án rồi, vào tù cũng thành tù cha, mập mạp trắng trẻo còn gấp mấy người thường, ai không tin thử vào các trại giam xem thử thì biết, chịu khó nằm ít lâu, chỉ qua vài đợt đặc xá là xong ngay. Bỡi vậy, khi xét xử cái đám tội phạm nầy toà án nhân dân cứ mạnh dạn tuyên án cho tỏ rõ cái tính công minh của luật pháp, rồi sau đó đã có cán bộ công an trại giam lo phần còn lại, bỡi vì tuyên án là chuyện của toà còn giảm án (dựa vào chế độ đặc xá) là quyền của cán bộ trại giam. Ngày xưa, khi đóng đinh chúa Giê-su người ta đã đóng đinh thêm 2 tên cướp cạnh ngài, phương pháp đó ngày nay đã được Đảng và nhà nước áp dụng nhuần nhuyễn, đặc xá cũng như ăn cơm độn sắn khoai trong thời gian khổ, một hạt cơm phải cõng theo chục lát sắn khô. Trong hơn 5000 tù nhân được đặc xá năm nay nhân ngày 2/9 con số bọn ăn theo chắc không ít, nghe đâu có cả đại gia Liên khui Thìn một thời đình đám, tưởng là phải mục xác trong tù ai dè cũng sớm về nhà để hưởng phước.
Đoàn văn Kiển, chủ tịch HĐQT tổng công ty than/khoáng sản VN (TKV)Cũng trong những ngày này người ta đọc thấy tin ông Đoàn văn Kiển, chủ tịch HĐQT tổng công ty than/khoáng sản VN (TKV) bị khiển trách về mặt đảng vì những sai phạm trong thời gian ông giữ chức chủ tịch TKV. Theo cái bảng cáo trạng dài lòng thòng trên báo chí thì ông Kiển đã lộng quyền, tự tung tự tác bao che cho người nhà em út, để xảy ra tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên quốc gia. Để hình dung ra tội trạng của ông ta một cách cụ thể thì chúng ta có thể căn cứ vào con số sau đây: chỉ trong vòng 3 năm từ năm 2005-2008 ông đã để xãy ra tình trạng các công ty tư nhân, bọn khai thác than thổ phỉ, công ty của người nhà ông ta…đã khai thác lậu và xuất khẩu 18 triệu (mưòi tám triệu) tấn than, phần lớn xuất qua Trung Quốc. Ông đã không bị truy tố, xét xử vì bất cứ tội danh nào, ngoại trừ bị đảng khiển trách, và báo chí đã đăng tin này vào vị trí trang trọng nhất, điều này cho thấy ở đất nước chúng ta đảng đứng trên cả luật pháp và đảng muốn người dân phải biết rõ điều này để khỏi phải … tức mà chết uổng thân./.
Nguyễn Vọng
Quái tượng ngoại giao
Dem Giua Ban Ngay
Đỗ Thái Nhiên
Nhu cầu tìm kiếm lương thực và nhiên liệu để nuôi sống trên một tỉ 300 trăm triệu dân đã làm cho Trung Quốc ngày càng trở nên hung hãn trong việc lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia lân bang. Đối diện với tình huống vừa kể, Hoa Kỳ, các tổ chức quốc tế, tổ chức ASEAN, đặc biệt là Việt Nam không thể không quan ngại. Giải pháp nào có thể giúp cho các quốc gia Đông Nam Á được sống ổn định bên cạnh ông khổng lồ Bắc Kinh đói ăn và khát nhiên liệu? Câu trả lời nằm ở các bản tin sau đây.
Ngày 22/07/2009 Hoa Kỳ ký thỏa ước bất tương xâm với các quốc gia trong tổ chức ASEAN. Theo ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, thỏa ước kia là lời khẳng định: Hoa Kỳ đã trở lại Á Châu.
Tháng 07/2009, trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Bloomberg, Honolulu, ông Raymond Burnhardt, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam các năm 2001-2004, nhận định rằng, “Các bất đồng ý kiến về quần đảo Trường Sa và các vùng phụ cận có vẻ êm xuống một thời gian, bây giờ căng thẳng trở lại, một phần lý do là Trung Quốc muốn bành trướng thế lực.”
Ông cựu đại sứ Raymond Burnhardt nhấn mạnh, “Mỹ và Việt Nam cùng có chung nhiều lợi ích chiến lược, trong số đó có cả sự duy trì cân bằng (thế lực) ở Đông Nam Á.”
Ngày 19/08/2009, từ giả Miến Điện TNS Jim Webb đến Việt Nam. Ông Jim Webb là chủ tịch Tiểu Ban Đông Nam Á Thái Bình Dương, Ủy Ban Đối Ngoại, Thượng Viện Mỹ. Trong một cuộc họp báo tại Hà Nội, khi đề cập tới những tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á, TNS Jim Webb tuyên bố:
“Hoa kỳ nên xác định rõ ràng, chi tiết và cụ thể công việc bảo vệ chủ quyền của các quốc gia trong khu vực này. Tôi không ám chỉ một đối đầu quân sự, nhưng tôi muốn nói đến vai trò ngoại giao. Với tư cách của một quốc gia, ý muốn của Hoa Kỳ sẽ trở thành một lực cân bằng-không phải để chống đối mà để cân bằng thế lực- đối với Trung quốc trong vùng này.”
Ngày 27 tháng 08 năm 2009, ông Lê Công Phụng, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho Thông tấn Xã Việt Nam biết; Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao CSVN đang chuẩn bị tới Mỹ. Đồng thời, ông Lê Công Phung còn nói thêm: Mỹ và Việt Nam đang thảo luận việc tướng Phùng Quan Thanh, bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đến thăm Hoa Kỳ.
Các tin tức vừa trích dẫn cho thấy: Cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam đều đồng ý với nhau trên quan điểm rằng Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam cần Hoa Kỳ đóng vai trò đối lực hữu lý trong việc đương đầu với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Vấn đề còn lại là làm thế nào biến quan điểm kia thành hành động cụ thể? Chúng ta hãy khảo sát hành động cụ thể của CSVN và Hoa Kỳ.
Về phía Hoa Kỳ ‒ Ngay khi đến Hà Nội, TNS Jim Webb đưa ra nhận xét: Trung Quốc đã tạo điều kiện để Miến Điện phải sống bám vào Trung Quốc như một loài ký sinh: sống dở, chết dở; không thể phát triển được. Nói cho Hà Nội nghe về Miến Điện, TNS Jim Webb có hậu ý cảnh báo CSVN rằng, Bám vào Bắc Kinh, Hà Nội không thể không trở thành Miến Điện.
Mặt Khác, nhằm trấn an CSVN về lo sợ mất đảng, TNS Jim Webb đã không đề cập đến dân chủ, nhân quyền vào dịp Jim Webb đến Hà Nội ngày 19/08/2009. Tuy nhiên, do nhu cầu hợp lý của chính trị quốc tế, Hoa Kỳ không thể thực tâm hợp tác chiến lược với một chế độ độc tài và tham ô kiểu Hà Nội. Vì vậy, khi trả lời báo chí về dân chủ nhân quyền tại Việt Nam, ông Jim Webb chỉ nói vắn tắt: Vấn đề vừa nêu “là một tiến trình đang diễn ra”. Tuy nói là “vắn tắt” nhưng Hà Nội phải hiểu là quốc hội Hoa Kỳ, do đòi hỏi của cử tri, không thể nuôi dưỡng lâu dài một chế độ tham ô kiểu CSVN.
Về phía CSVN ‒ Bản chất của nhà cầm quyền Hà Nội là tham lam và thiển cận. Hà Nội tin là chế độ hèn kém và tham ô của họ có thể vừa van xin Trung Quốc bảo vệ CSVN ở vị thế thống trị Việt Nam, vừa dùng Hoa Kỳ để ngăn cản sức bành trướng của Bắc Kinh. Nhằm thực hiện âm mưu kia, Hà Nội đã đón tiếp TNS Jim Webb bằng cách rầm rộ cho trình chiếu trên các hệ thống truyền hình của CSVN đoạn video ghi nhận bốn người hoạt động dân chủ Việt nam đang “nhận tội và xin khoan hồng”. Đó là cá ông Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, Ls. Lê Công Định. Kịch bản “nhận tội và xin khoan hồng” của Hà Nội nhằm nói lên hai điều:
1.Nói với Trung Quốc: CSVN quyết tâm bảo vệ quan hệ nước mẹ và nước con giữa Trung Quốc và CSVN. Quyết tâm vừa nói được CSVN thể hiện bằng hành động thẳng tay đàn áp tất cả người Việt Nam nào dám đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ, hoặc đấu tranh chống Trung Quốc xâm lược.
2.Nói với Hoa kỳ: CSVN rất cần Hoa Kỳ đóng trọn vai trò đối trọng đối với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh tại Đông Nam Á. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là CSVN để mặc cho Mỹ tùy nghi dân chủ hóa Việt Nam. Chủ trương bất biến của CSVN là: Thà mất nước còn hơn mất đảng.
Trong quan hệ với Mỹ, vì quá cực đoan với công việc bảo vệ đảng độc tài, CSVN đã để lộ cho thế giới thấy Hà Nội vừa mới thực hiện một quái tượng ngoại giao có một không hai trong lịch sử bang giao quốc tế. Thực vậy, trong đoạn video được gọi là “Nhận tội và xin khoan hồng” nói ở trên, guồng máy thông tin, tuyên truyền của chế độ Hà Nội đã làm cho công luận chú ý tới tiết mục Luật Sư Lê Công Định đọc lời nhận tội. Từ tài liệu nhận tội này luật sư Định cho biết ông đã có lần gặp mặt nguyên thứ trưởng ngoại giao Hoa kỳ John Negroponte và đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak. Mang các cuộc tiếp xúc vừa kể đặt vào phần nhận tội của luật sư Lê Công Định, CSVN muốn thông báo cho toàn thế giới văn minh biết rằng: tại Việt Nam nói chuyện với giới chức ngoại giao cao cấp của Mỹ là một tội phạm hình sự.
Theo tập quán bang giao quốc tế, quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và CSVN chỉ có ý nghĩa, chừng nào quan hệ này hội đủ bốn chuẩn mực sau đây:
Thứ nhất: tình thân hữu, gọi tắt là thịnh tình. Tình thân hữu không thể thành hình trên sự kiện công dân Việt Nam nói chuyện với giới chức ngoại giao của Mỹ là một tội phạm hình sự.
Thứ hai: CSVN và Hoa Kỳ phải thực sự đứng ở vị trí của hai quốc gia hoàn toàn độc lập, gọi tắt là đắc vị. Không thể có yếu tố đắc vị nếu CSVN vừa bang giao với Mỹ, vừa run sợ đôi mắt trông chừng của quan thầy Trung Quốc.
Thứ ba: mỗi quốc gia trong cuộc bang giao phải làm trọn nghĩa vụ của mình, gọi tắt là tận phần. Nói cách khác tận phần có nghĩa là “có đi, có lại mới toại lòng nhau”. Làm gì có được tận phần khi CSVN toan tính vừa làm tay sai cho Trung Quốc vừa lấy tiền Mỹ, vũ khí Mỹ để cùng với Trung Quốc quấy nhiễu Hoa Kỳ?
Thứ tư: tính hợp lý hàng đầu trong bang giao quốc tế đòi hỏi các quốc gia trên cuộc bang giao phải thường xuyên trung thành với hai mục tiêu: một là phục vụ quốc gia mà mình đại diện, hai là xây dựng một cộng đồng quốc tế hòa bình và thịnh vượng chung. CSVN chỉ phục vụ quyền tham ô của đảng, không phục vụ quốc gia. Mặt khác, đối với CSVN, không có xã hội quốc tế hiểu theo nghĩa lành mạnh. Hãy nhìn cung cách CSVN phục vụ Olympic 2008 của Trung Quốc để hiểu rằng CSVN chỉ biết quốc tế Tàu và chối bỏ mọi hình thái quốc tế khác. Đi tìm tính hợp lý của chế độ Hà Nội trong bang giao quốc tế chẳng khác nào mò tìm mặt trăng dưới đáy giếng.
Khảo sát bốn yếu tố căn bản của bang giao quốc tế, người khảo sát thấy rằng CSVN không thực tâm mời gọi Hoa Kỳ đóng vai trò đối lực trong mục tiêu ngăn cản âm mưu bành trướng của Bắc Kinh. Bang giao Việt Mỹ chỉ là một loài hoa giấy. Nó chỉ có tác dụng làm cho dư luận quốc nội và quốc tế có cảm nghĩ là CSVN đang tìm đường thoát ra khỏi vòng tay của Trung Quốc. Xin nhấn mạnh cảm nghĩ kia chỉ là ảo tưởng. Từ vùng ảo tưởng vừa xác định, nhìn về tương lai Việt Nam, chúng ta chỉ thấy một khối mây xám khổng lồ. Ngoại giao gây ảo tưởng gọi là quái tượng ngoai giao vậy.
Cải Cách Chính Trị-Khát Vọng Của Nhân Dân.
Việt Cường
Tôi tin rằng cho đến lúc này, thì với đa số người Việt Nam chúng ta, những người quan tâm đến vận mệnh đất nước, với tương lai của chính con cháu mình, đã có thể đồng thuận với nhau rằng: Phải có thay đổi về chính trị tại Việt Nam.
Một hạ tầng là nền Kinh tế thị trường mà thượng tầng là Chủ nghĩa cộng sản đã không thể cởi trói cho xã hội Việt Nam phát triển. Hiện tại của Việt Nam sau bao nhiêu năm “đổi mới” đến giờ, cho dù đã có những thành công bước đầu, vẫn không thể có mức tăng trưởng và phát triển cần thiết để so sánh với các quốc gia trong khu vực, chưa nói đến chuyện đuổi kịp các nước phát triển khác trên thế giới.
Muốn cải tổ kinh tế thành công và bền vững phải cải cách chính trị triệt để. Mười năm năm qua, Việt Nam đã có những cố gắng để cải thiện nền kinh tế.Tuy nhiên, do những ràng buộc về quyền lợi gắn chặt giữa kinh tế và chính trị, với việc vẫn lấy khối doanh nghiệp nhà nước làm động lực chính để phát triển nền kinh tế, đã khiến khu vực kinh tế Tư nhân Việt Nam gặp phải nhiều khó khăn. Cơ sở luật pháp bất cập, thiếu công bằng, thiếu rõ ràng và minh bạch gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Việt Nam vẫn chưa là một nước có nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, thành ra trong các cuộc trao đổi, mua bán, giao dịch quốc tế, chúng ta luôn phải chịu thua thiệt và bất công. Với một xuất phát điểm cực kì thấp như nền kinh tế Việt Nam thì tăng trưởng 7-8% mỗi năm không phải là dấu hiệu cho phép ta lạc quan thái quá, cơ hội để bắt kịp các nước vẫn còn mờ mịt.
Hiện nay, sự phát triển kinh tế ở nước ta mang lại nhiều lợi ích cho một bộ phận nhỏ trong xã hội tập trung ở khu vực kinh tế hướng ngoại, nghĩa là những thành phần giao thương buôn bán với nước ngoài. Còn phần lớn dân chúng, đặc biệt là ở nông thôn Việt Nam chưa hưởng được lợi ích nhiều từ công cuộc “đổi mới” này. Điều đó dẫn đến sự ngăn cách giàu nghèo ngày càng lớn, và đây là mầm mống cho sự bất ổn xã hội trong tương lai.
Đấy là về lĩnh vực kinh tế, bây giờ chúng ta thử bàn về lĩnh vực chính trị.
Trước hết chúng ta phải nhất trí với nhau trên một vài nhận định chung:
- Môn xã hội học, hoặc chính trị học không thể có sự chính xác tuyệt đối như khoa học tự nhiên, tức là không thể như toán học là 1+1=2. Vì thế có những tư tưởng hay học thuyết, lập luận hết sức sai lầm vẫn bị lợi dụng với một sự diễn giải ngụy biện, dối trá để phục vụ cho mục đích của cá nhân, đảng phái, thậm chí bằng những lí lẽ rất cao siêu và nhân văn, nó nhân danh mọi thứ tốt đẹp nhất trên đời như Tổ quốc , Dân tộc, Nhân dân, Lòng yêu nước,…Vì vậy mà chúng ta hãy nhất trí với nhau rằng mọi lí thuyết, tư tưởng đều phải đối chứng với thực tế của cuộc sống. Chúng ta chỉ công nhận những điều mà thực tế đã chứng minh là đúng.
- Chúng ta cần phải thẳng thắn nhìn nhận rằng: Việt Nam đang là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Chúng ta đừng nên mất công đi tìm những chân lí mới, mô hình mới trong tương lai xa vời và mù mịt, cái tương lai mà chưa ai hình dung ra như thế nào. Chúng ta không cần phải chứng minh cho cả thế giới biết rằng chủ nghĩa Cộng sản sẽ đúng hay sai trong tương lai. Điều mà chúng ta phải lo là những chuyện trước mắt như sự ấm no, tự do, hạnh phúc của chính chúng ta, của nhân dân Việt Nam. Mà để làm được những việc đó thì chúng ta cứ việc học hỏi những gì mà các nước khác đã làm, và đã thành công.
- Chúng ta phải khẳng định rằng: Không có nhân dân tồi và xấu mà chỉ có chính quyền là tồi và xấu mà thôi. Sự thành công của các nước giàu có và phát triển là do họ có một chính quyền năng động và giỏi giang, một chính quyền biết lo nghĩ cho nhân dân mình. Một gia đình nghèo khó là do bố mẹ không biết làm ăn tính toán, một công ty thua lỗ phá sản là do lãnh đạo công ty tồi.Cứ như vậy mà suy ra rằng, một đất nước đói nghèo khổ sở là do chính quyền kém cỏi, bất tài. Bất cứ người dân nào, trong bất cứ một quốc gia nào, đều mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, có một chính quyền biết lắng nghe và chia sẻ để họ có thể yên ổn làm việc và cống hiến một cách hết mình. Đổi lại, họ sẽ có một cuộc sống đầy đủ và tự do. Nhân dân luôn yêu chuộng hòa bình, lẽ phải, công lí… Khát vọng và mong muốn của mọi người trên hành tinh này là như nhau, người Việt Nam chúng ta cũng vậy. Đó là Sự Thật.
Khi chúng ta nhất trí với nhau về những nhận định trên thì mới có thể bàn luận tiếp về chính trị. Nhiều người trong chúng ta luôn có thái độ lẩn tránh chính trị. Họ cho rằng chính trị không có liên quan gì đến họ. Nhưng thực ra không phải. Sự giàu-nghèo, sướng-khổ của mỗi người dân đều chịu sự tác động trực tiếp từ chính quyền, từ thể chế chính trị. Vì lẽ đó, nhân dân cần phải tham gia vào đời sống chính trị. Ngay từ đầu thế kỷ 20, nhà chí sỹ Phan Châu Trinh đã viết: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân nào ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường… Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi.”
Cụ thể hơn, gắn liền với đời sống xã hội ta ngày nay, một trí thức trong nước cũng bàn về sự tham gia của nhân dân trong đời sống chính trị như sau: “Là một công dân của đất nước, chúng ta có quyền, đồng thời là nghĩa vụ, đóng góp ý kiến về những đường hướng và chính sách của đất nước. Chẳng gì thì những quyết sách này cũng ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của chúng ta, ví dụ như quyết định cấm đăng ký xe máy trong nội thành, quy hoạch thành phố, bỏ kỳ thi tuyển sinh đại học, tăng giá xăng dầu, tham gia WTO, chống tham nhũng và cửa quyền như thế nào v.v… Đó là chưa kể đến những quyết định quan trọng liên quan đến sống hàng triệu người: nên đặt ưu tiên giao thương với Hoa Kỳ hay Trung Quốc, nên khai thác nguyên tử năng hay đắp đập thủy điện ?”….
* *
Việt Nam vẫn còn là một trong bốn nước cuối cùng trên thế giới theo Chủ nghĩa Cộng sản. Sự thất bại của chủ nghĩa này đã được chứng minh không chỉ trên lý thuyết, mà còn bằng sự sụp đổ của Liên Xô cũng như các nước Đông Âu. Trong bốn nước cộng sản cuối cùng này, Việt Nam đang có nguy cơ đứng cuối bảng! Đây là một mối nguy mà chúng ta không thể không nghĩ đến. Dẫn đầu trong nhóm 4 nước này là Trung Quốc, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trong hơn 2 thập niên qua, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc. Trung quốc sẽ có thay đổi về chính trị. Sự phát triển quá nhanh chóng của nền kinh tế Trung quốc đã khiến cho giới lãnh đạo cộng sản phải có những bước đi thích hợp trong việc cải cách chính trị. Nếu không sẽ dẫn đến những bất ổn mà chính quyền cộng sản Trung quốc không thể giải quyết nổi. Một cuộc tổng khủng hoảng tại Trung quốc hoàn toàn có thể xảy ra. Cho dù thế nào thì Trung quốc cũng hơn hẳn Việt Nam về mọi mặt, trong hiện tại cũng như tương lai.
Nước thứ hai là Bắc Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo “tài tình và sáng suốt” của đảng cộng sản Bắc Triều Tiên mà nhân dân nước này đang thiếu đói triền miên. Với việc vắt kiệt sức dân để sản xuất vũ khí nguyên tử, nhằm đối phó với bên ngoài, Bắc Triều Tiên đang phải đối đầu với sức ép ngày càng lớn của thế giới. Chính quyền Bush sẽ áp dụng những chính sách cứng rắn hơn về vấn đề vũ khí nguyên tử của Bắc Hàn. Cuộc sống của người dân Bắc Hàn hiện tại không thể bằng được cuộc sống của người Dân Việt Nam. Thế nhưng một may mắn rất lớn cho Bắc Triều Tiên là người anh em phía Nam của họ, tức Hàn Quốc, đã không mù quáng đi theo chủ nghĩa cộng sản, họ đã nhanh chóng hòa nhập vào nền văn minh của thế giới. Năm mươi năm qua, đi theo con đường phát triển tư bản đã khiến Hàn Quốc từ một nước nghèo nàn và kiệt quệ sau chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, trở thành một nước công nghiệp phát triển. Bằng cách này hoặc cách khác rồi hai miền Triều Tiên sẽ được thống nhất, khi đó người anh em Hàn Quốc sẽ là cứu tinh cho Bắc Hàn. Họ sẽ đổ sức người, sức của để tái thiết Bắc Hàn. Rồi giống như Tây Đức và Đông Đức, người dân Bắc Triều tiên, sau một thời gian sẽ được hạnh phúc và sung sướng, cho dù không thể bằng người Hàn Quốc được nhưng rất có khả năng là sẽ sung sướng hơn người Việt Nam chúng ta.
Nước thứ ba trong nhóm này là Cuba, với thu nhập trung bình của người dân 8$/tháng, quả thật là khủng khiếp. Thế nhưng sự kiện mới đây, lần đầu tiên hơn 200 nhà dân chủ Cuba đã nhóm họp tại thủ đô La Habana, mà không bị chính quyền dùng vũ lực giải tán đã khiến người dân Cuba có thể hy vọng vào một ngày mai tươi sáng. Chắc có lẽ Cuba sẽ là nước đầu tiên trong 4 nước cộng sản cuối cùng này có tự do và dân chủ. Khi đó với sự ủng hộ mạnh mẽ của một lượng kiều dân rất lớn Cuba đang tị nạn tại Mỹ, với ưu thế trong lĩnh vực du lịch, công nghiệp mía đường và sự phát triển về y tế, Cuba sẽ nhanh chóng phát triển và sẽ hơn hẳn chúng ta.
Cuối cùng còn lại Việt Nam chúng ta! Chúng ta sẽ ra sao ? Và sẽ ở đâu trên trường quốc tế ? Đâu là lối thoát cho chúng ta ? Chúng ta phải làm gì ?
Câu trả lời là: Việt Nam phải có thay đổi về chính trị! Nói thẳng ra là phải có Đảng đối lập, phải có báo chí tự do, phải có bầu cử tự do. Một Đảng đối lập ra đời là nhu cầu bức thiết của nhân dân.Thế nhưng Đảng đối lập ở đâu? Ở Việt Nam đã có các lực lượng đối lập dân chủ, nhưng điều mà chúng ta cần là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các thành phần đó. Sau 30 năm có lẽ bây giờ là giai đọan chín muồi để thành lập Mặt trận Dân chủ đối lập. Phải có nơi hội tụ cho những khát vọng thay đổi. Rất nhiều người có tấm lòng với đất nước nhưng đang “bơ vơ”, không biết dựa vào lực lượng nào để góp sức.
Chúng ta phải khắc phục những nhược điểm như: óc bè phái, nghi kỵ, thiếu tinh thần đoàn kết,v.v… Chúng ta phải dẹp bỏ sang một bên mọi bất đồng, để sát cánh bên nhau, vì một lí tưởng duy nhất trong lúc này là dân chủ hóa đất nước. Có như vậy, khát vọng dân chủ mới có thể sớm thành hiện thực.
Gần 80 năm về trước, nhà yêu nước vĩ đại Phan Châu Trinh đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội Việt nam, Cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa của sự thua kém về văn hóa xã hội của xã hội ta so với phương Tây đã đưa đến mất nước, bị đô hộ ngày càng khốc liệt…, Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và tìm thấy nguyên nhân sâu xa “đã đưa đến mất nước và bị đô hộ ngày càng khốc liệt” không phải ở đâu khác mà là chính ở trong văn hóa, ở “những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội của xã hội ta so với phương Tây” (1)
Về nhược điểm văn hoá của chúng ta, một tác giả phân tích: “… Truyền thống nô lệ tuy, một mặt, do những bắt buộc của nó, đem lại cho chúng ta một số đức tính – chịu đựng, nhẫn nại, siêng năng, học nhanh, thích nghi nhanh với những thay đổi đột ngột – nhưng đồng thời cũng tạo ra trong chúng ta những khuyết tật lớn cần phải mau chóng khắc phục. Không có tự do, chúng ta thiếu sáng tạo. Sự thiếu thốn và nghèo khổ khiến chúng ta trở thành ghen tức và nhỏ mọn. Quen chịu đựng sự ác độc của kẻ thống trị, chúng ta trở thành ác độc với nhau. Quen nhìn đồng loại bị khinh bỉ và chà đạp, chúng ta nhiễm tập quán coi thường lẫn nhau và chỉ biết nể sợ người nước ngoài. Không được quyền quyết định, chúng ta thiếu tinh thần trách nhiệm. Quen nhận những mệnh lệnh mâu thuẫn và tùy tiện của kẻ thống trị, chúng ta không quen phê phán và cũng không cảm thấy nhu cầu phải giải quyết những mâu thuẫn của chính mình, v.v. Nhưng khuyết tật lớn nhất là thiếu văn hóa tổ chức. Những kẻ nô lệ không được quyền kết hợp với nhau vì kết hợp với nhau họ sẽ có sức mạnh để bẻ gẫy ách nô lệ, điều mà kẻ thống trị không bao giờ dung túng, từ đó họ không biết kết hợp và dần dần không cảm thấy nhu cầu kết hợp, thay vào đó mỗi người tìm cách giải quyết những vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân”. (2)
Điều quan trọng nhất là chúng ta phải đoàn kết. Đoàn kết là sức mạnh. Hãy tin tưởng vào nhau, tránh chia rẽ, công kích nhau. Dân chủ là phải biết lắng nghe, trao đổi trên tinh thần hòa nhã, tôn trọng lẫn nhau. Phải biết chấp nhận những ý kiến khác biệt. Đa nguyên là một đặc tính tất yếu của mọi xã hội.
Ở trong nước hiện tại rất khó xuất hiện một vị lãnh tụ dân chủ đứng ra công khai tập hợp quần chúng, bất cứ sự xuất hiện nào cũng có thể bị …vào tù, ngay lập tức. Một cách để dân chủ hóa đất nước nhanh nhất là xuất hiện một Gor-Ba-Chôp Việt Nam, trong thành phần lãnh đạo cao cấp của chế độ cộng sản. Tuy nhiên, hiện tại nhân vật đặc biệt này vẫn chưa thấy xuất hiện. Không phải trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam không có những người tâm huyết với đất nước, thế nhưng ở đây lại vướng mắc một vấn đề rất lớn về văn hóa Việt Nam, đó là những kẻ xấu thì dễ liên kết với nhau hơn là những người tốt. Trong Bộ Chính trị của đảng cộng sản Việt Nam chỉ có 6 người theo đường lối bảo thủ, cực đoan. Nhưng 6 người này lại liên kết với nhau rất chặt chẽ, còn 8 vị kia lại không thể liên kết với nhau được, mặc dù rất có thể là họ cũng tâm huyết với đất nước, và đó là một bi kịch cho đất nước chúng ta.
Một trong những sự kiện rất đáng được quan tâm, đó là trong thời gian qua đã có rất nhiều tiếng nói được cất lên từ những vị cựu lãnh đạo cao cấp của đảng, nổi tiếng nhất là ông cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt và ông cựu Tổng bí thư đảng Lê Khả Phiêu… Hai ông đã nói nhiều điều rất khác với những gì hay nói khi còn đương quyền, và tất nhiên những điều nói ra này, đã ít nhiều phản ánh được tâm trạng cũng như suy nghĩ rất thật, ít nhất là cũng thật với những gì đang xảy ra, chứ không phải nói lấy được như trước đây. Dù thế nào đi nữa thì những hành động này cũng đáng hoan nghênh, những lời nói chân tình và thẳng thắn của các vị này sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đổi mới chính trị ở Việt Nam. Một nhân vật cao cấp của chế độ mà qua “tiếp xúc” trên truyền hình cho thấy rằng ông ta có tấm lòng và một bầu nhiệt huyết với đất nước, với dân tộc…ông giản dị và chân thành, thế nhưng có lẽ ông ta không có được nhiều người trong Bộ chính trị ủng hộ nên nhân dân cũng “mất nhờ”. Đó là ông Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.
Một trong những lực lượng có một tiếng nói và vị trí quan trọng trong đời sống chính trị tại Việt Nam đó Quân Đội. Trong một xã hội dân chủ thì quân đội phi chính trị hóa, họ chỉ thừa hành những mệnh lệnh từ chính phủ, mà chính phủ đó đã được nhân dân bầu lên một cách hợp hiến và hợp pháp. Trong các thể chế độc tài thì quân đội luôn là công cụ để bảo vệ chế độ. Lực lượng này luôn được chế độ ưu ái, họ có thể buôn bán, kinh doanh mà không cần phải nộp thuế. Các Tướng lĩnh cao cấp luôn được hưởng những đặc ân rất lớn từ phía chính quyền. Các chức vụ chủ chốt luôn được đặt vào tay những kẻ thân tín và trung thành với chế độ. Nhưng cái gì cũng có mặt trái của nó. Ân sủng không phải là cái thiêng liêng nhất trên đời này. Tiền bạc cũng vậy, nó chỉ cần khi ta chưa có, khi đã có nhiều tiền rồi thì nó cũng trở thành bình thường.
Với sức mạnh trong tay, những người lãnh đạo quân đội hoàn toàn có thể đứng về phía nhân dân, đòi lại quyền dân chủ cho nhân dân. Danh tiếng để đời, tiếng thơm lưu danh hậu thế, tên tuổi đi vào lịch sử… mới là những cái, mà những người có chí lớn theo đuổi.
Một lực lượng cũng rất quan trọng trong quá trình dân chủ hóa đất nước đó là: Tôn giáo. Dưới các chế độ độc tài, Tôn giáo không bao giờ có được tự do. Các vị lãnh đạo tôn giáo tuy không làm chính trị, nhưng các vị phải có thái độ chính trị, nhất là khi thái độ chính trị đó liên quan đến tự do của tôn giáo mình. Vấn đề tự do tôn giáo là một vấn đề rất nhạy cảm trong các quan hệ quốc tế, nó là một trong những quyền cơ bản của người dân và đã được Liên Hợp Quốc bảo vệ, vì vậy với các cuộc biểu tình ôn hòa của các tôn giáo chính quyền khó lòng dùng vũ lực để giải tán như đối với thường dân. Chính các hành động đàn áp Phật giáo gay gắt đã góp phần vào việc khai tử chế độ độc tài Ngô Đình Diệm trước đây.
Một lực lượng, có thể nói đóng vai trò then chốt trong mọi thay đổi lớn của đất nước đó là thanh niên, sinh viên. Rõ ràng họ đang bị cô lập và bưng bít thông tin. Nhưng với mong muốn khám phá những cái mới và với sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ, họ sẽ biết cách vượt qua các bức tường lửa mà chính quyền dựng lên để đến với những thông tin đa chiều và trung thực của thế giới và người Việt Hải ngoại trên Internet. Với những hiểu biết của mình và sự so sánh với thực tế đang diễn ra trước mắt, những thanh niên ưu tú này sẽ phân biệt và sẽ nhận ra được đâu là thật và đâu là giả? Khi tuổi trẻ có được niềm tin và quyết tâm, họ có thể làm được rất nhiều việc lớn. Họ có nhiều thời gian, cơ hội và nhiệt tình.
Làm cách mạng dân chủ ở Việt Nam thật là khó khăn muôn phần, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường. Những người dám đứng lên đấu tranh cho dân chủ là những người muôn vạn lần được suy tôn là anh hùng của dân tộc. Nhà tù và sự đàn áp khốc liệt luôn chờ họ, thế nhưng, có những con người sinh ra và hành động không chỉ cho riêng mình, mà họ hành động vì cả dân tộc, vì cả tương lai của tất cả 82 triệu người Việt. Chính quyền dù có hung bạo đến đâu, cũng không thể cưỡng lại những trào lưu tất yếu của lịch sử. Tự do – Dân chủ là khát vọng chính đáng của mọi người trên hành tinh này, trong đó có nhân dân Việt Nam.
Câu thơ của Đại thi hào Nguyễn Trãi cách đây 500 năm vẫn còn nguyên giá trị và chân lí:
… Như nước Việt ta, dẫu cường nhược có lúc khác nhau . Song hào kiệt thời nào cũng có ….
Chúng ta có thể hoàn toàn hy vọng vào một lực lượng dân chủ hùng mạnh, để tạo nên những sự thay đổi mạnh mẽ bầu không khí chính trị đang ngày càng bế tắc và ngột ngạt tại Việt Nam.
Chúng ta có quyền hy vọng vào những anh hùng, những hào kiệt của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ 21 này, chính họ sẽ mở sang một trang mới cho lịch sử nước nhà .
Việt Cường
VIỆT NAM VÀ CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DÂN CHỦ
Thiên Hà
07.09.09
Đi từ tự do hoang dã đến với tự do trong văn minh, con người ngày nay đã trở thành công dân của một xã hội dân chủ, có nhà nước và pháp luật. Sau đó, các đảng phái đại diện từng giai tầng hình thành, đưa ra cương lĩnh và đường lối phát triển cộng đồng theo cách của mình; đồng thời cũng khoác lên nhà nước quyền lực chung những chiếc áo mang sắc màu, phong cách, tiện nghi và giá trị sử dụng khác nhau. Cho nên, dù chiếc áo thay đổi, nhà nước vẫn phải là cốt lõi của dân chủ đích thực, một nhà nước mà theo Abrham Lincoln là “của dân, do dân và vì dân”.
Ở Việt Nam (VN), nhà nước ban đầu vào năm 1945 cũng hình thành theo tư tưởng trên. Nhưng đáng tiếc, nhà nước đã từng bước bị chiếm dụng, trở thành công cụ cai trị của đảng CS. Những thành phần, đảng phái đại diện các giai tầng và tư tưởng xã hội khác nhau bị cô lập, tiêu diệt và biến mất. Cuối thập niên 50, vụ án xét lại chống đảng thêm một lần nữa thanh trừng, kết cục chỉ còn đảng CS và nhà nước của nó. Người dân được cho là có quyền làm chủ, nhưng thực ra là làm chủ đối với một cái bóng vô hình; mọi quyền hành, quyền lợi đều do lãnh đạo CS toàn quyền quyết định và phân phối. Khi đổi sang chế độ XHCN trên cả nước, hai chữ “dân chủ” bị gạt ra khỏi quốc hiệu và cả đời sống xã hội. Quá trình tước đoạt dân chủ diễn ra trên mọi mặt: kinh tế, lối sống, tài sản, tự do ngôn luận, tự do chọn lựa thể chế chính trị, xã hội bị bưng bít thông tin và áp đặt mô hình quản lý gây hậu quả nghiêm trọng, nhiều cá nhân bị giam cầm cải tạo…
Còn hiện nay, cảnh báo tai họa Trung Quốc xâm lăng là có tội, tìm kiếm và quảng bá dân chủ là nghe theo các thế lực thù địch xúi giục. Thế là những người tiên phong cho phong trào dân chủ bị bắt giam: Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Lý, Lê Quang Định, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức… và nhiều người khác. Gần đây, một số chủ nhân blog cũng bị bắt không rõ lý do, đến khi được thả ra họ lại càng chẵng rõ lý do! Đó là bloger Bùi Thanh Hiếu – “Người buôn gió”, là Phạm Đoan Trang phóng viên mạng VietNamnet. Cả đường internet vào nhà cụ Tô Hải, một “bloger trẻ 80 tuổi”, cũng bị cắt dịp lễ 2/9. Mỗi lần như thế, xã hội lại bàn tán, mạng điện tử rộ lên những ý kiến phản đối. Và do vậy, CS càng bị dân chủ đẩy lùi, thu hẹp đất đứng, mất thêm công dân mà đúng ra họ sẽ phải trung thành với đảng. Không những không có bổn phận lắng nghe, đảng còn lộ rõ là thế lực cản đường và tìm cách bóp chết dân chủ thật sự. Nền dân chủ đã được hiểu không đầy đủ, lại càng bị loại ra khỏi đời sống xã hội. Do vậy, việc tiếp cận và hình thành dân chủ ở VN trở nên chậm chạp, khó khăn, để lại nhiều hệ lụy.
Đảng đề ra nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong đó, dân chủ không phải là nền tảng, mà chỉ là điểm đỡ di động giữa hai đối trọng: một bên tìm kiếm tự do dân chủ, và một bên giới hạn sự tìm kiếm ấy. Đẩy về đầu này là tập trung xiết chặt, khi căng thẳng lại trả về đầu kia một ít để cho thấy có dân chủ. Từ chỗ thay đổi các tiêu chí dân chủ, đảng toàn quyền bảo vệ quan điểm và việc làm của mình, kết tội các chính kiến khác. Vì dân chủ bị bao vây bằng “tập trung” nên người dân không được phép thành lập các tổ chức dân sự quy mô, phải chịu sự bao trùm của hệ thống đảng – công đoàn – đoàn thể đến tận ấp xóm, cơ quan. Quyền tham gia hoặc không tham gia hoạt động chính trị đã rơi vào sự bắt buộc duy nhất, bởi không còn bất cứ môi trường khác được phép. Các hội đoàn tự lập chỉ cố kết theo nhóm nhỏ như sở thích, nghề nghiệp, đồng hương…lại không được chính thức đề nghị các vấn đề liên quan đến đảng, nhà nước, tư tưởng xã hội. Vì không có hình thức dân chủ đại diện, những người đấu tranh nhỏ lẻ dễ lạc lõng trong chiều kích rộng lớn của vô vàn các quy định giám sát do nhà nước tạo ra. Tuy còn nhỏ bé, nhưng đây là lực lượng dân chủ thật sự đang được hình thành, rất cần sự giúp đỡ.
Các nguyên tắc khác của tự do dân chủ cũng chỉ là cái vỏ; cốt lõi của nó đã bị thay đổi bằng tư tưởng và ý chí riêng của nhóm người tự xưng là đại diện nhân dân. Đó là “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” – thực ra, người dân chỉ làm chủ ở những trường hợp, lĩnh vực, hoàn cảnh và điều kiện thiếu xác định cụ thể, trở thành vô chủ. Trong khi đó, đảng không bị bất cứ một giới hạn nào, tự tung tự tác. Đó còn là nguyên tắc đa số và thiểu số, mà thường thiểu số không được hưởng quyền trả lời và bảo lưu ý kiến, mà bị bao vây, cô lập và trù dập. Đó còn là các nguyên tắc của dân chủ thật sự bị phớt lờ như: nhân dân thành lập và giám sát nhà nước các cấp, những quyền cơ bản của con người, bầu cử tự do và công bằng, quyền bình đẳng trước pháp luật, được đa nguyên về chính trị, được mở rộng hợp tác và thỏa thuận… Người dân không được tham gia nhiều quyết định về đất nước: từ các vấn đề lớn như thực hiện Di chúc Hồ Chí Minh, chọn lựa thể chế phát triển đất nước, đường lối ngoại giao, phương tiện thông tin đại chúng; đến những vấn đề cụ thể như đặt khu công nghiệp Dung Quất tại Quảng Ngãi, mở rộng địa giới Hà Nội, khai thác bauxite Tây Nguyên…
Các đảng viên cơ sở còn tuyên truyền “dân chủ phương Tây” là tự do vô chính phủ, vô pháp luật, đánh đồng với tệ nạn xã hội. Dân chủ ấy chỉ phù hợp với xã hội phương Tây, còn VN có cách làm riêng. Nhưng việc phân biệt “dân chủ phương Tây” chính là từ ngữ của CS, là cách để người dân hiểu sai, quay lưng lại với dân chủ, đánh mất cơ hội tìm hiểu để nhận thấy dân chủ là con đường cho cả nhân loại tiến lên. Nếu “dân chủ phương Tây” không thể áp dụng ở VN, vậy ngay trong tuyên ngôn độc lập VN, ông Hồ Chí Minh còn viện dẫn tuyên ngôn các nước Mỹ, Pháp làm gì? Hiện nay, nhà nước VN cũng vận dụng tư tưởng “nhà nước của dân, do dân, vì dân” để làm gì? Chúng ta cũng biết VN có vị thế nằm ở giao điểm nhiều luồng tư tưởng khác nhau. Dài nhất là phong kiến phương Bắc, đến tư tưởng tư sản, rồi vô sản. Nhưng dân chủ XHCN đã mang đến cho người dân những gì? Cứ nhìn vào nước Nga, trước khi lập ra hệ thống dân chủ XHCN, nhà văn Lep Tonstoi của dân tộc Nga từng cảnh báo: “Phá bỏ quyền tư hữu là đưa con người trở lại với thời kỳ dã man”. Thực tế đã chứng minh cảnh báo ấy là chính xác.
Đất nước ta tụt hậu tụt hậu mấy chục năm nay, cũng vì dân chủ XHCN đã bịt miệng người dân; nay không còn lý do gì để không thể thay vào đó nền dân chủ thật sự. VN cần mở con đường riêng ngắn và nhanh nhất nhằm hội nhập ngay vào đại lộ dân chủ cả thế giới đang đi. Chỉ có như thế, đất nước mới thoát ra khỏi ngõ cụt đầy những bất bình và phản đối hiện nay. Trước hết, đảng và nhà nước VN cần phải:
- Nhìn nhận lại những người có chính kiến đối lập đang bị giam giữ bỏ tù vô lý, những người khác đang bị theo dõi đàn áp, cả những người Việt ở nước ngoài mà đảng gọi là “lưu vong”…Tất cả những người ấy phải được tham gia một diễn đàn công khai, để họ trình bày suy nghĩ và việc làm của mình, nghe họ có nguyện vọng như thế nào. Bởi vì VN còn hơn 80 triệu người dân, đâu phải tất cả đều không biết tư duy trước vấn đề. Một đảng và nhà nước cai trị xã hội mà giam người không công bố tội danh, không cho tiếp xúc với bất cứ ai, xét xử kín, thậm chí không cho quyền bào chữa hoặc mời luật sư cũng chỉ là hình thức…, thì làm sao xã hội có dân chủ? Không làm được điều đó, chứng tỏ đảng và nhà nước đã sai lầm nên sợ sợ dân chủ đưa đến sự thật.
- Thay đổi ngay các điều luật hạn chế tự do dân chủ. Cho dù người phản đối là một cá nhân hay một nhóm nhỏ, đảng cũng không được quyền kích động tinh thần dân tộc, lôi kéo tất cả số đông còn lại nhằm làm áp lực đè bẹp số ít, mà không cần lắng nghe hay thấu hiểu. Tinh thần chung là luật pháp tối thượng, đảng và các thành viên chính phủ cũng chỉ là một bộ phận nhỏ trong nhân dân, xét về quan hệ pháp luật. Luật pháp phải là ý chí, nguyện vọng trên tinh thần tự giác cộng đồng từ người dân; chứ không phải là sản phẩm do nhà nước tạo ra theo ý chí của đảng, rồi biến thành công cụ đàn áp. Càng không được tùy tiện kéo dài thời gian chỉnh sửa và áp dụng luật. Những quyền con người mà VN đã cam kết thực hiện tại LHQ, phải được cụ thể hóa vào đời sống, thay vì xưa nay giấu kín, kéo dài vi phạm. Đó là các quyền: tự do thông tin và ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do hội họp và lập hội, được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật, được tố tụng đúng đắn và xét xử công bằng…
- Đảng phải thật sự tạo điều kiện cho phản biện xã hội. Để phản biện có chỗ dựa, phải mở rộng tự do thông tin. Hiện nay, số lượng báo chí và các kênh thông tin lại tỉ lệ nghịch tuyệt đối với sự đa dạng các tiếng nói xã hội: gần 1.000 phương tiện truyền thông các cấp – duy nhất 01 tiếng nói! Chỉ có tự do lên tiếng theo suy nghĩ của mình, và qua điều chỉnh của công luận, công dân và các nhóm xã hội mới có thể đi đến tự quản. VN cần có truyền thông đại chúng độc lập khách quan, tạo điều kiện cho chính phủ hoạt động nhưng cũng kiểm soát chính phủ, tạo cơ hội để bất kỳ người dân nào cũng có thể bày tỏ vấn đề; thay vì chỉ có đảng phán quyết toàn xã hội. Còn có hiện tượng: các trang web trong và ngoài nước đăng tất cả những bài viết có chính kiến khác nhau, ở phần comemt để lại ý kiến người đọc, rất nhiều thành phần xã hội tham gia, kể cả đảng viên vào đó phản đối nhằm bảo vệ CS. Nhưng cũng ở phần này thuộc các trang web “báo chí lề phải” của đảng thì lại sạch trơn. Phải chăng hiện tượng ấy cho thấy người đọc đồng tình với đảng? Hay họ chẵng thèm quan tâm, vì tham gia tranh luận chỉ có vào tù? Vậy ai dân chủ hơn ai, ai là lực lượng chính thức mở đường cho dân chủ thật sự?
- Người dân cần được trả lại quyền tự do hội họp, thành lập hội nhóm, kể cả các hội nhóm được liên hệ trao đổi với các tổ chức phi chính phủ. Ở VN, không có tổ chức phi chính phủ, nhưng đảng lại đồng ý tiếp nhận các tổ chức ấy bên ngoài vào. Vì thế, nhà nước phải làm 02 việc trái ngược nhau: ngoại giao tranh thủ giúp đỡ – đề phòng “diễn biến hòa bình”. Từ đó, không ít người có cái nhìn sai lệch về các tổ chức này, hình thành ý thức bài bác dân chủ. Đó là chưa kể nhiều khi lợi ích và giá trị các tổ chức này mang đến nhưng không đến người dân, hoặc đến chẵng bao nhiêu. Về hội họp ôn hòa, có lý gì để đảng theo dõi và cấm? Càng cấm, lòng dân càng như nước vỡ bờ. Thay vì đặt tên điểm mặt các đối tượng mà đảng cho là phản động, tự diễn biến, đi chệch quỹ đạo, thế lực thù địch… , đảng cần hiểu đây là cơ hội ngàn vàng để lắng nghe bất bình xã hội. Vì sao đảng lại dập tắt những cơ hội đó? Vì sao chính phủ của đảng không lắng nghe nhân dân là những người chủ, mà nhân dân trở thành đối tượng đứng ngoài các cơ quan quyền lực để nghe chính phủ? Một đảng và chính phủ như thế là một thực thể lập dị, xa lạ và tách rời dân chủ xã hội.
- Cần thật sự dân chủ trong bầu cử, tìm ra đại diện của nhân dân các cấp và các lĩnh vực; thay vì các chức vụ chủ chốt đã được sắp xếp, lại có người “lót đường”. Theo lối bầu cử xưa nay, chỉ có 02 khả năng không đúng cơ cấu: hoặc nội bộ đấu đá làm cho đại diện đã được cơ cấu thất cử, hoặc công dân không bầu người được cơ cấu mà chọn người “lót đường”, kể cả gạch tất cả. Người dân đi bỏ phiếu với tâm trạng thờ ơ, thực hiện một nghĩa vụ không mong đợi, không hy vọng, đôi khi phá nát dân chủ. Những lá phiếu này đã chết ngay từ khi phát ra, chưa đợi đến lựa chọn. Chính vì vậy mà sau khi bộ máy đi vào làm việc, trong nhà nước nếu có các nhóm gây áp lực (loobby) thì không phải đại diện cho đường lối nào liên quan đến quyền lợi xã hội, mà là tranh giành quyền lực và quyền lợi nhóm lãnh đạo. Trong nhân dân, những cá nhân và nhóm nhỏ vì lợi ích kinh tế chính mình mà chà đạp lên lợi ích các nhóm khác, bất chấp lợi ích cộng đồng. Và như thế, nền tảng dân chủ thật sự đã bị lật tung ngổn ngang: nhà nước của đảng tha hồ tự quyết và đục khoét, dân tìm đến nhà nước như đến cửa quan chứ không phải vào ngôi nhà của mình, sau cùng là dân chúng bất chấp pháp luật.
- Đảng CS phải trả lời lý do được quyền độc trị. Là pháp luật quy định, là nguyện vọng của dân, là theo xu hướng tiến bộ nhân loại, hay muốn toàn quyền? Luật thì không quy định rõ ràng, nhưng nếu có quy định thì cũng phải trưng cầu ý dân,càng không phải do đảng nghĩ ra. Theo xu hướng tiến bộ thì chẵng thuyết phục, thiên đường CNCS khác nào bánh vẽ. Chỉ còn lý do: muốn toàn quyền. Vì thế, đảng không cần xây dựng chính sách tranh cử vì dân sinh trước khi đưa người ra nắm quyền, mà chỉ có chương trình mang tính chỉ đạo chủ quan duy ý chí để chính phủ thực hiện. Không thể kéo dài chuyện lấy tiền của nhân dân và tài nguyên quốc gia tiêu xài, phá hỏng, rồi sau mỗi nhiệm kỳ, lại nghe kiểm điểm nhìn nhận sai lầm. Người dân đã bị đặt vào chuyện đã rồi với nhiều hậu quả rành rành, chưa kể những mờ ám dân không biết. Nếu không hoàn thành được trọng trách, đảng buộc phải chia sẻ quyền lực, chấp nhận mở rộng nhiều đối tác tìm kiếm lợi ích cho đất nước. Vì sao ở các nước thật sự dân chủ, đảng CS vẫn được phép tồn tại (nhưng hầu hết không có uy tín), trong khi ở VN lại cấm những đảng khác? Rõ ràng, tuy đã đánh đổ quân chủ, nhưng đảng vẫn duy trì ý thức hệ quân chủ kiểu mới: đã lên vua là vua cả đời mặc khen chê, con vua lại lên thay vua, chỉ vua là duy nhất phán quyết và con dân buộc phải nghe.
- Cùng với những việc làm trên, các nhóm xã hội khác nhau phải được quyền thành lập ban đại diện cho mình. Có như thế, mọi người mới có chỗ dựa, được bảo vệ khi phản biện, góp trí tuệ tạo động lực phát triển. Chỉ có khi người dân tự quyết định hành vi, lời nói và việc làm của mình trên cơ sở đã cam kết cùng cộng đồng, thì tự khắc sẽ hạn chế lên án, bất đồng, chống đối. Ngày nay, người dân đã tỏ ra quá chán ngán tiếng nói của đảng, trong khi đảng vẫn ngụy biện “đại diện cho hơn 80 tiệu người dân”! Còn có một thực tế khác: những người từng tham gia trong bộ máy hoạt động đảng và chính quyền, nay công khai chỉ ra những sai sót của đảng, thì công an không dám trực tiếp đàn áp; nhưng với dân thường thì đảng thẳng tay bắt bớ, khủng bố? Chuyện ở Tam Tòa mà ứng xử bằng tinh thần công khai và dân chủ thật sự, đã không đổ máu. Rõ ràng, dân chủ XHCN chứa quá nhiều tiêu chí lệch chuẩn, cư xử thiếu nhất quán, không công bằng ở những thời điểm và đối tượng khác nhau. Nếu những nhóm xã hội khác nhau có đại diện của mình, thực trạng lệch chuẩn sẽ được cải tiến.
Tóm lại, một khi công bằng được giải quyết, dân chủ sẽ bền vững. Nhưng bất công kéo dài, tất yếu sẽ xuất hiện khát vọng đòi hỏi dân chủ. Từ khi thực hiện đổi mới, thông tin đại chúng toàn cầu lan rộng, người dân càng có cơ hội thấy rõ các giá trị dân chủ mà họ đã bị tước đoạt nhiều chục năm nay. Để bảo vệ tự do cho mình, mỗi người cần dũng cảm tiếp sức cùng những người đã đi tiên phong hình thành nền dân chủ toàn dân, góp phần tạo ra tự do, tự quản, tự quyết cho mỗi người, đem lại thịnh vượng và tự hào cho đất nước.
Tiến trình bị mất đất
Lữ Giang
Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu, nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.”
Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng để chơi lại nhóm Lê Đức Anh.
Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc”. Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thưộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong toả Biển Đông.
Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.
Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.
BÀI HỌC LỊCH SỬ?
Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”, Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ỏ Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào để không mất đất nữa mà thôi.
Ông nói rõ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”
Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?
Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.
Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:
(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!
(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cũng nhau ngồi “khóc Nam Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!
Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?
NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?
Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:
“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông…”
Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:
“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”
Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé”.
ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?
Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.
Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?
Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên.”
Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:
“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước.”
(Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)
Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.
Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.
Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.
MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.
Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đánh dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều giành quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụ năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao – Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:
1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.
Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật. Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.
4.- Mất 13 châu và 3 động.
Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.
Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.
MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN
Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.
Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.
Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:
(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)…
Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.
Tài liệu cho biết:
“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”
Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét…” (tr.10)
3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.
“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.
“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc… (tr.11 và 12).
Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT
Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:
“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”
Lữ Giang
Một vài nhận xét về những cuộc biểu tình chống cộng sản tại hải ngoại
Tác Giả : Trần Thanh
Trong suốt mấy chục năm qua, cộng đồng người Việt tại hải ngoại đã tổ chức hàng ngàn
những cuộc biểu tình chống cộng, tố cáo tội ác của cộng sản. Những nổ lực này của cộng đồng đã làm cho bọn giặc rất e sợ, làm cho thế giới và chính quyền sở tại thấy được bộ mặt ghê tởm của bọn chúng. Xét về phương diện đấu tranh, chúng ta đã thành công đáng kể, nếu không, chắc có lẽ bây giờ ở hải ngoại đã tràn ngập cờ máu của cộng sản và cờ vàng của người quốc gia đã biến mất. Ðây là một điểm son, chúng ta có thể tự hào và thề sẽ tiếp tục giữ vững ngọn lửa đấu tranh của người quốc gia, quyết tâm đấu tranh cho đến khi nào chế độ cộng sản phải bị tiêu diệt.
Nếu lấy mốc thời gian từ năm 1975 đến 1990, chúng ta thấy rằng những hoạt động chống cộng của chúng ta tại hải ngoại khá mạnh mẽ. Những tên cộng sản nằm vùng và bọn chó săn trong giai đoạn này chưa dám hoạt động mạnh. Nhưng kể từ khi có đảng cướp Việt Tân ra đời và sự xuất hiện của nhóm “tứ đại ác” Tín-Hiên-Hương-Cần, cùng sự bãi bỏ lệnh cấm vận của chính quyền Mỹ, Việt kiều ào ạt về thăm quê hương thì chúng ta thấy tình hình đã biến đổi khác: bọn việt gian cộng sản ngày càng lộng hành, công khai hoạt động rất mạnh tại hải ngoại, và cho đến thời điểm bây giờ, năm 2009, bọn chúng đã kiểm soát khoảng 90% truyền thông tại hải ngoại và kiểm soát hầu hết các tổ chức, hội đoàn chống cộng tại hải ngoại.
Do đó mà những cuộc biểu tình “chống cộng” tại hải ngoại hiện nay hầu như chỉ còn mang hình thức bề ngoài nếu không muốn nói là có lợi cho cộng sản. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến lãnh vực biểu tình. Trong những bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến sự xâm nhập của cộng sản vào các tổ chức, hội đoàn tại hải ngoại mà tiếng lóng chính trị gọi là “Kế hoạch con chim Tu Hú”.
Những cuộc biểu tình thường do các đoàn thể “chống cộng” tổ chức. Khi những tên việt gian như Mạnh, Triết, Dũng vác bộ mặt chó ra hải ngoại để đi ăn mày thì những đoàn thể ở hải ngoại tổ chức biểu tình để “phản đối”. Chỉ cần đọc lướt qua những bản thông báo kêu gọi đồng bào đi biểu tình, đăng trên những tờ điện báo trên internet là chúng ta có thể biết được những đoàn thể đó có bị bọn cộng sản hoặc Việt Tân kiểm soát hay không!
Trước hết, chúng ta hãy loại bỏ những đoàn thể “quốc gia” do bọn việt gian cộng sản núp bên trong điều khiển. Bọn này là cộng sản trá hình cho nên chúng cố ý viết những bản thông báo hửi đít cho bọn giặc thì cũng không có gì là lạ. Người Mỹ thường gọi là “ass-kissing”!
Chúng ta hãy xem lại nội dung các bản thông báo của những đoàn thể “quốc gia” đã viết. Ða số đều viết với nội dung như sau:
1. Tổ chức biểu tình để PHẢN ÐỐI/ để CHỐNG/ để DÀN CHÀO(!) cuộc viếng thăm của Mạnh, Triết, Dũng ..v..v..
2. Tổ chức biểu tình để phản đối Nông Ðức Mạnh, Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam đến viếng thăm nước Úc. (Toàn bộ chức vụ của tên giặc này đều được trịnh trọng viết hoa!)
NHẬN XÉT và ÐỀ NGHỊ:
1. Không nên viết “biểu tình để PHẢN ÐỐI hay CHỐNG”
Ðặc biệt hai chữ “phản đối” mang ý nghĩa những người thuộc cùng một chiến tuyến, một tổ chức, cùng một tập thể, biểu hiện sự không đồng tình với nhau. Ví dụ:
- Trong một buổi họp của đảng Cộng Hòa, các thành viên phản đối ý kiến của người chủ tọa. (cùng một tập thể)
- Công nhân trong nhà máy phản đối ý kiến của giám đốc (cùng một tập thể)
- Con cái trong gia đình phản đối ý kiến của cha mẹ (cùng một tập thể)
Chúng ta và bọn việt gian cộng sản là KẺ THÙ, một sống hai chết, KHÔNG CÙNG MỘT TẬP THỂ, không có chuyện cùng ngồi họp bàn vuông, bàn méo hay bàn tròn, thảo luận ý kiến để đi đến đồng tình hay phản đối; do đó, không thể dùng chữ “phản đối” mà phải dùng chữ “ÐẢ ÐẢO”.
Theo Việt Nam Tự Ðiển của Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ thì “đả đảo” có nghĩa là “đánh đổ, hạ xuống, kéo xuống”.
Tổ chức biểu tình để ÐẢ ÐẢO tên việt gian Nông Ðức Mạnh đến thăm nước Úc. Tên Mạnh sẽ phải bị người dân đem treo cổ giống như tên bạo chúa Sadam Hussein. Chúng ta phải có niềm tin như vậy, đó mới là chống cộng.
Nếu chúng ta dùng chữ “phản đối” có nghĩa là chúng ta tự coi mình vẫn là công dân của cái gọi là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” hoặc tệ hơn nữa là khúc ruột ngàn dặm của bọn giặc!
2. Một khi chúng ta đã xác định lập trường rõ ràng, coi bọn giặc là KẺ THÙ rồi thì những chức vụ của bọn chúng chỉ là đồ bỏ. Những tên đầu gấu làm tổng bí thơ/chủ tịch/thủ tướng của cái băng đảng ăn cướp của bọn chúng, không có liên quan gì đến chúng ta. Người dân chưa bao giờ bầu những tên cướp đó mà từ năm 1945 đến nay, bọn chúng đã tự biên tự diễn, thay nhau lên làm “lãnh đạo”.
Những thằng như Mạnh, Triết, Dũng, An thì đồng bào đã thừa biết bọn chúng là ai rồi, không cần phải ghi nguyên những chức vụ dài dòng của bọn chúng và trịnh trọng viết hoa như vậy. Muốn thờ, muốn quỳ lạy bọn giặc hay sao mà phải làm như vậy?
Muốn cho thật chính xác, nêu đúng bản chất của kẻ thù thì chúng ta phải viết trong bản thông báo:
- Tổ chức biểu tình để đả đảo TÊN VIỆT GIAN Nông Ðức Mạnh đến thăm nước Úc. Hai chữ “việt gian” chính là “chức vụ” của hắn. Và chỉ cần dùng đúng hai chữ này thôi là đủ nói lên rất nhiều và nói thật đầy đủ bản chất của bọn giặc. Dùng không đúng chữ (không nêu được chính danh) tức là đánh không trúng mục tiêu, bắn súng lên trời hoặc bắn xuống biển, bị tiêu hao tiềm lực mà kẻ thù vẫn còn nguyên. Không nêu được chính danh thì cho dù có nói rất dài dòng, cũng chỉ là nói ngoài đề; trong khi đó, nếu biết dùng “chính danh” thì chỉ cần vài chữ là đủ, cũng tựa như chỉ cần bắn một phát đạn mà bắn đúng vào trái tim con quái vật.
Danh không chánh, ngôn không thuận thì cũng không có chính nghĩa.
Kẻ thù của cả dân tộc mà vẫn coi nó là “bạn”, là “huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt” thì đấu tranh ở chỗ nào? Thằng Hồ là tên đại việt gian, là tội đồ của dân tộc thì vẫn coi nó là người có “công” với đất nước, vẫn trịnh trọng gọi nó là “ông Hồ” thì đấu tranh chống cộng ở chỗ nào? Không chính danh tức là chúng ta đã tự phủ nhận chính nghĩa của mình rồi! Tự mình lấy súng để bắn vào đầu mình chớ thằng giặc nó chưa cần bắn!
Chỉ có những kẻ đi đổ bô, làm tay sai, chó săn, đi liếm đít bọn giặc mới trịnh trọng ghi nguyên những chức vụ của bọn chúng và còn viết hoa từng chữ, đăng trên những bản Thông Báo kêu gọi đồng bào đi biểu tình!
ÐỀ NGHỊ VỀ BIỂU NGỮ VÀ KHẨU HIỆU:
Nên viết những biểu ngữ như sau, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt:
- Tên việt gian Nông Ðức Mạnh/ Nguyễn Minh Triết/ Nguyễn Tấn Dũng hãy cút về nước!
- Tên ăn mày Nông Ðức Mạnh/ Nguyễn Minh Triết/ Nguyễn Tấn Dũng/Phạm Gia Khiêm hãy cút về nước!
- Ðả đảo việt gian Nông Ðức Mạnh/ Nguyễn Minh Triết/ Nguyễn Tấn Dũng!
- Ðảng việt gian* Cộng Sản hãy cút về Tàu, nếu không, sẽ bị toàn dân lật đổ!
- Bọn việt gian Cộng Sản là tội đồ của dân tộc!
- Nông Ðức Mạnh/ Nguyễn Minh Triết/ Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị toàn dân xét xử và treo cổ!
- Bọn việt gian Cộng Sản phải trả lại toàn bộ đất nước cho toàn dân tộc!
- Chúng ta phải làm cách mạng để lật đổ chế độ Cộng Sản!
- Chế độ việt gian Cộng Sản phải bị hủy diệt
NHẬN ÐỊNH VỀ BỌN GIẶC:
Trong cuộc chiến đấu chống cộng sản từ sau 1975 đến nay, chúng tôi nhận thấy bọn giặc hết sức quỷ quyệt, đó là lý do vì sao cho đến nay chế độ của bọn chúng vẫn còn tồn tại. Sự quỷ quyệt của bọn giặc ở chỗ:
- Bọn chúng biết linh hoạt THAY ÐỔI CHIẾN THUẬT trong từng giai đoạn. Giả sử, sau khi lên kế hoạch tấn công chúng ta, nếu thấy không hiệu quả thì vài tháng sau đó, bọn chúng thay đổi liền cách đánh khác. Xâm nhập vào cộng đồng chúng ta bằng cách này không được thì bọn chúng tìm cách khác hữu hiệu hơn để xâm nhập. Chúng ta chống và diệt cờ máu thì bọn chúng biết núp dưới những lá cờ vàng của chúng ta để tiếp tục PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG và tấn công chúng ta. Nếu quý vị nào không tin thì cứ tìm hiểu kỹ, sẽ thấy đa số những đoàn thể, tổ chức “quốc gia” mới được thành lập, mang danh nghĩa “chống cộng” nhưng thật ra đó là những ổ đặc công đỏ lòm, đầy những rắn độc của cộng sản!
Ví dụ như những tờ điện báo: Người Việt, Ðàn Chim Việt, Ánh Dương, Take 2 Tango, VietNam Review ..v..v.. Ðây là những ổ rắn độc của việt gian cộng sản, rất nguy hiểm vì tên nào cũng vỗ ngực xưng tên là “chống cộng” nhưng thật ra toàn là đăng những bài viết có lợi cho cộng sản!
NHẬN ÐỊNH VỀ TA:
Bọn giặc hết sức quỷ quyệt còn chúng ta thì sao?
Chúng ta thường chế nhạo bọn giặc là ngu dốt, là lớp ba trường làng nhưng thật ra về phương diện đấu tranh chính trị, bọn chúng là bậc thầy, và trong lãnh vực chính trị chúng ta là NHỮNG KẺ HẾT SỨC NGU DỐT NHƯNG nhiều TỰ ÁI, BẢO THỦ, KHÔNG CHỊU THAY ÐỔI CHIẾN THUẬT ÐẤU TRANH!
Suốt 34 năm qua, khi đi biểu tình, chúng ta thường đưa ra những câu khẩu hiệu như:
a/ Freedom for Viet Nam, Democracy for Viet Nam
b/ Ðòi đa nguyên đa đảng
c/ Ðòi tự do tôn giáo
d/ Ðòi dân quyền và nhân quyền
e/ Ðòi thả tù chính trị
Và hiện nay, khi đi biểu tình, chúng ta cũng vẫn đưa ra những câu khẩu hiệu cũ rích cách đây mấy chục năm, trong khi đó tình hình thế giới đã thay đổi quá nhiều, tình hình trong nước và tương quan lực lượng giữa ta và địch cũng đã thay đổi quá nhiều, theo chiều hướng có lợi cho chúng ta! Ví dụ như lực lượng của toàn dân trong nước hiện nay đã mạnh hơn hẳn nhờ internet, điện thoại cầm tay và nhiều yếu tố khác. Ðiển hình, chúng ta đã thấy những cuộc biểu dương lực lượng, biểu tình đông đến vài trăm ngàn người của các giáo dân tại Tam Tòa, những vụ đốt xe công an, đánh chết công an ..v..v.. LỰC của chúng ta đã mạnh lên hẳn thì phải nghĩ đến chuyện LẬT ÐỔ CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN, chớ không phải là những tiếng kêu gào, van xin tuyệt vọng, xin được bọn cướp trả lại cho mấy cái chổi cùn, rế rách, cối đá, chuồng gà!!!
Trong nhiều bài viết trước đây, chúng tôi đã phân tích, những tấm biểu ngữ đòi “đa nguyên, đa đảng, đòi nhân quyền” chính là những phát súng bắn lên trời, không bắn vào tim con quái vật. Và nếu nhìn ở một góc độ nào đó thì những tấm biểu ngữ đó có lợi cho bọn giặc. Những người ngoại quốc, khi nhìn vào những tấm biểu ngữ như thế, họ sẽ hiểu là chính quyền của bọn việt gian cộng sản là chính quyền hợp pháp, do dân bầu lên, cũng giống như chính quyền Mỹ, Canada, Úc hoặc Pháp. Và chính quyền đương nhiệm đó, trong quá trình quản trị đất nước, có những sơ sót, nên người dân biểu tình đòi hỏi và chống đối! Ngay trong thời đại ngày hôm nay, tại nước Mỹ, Anh, Pháp vẫn có những tổ chức biểu tình chống đối chính phủ, đòi hỏi về nhân quyền, cẩu quyền, đòi được tự do phá thai ..v..v..
Chúng ta hãy nhìn lại xem: những đòi hỏi nói trên (a,b,c,d,e,), trong suốt quá trình 34 năm đi biểu tình, chưa bao giờ bọn giặc nhân nhượng bất cứ một điều gì, dù là nhỏ nhất. Vậy thì, thay vì phí công sức đi đòi, tại sao chúng ta không tập trung vào một mũi nhọn, dốc toàn lực ra để lật đổ chế độ cộng sản? Hơn nữa, đi đòi những thứ như đa nguyên, đa đảng, nhân quyền, dân quyền, cũng chẳng khác gì đi đòi lại cái số nhà, đòi lại những thứ như chổi cùn, rế rách, đòi lại cái cối đá, cái chuồng gà sau nhà, trong căn nhà đã bị cướp!
Giả sử các bạn có một căn nhà xinh đẹp mà bị bọn cướp lấy mất, các bạn đi đòi lại thì các bạn sẽ mong chờ điều gì? Chắc chắn ai cũng nói rằng, tôi chỉ mong bọn cướp trả lại cho tôi TOÀN BỘ CĂN NHÀ. Ðó là CÔNG LÝ. Ðây là căn nhà của tôi, do tổ tiên của tôi gây dựng, lưu truyền lại từ bao nhiêu đời, và chính bản thân tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức và tiền của để tu bổ nên tôi có quyền đòi lại và nhất quyết đòi lại. Ðây là lẽ công bằng.
Nhưng nếu có một kẻ nào đó lý luận rằng, bạn không được quyền đòi lại căn nhà của bạn mà chỉ được “quyền” xin lại cái chuồng heo sau nhà để làm nơi cư trú, bởi vì, bọn cướp LÀ NHỮNG NGƯỜI “CÓ CÔNG”, các bạn sẽ nghĩ sao? Rõ ràng đây là lý sự côn đồ của những tên ăn cướp mà tên chó đẻ Bùi Tín và toàn bộ băng đảng, tay sai của hắn, suốt mấy chục năm nay tại hải ngoại đã dùng cái lý luận ngang ngược này để trấn áp những người quốc gia đấu tranh chống cộng!
NÊN DÙNG NHÓM CHỮ “VIỆT GIAN CỘNG SẢN”:
Như phần trên đã trình bày: Phải có chính danh mới có chính nghĩa. Trước hết phải có suy nghĩ đúng mới dẫn đến hành động đúng. Bọn việt gian cộng sản LÀ GIẶC thì phải tiêu diệt bọn chúng. Ðây là lý luận đúng. Còn nếu ai đó vẫn coi bọn chúng là “bạn” thì sẽ dẫn đến sự đấu tranh nửa vời, hòa hợp hòa giải, chỉ mong đòi lại được cái số nhà hoặc cái chuồng gà là mừng rồi!
Cách đây trên 60 năm, lúc thằng Hồ còn lang bạt bên Tàu, các vị tiền bối cách mạng của người quốc gia đã nhìn thấy rất rõ bản chất của hắn và cái gọi là “đảng Cộng Sản Ðông Dương”. Những vị tiền bối đã thấy ngay bản chất “VIỆT GIAN” của bọn cộng sản, đúng như thi sĩ Vô Danh đã từng viết “nhìn thấu suốt tim đen bầy quỷ đỏ”. Sau biến cố 1975, một số vị cao minh cũng đã đề cập đến BẢN CHẤT VIỆT GIAN của bọn cộng sản và đề nghị phải dùng hai chữ “việt gian” để gọi bọn chúng. Những chữ như “Cộng Sản Việt Nam” hoặc “việt cộng” chỉ là những phát súng bắn lên trời, không bắn vào tim con quái vật.
Tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong với những cây viết như Bách Linh, Thế Huy đã có những nhận định thời cuộc, với tầm nhìn xa cả chục năm và chính xác. Nhà báo Việt Thường cũng đã đề cập rất nhiều lần về bản chất VIỆT GIAN của bọn cộng sản. Và cách đây mấy năm, ký giả Tường Thắng đã tổ chức được vài chục buổi hội luận trên internet, tìm hiểu và phân tích TẬN GỐC bản chất VIỆT GIAN của tên Hồ tặc cùng toàn bộ băng đảng cướp của hắn. Công trình nghiên cứu này, dựa trên những tài liệu của nước ngoài và trên chính những “văn kiện đảng” của bọn giặc, đã dẫn đến kết luận là cái tên gọi chính xác nhất, đúng nhất để gọi bọn giặc, kẻ thù của chúng ta là “VIỆT GIAN CỘNG SẢN”.
Giả sử nghề nghiệp của bạn là bác sĩ mà có người nào đó gọi bạn là “y tá” hay “y công” thì chắc chắn bạn sẽ phản đối:
- Tôi là bác sĩ. Anh phải gọi đúng chức danh của tôi. Giữa “bác sĩ” và “y tá” khác xa nhau một trời một vực!
Do đó, muốn chiến thắng kẻ thù, bước đầu tiên chúng ta phải làm là GỌI ÐÚNG TÊN, NÊU ÐÚNG TỘI CỦA KẺ THÙ. Bước đầu tiên mà làm sai thì những bước tiếp theo sẽ sai luôn, cũng giống như muốn giải được một bài toán thì trước tiên phải thành lập phương trình đúng.
Nhưng thật đáng tiếc, những tiếng nói của những vị tiền bối, những công trình tâm huyết của những vị cao minh chỉ được một ít những tổ chức đang chống cộng hưởng ứng. Ða số vẫn quen dùng những nhóm chữ như “việt cộng”, “cộng sản Việt Nam”, “nhà cầm quyền Việt Nam, nhà cầm quyền Hà Nội, chính quyền Hà Nội” ..v..v.. Dùng những nhóm chữ như vầy tức là đi quỳ lạy bọn giặc chớ đâu phải là “chống cộng”? Một thói quen rất là tai hại!
Có những người biết họ nhầm nhưng vì …. tự ái “nghề nghiệp” nên đã lý sự:
- Mình là …. vua chống cộng đã mấy chục năm nay, không lẽ bây giờ mình dùng chữ “việt gian cộng sản”, tức là bắt chước thằng A,B,C, như vậy là mình dở, còn tụi nó là đúng???!!!
Xin nhắc lại một lần nữa, những vị tiền bối cách mạng như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, cách đây trên 70 năm đã nhìn thấy bản chất VIỆT GIAN của bọn giặc! Không lẽ các cụ không xứng đáng là bậc thầy của chúng ta hay sao?
Muốn thành công trong sự nghiệp đánh dẹp giặc, giải phóng toàn bộ 90 triệu nô lệ trong và ngoài nước, chúng ta phải biết dẹp bỏ tự ái. Một người nào đó, giả sử vì mâu thuẫn cá nhân hay bất đồng quan điểm về chính trị, ta không thích họ, nhưng nếu ta thấy họ có những quan niệm đúng thì ta phải nghe theo họ, vì sự nghiệp đấu tranh chung, để tiết kiệm xương máu cho đồng bào. Trong vài chục năm qua, chúng ta đã bắn hàng triệu phát đạn lên trời. Người dân trong nước hết sức oán hận chúng ta. Họ than phiền:
- Mấy thằng việt kiều chó đẻ ở nước ngoài đấu tranh cái kiểu gì mà bọn cộng sản không hề bị rụng một sợi lông chân. Ðã vậy còn rủ nhau về nước ăn chơi đú đởn, hợp tác với bọn giặc để bóc lột dân đen!
CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN:
Có một bác sĩ việt kiều Mỹ tình nguyện về Việt Nam làm việc từ thiện. Một hôm có bệnh dịch tiêu chảy, nhiều bệnh nhân đến viếng ông ta. Sau khi khám bệnh cho toa, ông bác sĩ này dặn dò những bệnh nhân rất kỹ:
- Cô, chú, bác, anh chị nhớ sau khi đi vệ sinh thì phải rửa tay bằng xà bông cho sạch. Trước khi dùng bữa trưa hay tối cũng phải rửa tay bằng xà bông để khử trùng. Bệnh này chẳng qua là do thiếu vệ sinh, vi trùng từ tay đi theo thức ăn vào miệng!
Bệnh nhân nào cũng “dạ, dạ”, nhưng khi về nhà thì họ chửi:
- Ðù mẹ, làm đéo gì có xà bông mà rửa tay? Giấy chùi đít cũng không có, phải chùi đít bằng tay rồi rửa tay bằng nước lạnh! Nếu có giấy báo để chùi đít thì cũng không dám dùng mà phải gom góp lại, để dành bán kí lô, kiếm tiền mua gạo mà ăn. Ba cái thằng bác sĩ việt kiều ngu bỏ mẹ!
Ông bác sĩ việt kiều sinh ra và lớn lên tại Mỹ cho nên ông ta cứ tưởng những chuyện rất đương nhiên và rất bình thường, cũng tựa như chúng ta hít thở khí trời, là bất cứ gia đình nào ở Việt Nam cũng có những nhà vệ sinh với đầy đủ tiện nghi. Một người dù nghèo mạt rệp ở Mỹ cũng phải dùng những cuộn giấy vệ sinh chớ không có chuyện chùi đít bằng tay. Trong những căn nhà ở Mỹ, tối thiểu phải có từ hai nhà vệ sinh trở lên, thậm chí trong phòng ngủ cũng có. Bước chân ra ngoài đường, vào những công sở, thương xá, những tiệm ăn, chỗ nào cũng có những nhà vệ sinh với những tiện nghi như bồn rửa tay, xà bông nước, giấy vệ sinh, máy để xấy tay khô sau khi rửa tay ..v..v.. Những tiện nghi này nó quá thừa thãi đến nỗi mọi người đều tưởng rằng nó giống như khí trời, có sẵn mọi nơi tại tất cả mọi nước trên thế giới.
Chính vì cứ tưởng như vậy cho nên khi làm việc với cái quái thai “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” nhiều việt kiều đã phạm sai lầm! Và nhất là khi lao đầu vào cuộc đấu tranh chính trị thì lại càng sai lầm lớn. Cứ tưởng nó là như vậy nhưng nó không phải như vậy!
Khi nhìn vào một chế độ, một quốc gia, người ta có thói quen tìm hiểu về Hành Pháp-Lập Pháp-Tư Pháp, Hiến Pháp. Và khi có một trục trặc gì xảy ra thì người ta truy tìm xem vấn đề đó xuất phát từ đâu để giải quyết. Cũng tựa như khi chúng ta có chiếc xe gắn máy, khi thấy khói đen ra nhiều quá thì chúng ta “chẩn bệnh”, chắc là xăng bị dơ, ngay lập tức chúng ta tìm cách xúc bình xăng. Nếu chiếc xe chạy cà giựt thì chắc là tại hộp số ….
Nhưng thế giới không bao giờ ngờ rằng trên thế gian này có một chế độ chính trị CHÙI-ÐÍT-BẰNG-TAY, dưới cái danh xưng là nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Tất cả mọi thứ ăn uống và vệ sinh cá nhân đều đi thẳng từ bàn tay vào miệng!
Những thứ lỉnh kỉnh và xa xí như “hành pháp, lập pháp, tư pháp, hiến pháp” chỉ là những hàng mẫu trưng bày để đánh lừa thế giới. Nó cũng tựa như chiếc xe đạp được ngụy trang thành xe gắn máy, nhìn bề ngoài cứ tưởng là xe gắn máy. Khi xe bị trở chứng, không “nổ máy”, mấy ông kỹ sư việt kiều tha hồ mà chẩn bệnh:
- Ðiệu này, đúng là bị hư bộ phận lọc xăng/lọc gió/hộp số rồi!
Mấy ông kỹ sư việt kiều có ngờ đâu chiếc xe “gắn máy” này được chạy bằng “mồ hôi và cơ bắp chân” của những thằng nô lệ!
Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu về “CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN”. Những việt kiều sống tại các nước tư bản rất lạ lẫm về cái sản phẩm này, hay nói đúng hơn là mù tịt. Và chính vì mù tịt cho nên sự đấu tranh chống cộng của họ trật lấc, toàn là bắn súng lên trời!
Nói một cách ngắn gọn “chuyên chính vô sản” bao gồm: đảng-nhà nước, công an-quân đội và nhà tù. Nó là công cụ của giai cấp chủ nô lệ để đàn áp và cai trị dân nô lệ. (đảng và nhà nước chính là một)
Tất cả mọi thứ khác như quốc hội, hiến pháp, viện kiểm sát, tòa án chỉ là hàng ngụy trang để đánh lừa thế giới và việt kiều. Quốc hội là bù nhìn, hiến pháp là giấy chùi đít. Bản thân toàn bộ cái hiến pháp chỉ là giấy chùi đít thì điều số 4 của hiến pháp không là cái thá gì cả! Tất cả đều là ảo, đều là mê hồn trận. Vậy mà có những tổ chức “đấu tranh chống cộng” ở hải ngoại cứ đòi phải hủy bỏ điều 4 hiến pháp! Quốc hội chỉ là bù nhìn, là chậu kiểng thì cho dù được bọn giặc cho phép “đa đảng”, 100 đảng phái “quốc gia” vào đó chỉ để ngủ, chớ làm được trò trống gì? Vậy thì đòi “đa nguyên đa đảng” làm gì?
Một đảng chính trị phải có phương tiện truyền thông trong tay để tiếp xúc và vận động dân chúng, trong khi đó truyền thông trong nước thì 100% là độc quyền của bọn giặc. Ðiều này cũng tựa như một người được cấp giấy phép làm nghề ca sĩ nhưng lại bị cấm không được lên sân khấu để biểu diễn!
Bọn giặc cai trị trực tiếp bằng súng đạn và nhà tù, tất cả đều TRỰC TIẾP xuất phát từ đảng. Nó cũng tựa như bàn tay chùi đít và cũng chính bàn tay đó bốc thức ăn đưa thẳng vào miệng. Quốc hội bù nhìn của giặc chỉ trong một đêm là có thể “làm ra” hàng trăm đạo luật và thông qua hàng trăm đạo luật. Ðại biểu quốc hội nào mà không “nhất trí”? Không “nhất trí” thì toi mạng!
Nói một cách khác, bọn giặc cai trị đất nước KHÔNG CẦN CÓ HIẾN PHÁP, KHÔNG CẦN CÓ Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp. Tất cả đều tóm gọn trong bốn chữ “chuyên chính vô sản”. Chấm hết.
Trong khi đó, quốc hội tại các quốc gia dân chủ, muốn thông qua một đạo luật hay bãi bỏ một đạo luật, phải qua những thủ tục rất phức tạp, họp tới họp lui vài chục lần, có khi mất hơn một năm!
Ðó là sự khác biệt giữa hai chế độ:
a/ Chế độ chùi đít bằng tay, và
b/ Chế độ nhà vệ sinh, giấy vệ sinh, xà bông, bồn rửa tay, máy xấy khô tay …
Không thể đem những thủ tục đấu tranh của (b) áp dụng cho (a) và ngược lại. Vì cứ tưởng (a) cũng như (b) cho nên nhiều người đã “đấu tranh” bằng cách bắn súng lên trời!
XÁC ÐỊNH MỤC ÐÍCH ÐẤU TRANH:
1. Mục đích đấu tranh của chúng ta là LẬT ÐỔ CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN, TIÊU DIỆT TẬN GỐC CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN, KHÔNG BAO GIỜ CHO ÐẢNG CỘNG SẢN CÓ CƠ HỘI ÐƯỢC NGÓC ÐẦU LÊN NẮM CHÍNH QUYỀN TRỞ LẠI.
Hiện nay, một số những tên chó săn ở hải ngoại như băng đảng Bùi Tín, Việt Tân, Nguyễn Ðan Quế đang cố lèo lái đồng bào đi trật mục tiêu. Bọn chúng đồng ý “xóa bỏ” chế độ cộng sản nhưng lại lý luận rằng sau khi bị xóa bỏ, đảng cộng sản vẫn tiếp tục được sinh hoạt như những đảng phái chính trị khác và vẫn có thể tham gia bầu cử, ứng cử để hy vọng trở lại nắm chính quyền!
Toàn bộ tập đoàn việt gian cộng sản là bọn tội đồ của dân tộc, chưa bị đem treo cổ hết là may, chớ có đâu lại cho phép chúng nó được phép ra ứng cử để nắm chính quyền! Những thằng việt gian sẽ bị tước quyền công dân, tất nhiên là không được phép bầu cử hay ứng cử.
2. Mục đích đấu tranh của chúng ta là lật đổ chế độ cộng sản, xóa bỏ tận gốc chế độ cộng sản chớ không phải “đấu tranh” để canh tân, sửa chữa, làm cho nó được hoàn thiện như băng đảng Bùi Tín, Việt Tân và nhiều tên chó săn khác đang chủ trương.
Chính vì xác định mục đích đấu tranh như vậy cho nên chúng tôi đề nghị những biểu ngữ biểu tình như đã nêu trong phần trên. (phần có 5 *****)
HÃY SO SÁNH NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH Ở HẢI NGOẠI VÀ TRONG NƯỚC:
Cuộc biểu tình gồm trên 200 ngàn giáo dân ở trong nước vừa qua đã cho chúng ta thấy người dân trong nước rất dũng cảm và họ đã chiến đấu một cách rất khôn ngoan. Những biểu ngữ của họ là những tiếng nói rất mạnh mẽ, gọi thẳng chính quyền là “dã man”, gọi bọn công an là “quân vô lại” và đe dọa bọn cộng sản “sẽ phải chịu quả báo”! Ðiều này có khác gì họ nói thẳng vào mặt bọn giặc là tụi bay sẽ bị lật đổ trong nay mai!
Những người dân trong nước đi biểu tình trước những họng súng AK của bọn giặc và những nanh nhọn của bầy chó bẹc giê. Họ có thể bị bọn giặc bắn chết bất cứ lúc nào. Sự đấu tranh của họ nguy hiểm hơn chúng ta gấp triệu lần. Vậy mà họ không sợ, đã rủ nhau đi biểu tình trên 200 ngàn người!
Nhìn tấm gương của những giáo dân Tam Tòa, chúng ta ở hải ngoại thấy hổ thẹn và thấy rằng mình đã quá hèn nhát! Những câu khẩu hiệu, những biểu ngữ cũ rích cách đây vài chục năm, bây giờ cũng cứ vẫn thế, không có gì thay đổi! Vẫn quanh đi quẩn lại đòi hỏi những thứ chổi cùn, rế rách mà biết chắc là không bao giờ được trả lại.
Toàn bộ công sức cứ tập trung đánh vào những mục tiêu ảo, thật là đáng buồn!
AI ÐÃ BỊT MẮT NHỮNG NGƯỜI ÐI BIỂU TÌNH?
Còn ai vô đó, nếu không phải là băng đảng Bùi Tín, Việt Tân và những bọn chó săn?
Bọn chúng cầm đầu những cuộc biểu tình thì bọn chúng lèo lái đồng bào bắn súng lên trời! Nhiều tên còn công khai lên mặt … dạy dỗ đồng bào rằng:
- Mình phải đấu tranh … ôn hòa, dùng chữ phải lịch sự, đòi hỏi những cái lặt vặt vừa phải thôi thì thế giới mới nể mình là những người văn minh, có học! Mình đòi hỏi những cái to lớn quá thì có khác gì ăn mày đòi ăn xôi gấc?
- Mình phải kính trọng những … ông cộng sản thì mới cảm hóa được họ. Những ông cộng sản thấy người quốc gia lịch sự, có học quá cho nên họ sẽ hối hận, tình nguyện trở về với chính nghĩa quốc gia!
- Muốn đấu tranh thành công thì phải chờ người Mỹ bật đèn xanh. Người Mỹ chưa bật đèn xanh thì chưa làm gì được. Cứ yên chí ngồi chờ đấy, quốc hội Mỹ sắp sửa can thiệp rồi!
Nhận xét:
- Suốt 34 năm qua, kiên trì quỳ lạy bọn giặc, kiên trì lịch sự và có học, những kẻ đấu tranh cuội có thấy thằng chó cộng sản nào quay về với chính nghĩa quốc gia chưa? Mà ngu gì trở về với chính nghĩa quốc gia để bị nghèo đói mạt rệp? Cứ ở trong nước làm quan to, bóc lột, ăn cướp và ăn cắp để trở thành triệu phú và tỷ phú đô la mới sướng chứ!
Thậm chí nhiều tên chó săn còn hăm dọa:
- Ai mà đòi lật đổ chính quyền cộng sản, sẽ bị cảnh sát Mỹ bắt nhốt! Người Mỹ họ ghét bọn khủng bố lắm. Ðòi lật đổ chính quyền tức là khủng bố! Phải kiên nhẫn làm thỉnh nguyện thư xin-cho, cứ chờ vài trăm …. năm nữa thì sẽ được giải quyết!
Ðó là lý do vì sao đồng bào ở hải ngoại, như những bầy cừu non bị lũ quỷ sa tăng khống chế, bộ não hoàn toàn bị tê liệt, không bao giờ dám có ý nghĩ “lật đổ chế độ cộng sản” ở trong đầu! Trước tiên phải có ý nghĩ, sau đó mới thể hiện qua lời nói, chữ viết và hành động, mới dẫn đến CÁCH MẠNG. Ðằng này ngay cả ý nghĩ cũng không bao giờ dám có, nghĩa là đã bị bọn giặc triệt tiêu ngay từ trong trứng nước thì biết đến bao giờ toàn dân Việt Nam mới thoát khỏi kiếp làm nô lệ???!!!
Chúng ta hãy nhìn tấm gương đấu tranh của những người Palestine do chủ tịch Arafat cầm đầu. Sao cảnh sát quốc tế hay cảnh sát Mỹ không giỏi bắt nhốt ông ta đi, mà ngược lại ông ta còn ngang nhiên vào tòa Bạch Ốc họp với tổng thống Mỹ!
PHẢI CÓ NIỀM TIN TẤT THẮNG:
Niềm tin rất là quan trọng. Không có niềm tin là vứt đi. Thi sĩ Vô Danh khi còn nằm trong nhà tù mà ông đã tin tưởng “sẽ có ngày toàn dân vất cờ, vất cùm, vất đảng”, mọi người gặp lại nhau chan hòa nước mắt trong hạnh phúc và toàn dân được vui hưởng thanh bình trong tiếng sáo diều trên nền trời xanh bao la …
Một người đang nằm trong tù của bọn giặc mà vẫn có niềm tin như vậy, trong khi đó, chúng ta là những việt kiều đang sống tại các quốc gia tự do, lẽ nào lại sợ sệt, không dám đấu tranh và không dám tin là chế độ cộng sản phải bị sụp đổ?
Ðấu tranh chống cộng trong hoàn cảnh hết sức thuận lợi như chúng ta đang có mà còn sợ run, không bao giờ dám có ý nghĩ LẬT ÐỔ CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN ở trong đầu thì đấu tranh để làm gì? Chẳng thà cứ nằm “biểu tình tại gia”, trùm mền dưới gầm giường như “thầy” Quảng Ðộ khuyên cho xong! Hay là cứ nằm dưới gầm giường, kêu tên Hồ Chí Minh ra chửi, đó chính là “phá vỡ tảng đá cuối cùng”, sẽ làm cho chế độ cộng sản tự động bị sụp đổ, như lời “linh mục” Nguyễn Hữu Lễ đã khuyên?
BẮT CÓC BỎ DĨA, VŨ NHƯ CẨN:
Giả sử tất cả những điều mà những người đi biểu tình đòi hỏi đều được bọn giặc chấp nhận trả lại thì điều gì sẽ xảy ra?
Ví dụ như tổ chức Phục Hưng đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, bọn giặc đồng ý, thì thôi không đấu tranh chống cộng nữa?
Hay như Phong Trào của ông Nguyễn Hữu Lễ đòi trả lại tên “Sài Gòn”, bọn giặc đồng ý, thì thôi không đấu tranh chống cộng nữa?
Và nếu bọn giặc cho tự do tôn giáo, cho đa nguyên, đa đảng thì thôi không đấu tranh chống cộng nữa?
Nghĩa là chúng ta vẫn chấp nhận cho bọn giặc tiếp tục ngồi trên đầu chúng ta để cai trị sau khi những thứ như chổi cùn và rế rách được trao trả lại? Nghĩa là chúng ta chấp nhận tiếp tục làm nô lệ?
Như chúng tôi đã trình bày nêu trên, bọn giặc cai trị đất nước bằng chuyên chính vô sản chớ không phải bằng mô hình nhà nước dân chủ như những quốc gia khác trên thế giới. Bàn tay chùi đít và bàn tay bốc thức ăn chỉ là một và làm một cách trực tiếp. Hôm nay bọn chúng “trả lại”, ngày mai bọn chúng “tịch thu”, mấy hồi? Chúng ta đã chứng kiến rất nhiều lần, hôm nay bọn chúng thả vài nhà đấu tranh dân chủ, ngày mai bọn chúng bắt nhốt vài trăm người! Hôm nay bọn chúng “trả lại” tài sản, ngày mai bọn chúng lại tịch thu! Không có gì gọi là chắc chắn trong cái chế độ chùi đít bằng tay đó!
KẾT LUẬN:
Xin được tóm tắt lại mấy điểm:
1. Thấy được bản chất của sự việc rồi thì chúng ta phải có phương pháp đấu tranh đúng MÀ KHỞI ÐẦU PHẢI LÀ dùng CHÍNH DANH. Phải gọi đúng tên, nêu đúng tội của kẻ thù. Nó là việt gian thì phải gọi nó là việt gian. Hiểu sai vấn đề, dùng không đúng chữ, sẽ dẫn đến hậu quả là bắn súng lên trời.
2. Khi tình thế thay đổi, chúng ta phải biết linh hoạt thay đổi đường lối đấu tranh. Cụ thể là những biểu ngữ trong những cuộc biểu tình phải thay đổi, những lời lẽ phải mạnh mẽ hơn trước rất nhiều, toát ra lửa đấu tranh và nhắm thẳng vào tim của kẻ thù mà bắn! Phải biết noi gương những người dân đang đấu tranh trong nước, ví dụ như ở Tam Tòa. Khi đi biểu tình đồng bào nhớ đem theo cà chua và trứng thối để ném vào bọn giặc và ném vào cái hang ổ rắn độc của bọn giặc, cái gọi là “tòa lãnh sự”!
Có ai sợ bị cảnh sát Mỹ bắt bỏ tù vì đi biểu tình không? Có ai sợ bị bọn công an việt cộng chụp hình rồi không về Việt Nam được? Nếu có, thì những người này cứ yên tâm ở nhà …. “biểu tình tại gia” như “thầy” Quảng Ðộ đã dạy cho chắc ăn!
3. Sắp tới khi thằng việt gian Nguyễn Tấn Dũng hoặc Phạm Gia Khiêm đến Houston Texas, mong rằng đồng bào sẽ dạy cho bọn chúng một bài học đích đáng. Ðiều đáng lưu ý là trưởng ban tổ chức biểu tình lại là tên việt gian Hoàng Duy Hùng! Tên này đang giữ chức vụ chủ tịch cộng đồng người Việt tại Houston! Một vị trí hết sức quan trọng như vậy mà lại giao cho một tên việt gian đi làm tay sai cho băng đảng Việt Tân thì vô cùng nguy hiểm! Hắn sẽ lèo lái đồng bào bắn súng lên trời!
Do đó chúng tôi đề nghị đồng bào hãy truất phế tên Hoàng Duy Hùng càng sớm càng tốt. Nếu thế lực của hắn mạnh quá thì đồng bào nên thành lập ra một Ban Ðại Diện cộng đồng khác chớ dứt khoát không để cho một thằng giặc như vậy “đại diện” cho mấy trăm ngàn đồng bào! Ðúng là giao trứng cho ác! ( * xem Chú thích TinParis )
Chúng ta ở hải ngoại phải làm một cái gì đó cho xứng đáng với những đồng bào đang đấu tranh tại Tam Tòa trong nước. Họ đang đứng trước những họng súng của kẻ thù mà không sợ, trong khi đó chúng ta ở hải ngoại lại run sợ thì quá nhục!!!
Có mộ phản hồi
-
asiadragon, on Tháng Chín 10th, 2009 lúc 8:15 sáng Said:
00Rate ThisĐàn áp các blogger – sự sai lầm và bế tắc của nhà nước Việt Nam
* Song Chi
Tiếp theo những nhà hoạt động chính trị đối lập với chế độ, giới văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư, giáo dân…lại đến lượt giới blogger ở VN bị đàn áp, bị bắt bớ hàng loạt.
Thật ra việc xách nhiễu, trấn áp vể tinh thần, gây khó dễ cho cuộc sống bằng cách này cách khác kể cả bắt giữ các blogger của nhà cầm quyền Việt Nam đã diễn ra từ hai năm nay, tuỳ theo từng đợt khi “bầu không khí chính trị trên mạng” nóng lên vì những vấn đề thời sự đang xảy ra trong xã hội. Còn nhớ những đợt đàn áp mạnh trước đây khi xảy ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa khởi đầu từ lời kêu gọi trên mạng của cộng đồng blogger VN, nhất là thời gian trước và trong khi diễn ra lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh ngang qua thành phố Sài Gòn vào tháng 4 năm 2008. Vào những ngày đó, không khí Sài Gòn như nóng và ngột ngạt hẳn, hàng loạt văn nghệ sĩ và blogger bị Công An “mời lên làm việc”, một số blogger thuộc các nhóm Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, X-cafe bị khám xét tư gia, lục soát máy vi tính…, bị giữ lại trụ sở công an phường vài giờ, vài ngày hoặc hơn tuỳ theo… Đó cũng là thời gian anh Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày của CLBNBTD bị bắt và kết án 30 tháng tù, còn bản thân người viết bài này đã bị ngưng hợp đồng làm phim và bị “treo nghề”…
Và bây giờ đến lượt nhà báo Huy Đức tức blogger Osin bị ngưng hợp đồng làm việc, nhà báo Phạm Đoan Trang tức blogger TrangRidiculous, blogger Nguoibuongio, blogger Mẹ Nấm…bị bắt giữ, ngay cả anh Trần Huỳnh Duy Thức trong vụ các nhà hoạt động dân chủ bị bắt vừa rồi cũng là blogger nổi tiếng với nickname Trẩn Đông Chấn, Changeweneed…
Chúng ta thấy gì qua điều này ?
Thực tế sinh hoạt blog, còn gọi là dân báo, một bước tiến của nhân loại vào thế kỷ 21, là một hoạt động bình thường trong những xã hội tự do dân chủ. Dân báo là quyền phát biểu, quyền đọc và quyền phát hành vượt qua mọi rào cản và biên giới. Chỉ trong những xã hội mà quyển tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do báo chí là điểu bất khả như ở VN, thế giới blog mới trở thành một phương tiện gần như duy nhất để chia sẻ và trao đổi thông tin đa chiều, bày tỏ quan điểm, thái độ trước những vấn đề mang tính thời sự của đất nước, xã hội và những chủ trương, việc làm sai trái của chính quyền.
Với việc đàn áp, bắt giữ các blogger, Nhà Nước VN đã chứng tỏ với thế giới rằng người dân VN không chỉ không có quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận trong đời sống thật mà ngay cả trên thế giới ảo-internet và blog, họ cũng không được phép tìm kiếm SỰ THẬT, viết về SỰ THẬT và chia sẻ SỰ THẬT với người khác.
Bởi vì,
Mọi chế độ độc tài toàn trị trên thế giới đều có những đặc điểm chung giống nhau. Vũ khí của một chế độ độc tài là gì? Không chỉ là sức mạnh của cả một thể chế chính trị từ trên xuống dưới; không chỉ là sức mạnh của quân đội, cảnh sát, an ninh…được vũ trang đến tận răng đi kèm với tòa án, luật pháp…và số đông đội ngũ tay sai được giáo dục, đào tạo trong bao nhiêu năm…; không chỉ là sức mạnh của cả một hệ thống tuyên truyền báo chí truyền thông và giáo dục liên tục nhồi nhét và “tẩy não”…Vũ khí của một chế độ độc tài đó là: sự sợ hãi, sự bí mật và sự dối trá.
Một chế độ độc tài còn tồn tại được khi nào nhân dân còn sợ hãi cái bộ máy vận hành chế độ đó và chưa ý thức được sức mạnh của mình.
Một chế độ độc tài còn tồn tại được khi nào mọi sự thật của lịch sử và của chính quyền đó còn bị bưng bít, hay nói khác đi khi sự bí mật và sự dối trá còn bao trùm lên toàn xã hội.
Chính vì vậy, một Nhà Nước như Nhà Nước Việt Nam nắm trong tay toàn bộ cơ quan quân đội, tình báo, an ninh, luật pháp, truyền thông…lại phải sợ hãi những bài viết, những lời chỉ trích trên mạng của những cá nhân đơn lẻ không có lực lượng, không có bất cứ một thứ vũ khí gì ngoài trái tim yêu nước và một đầu óc biết phân biệt phải trái đúng sai.
Bởi vì,
Họ sợ SỰ THẬT. Họ sợ một ngày khi cái khối đông nhân dân 86 triệu người bao nhiêu năm nay bị bịt mắt, bị ru ngủ, bị lừa bịp kia bỗng thức tỉnh và tự hỏi vì sao chúng ta lại phải chấp nhận giao vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc và hạnh phúc của mọi người dân trong tay một đảng phái, thậm chí một nhóm người khi cái đảng phái đó, nhóm ngưởi đó chưa bao giờ vì dân vì nước, đã gây ra biết bao nhiêu điều sai lầm, tệ hại trong suốt mấy chục năm cầm quyền, thậm chí còn âm thầm dâng đất dâng biển cho ngoại bang và đấy đất nước vào thế lệ thuộc ngoại bang hơn bao giờ hết như hiện nay?
Một điều đáng nói là không riêng gì các nhà hoạt động dân chủ, tất cả các blogger bị đàn áp, bắt bớ từ trước đến nay, trong các bài viết của mình lúc này lúc khác đều đề cập đến tham vọng bành trướng của Trung Quốc tại biển Đông, vấn đề lãnh thổ lãnh hải, sự kiểm soát và lũng đoạn ngày càng tăng của chính quyền Trung Quốc đối với môi trường chính trị kinh tế xã hội của VN mà nổi cộm là dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên…tất cả phản ánh thực chất mối quan hệ không cân bằng giữa Đảng CSVN và ĐCSTQ. Phải chăng vì vậy việc đàn áp này một lần nữa là món quà mà ĐCSVN dâng tặng đàn anh để đàn anh bớt nóng giận trước lòng yêu nước, lên án chính quyền Trung Quốc của người dân VN? Hay phải chăng họ đã nhận được chỉ thị của Bắc Kinh không cho phép bất cứ công dân VN nào được quyền đụng chạm đến “Thiên triều”?
Lịch sử VN chưa bao giờ có một “triều đại” nào lại hèn hạ khiếp nhược phản động đến như vậy! Không những thế, cũng như tất cả những vụ bắt bớ các nhà hoạt động dân chủ đấu tranh một cách hoà bình, việc đàn áp, bắt giữ các blogger tiếp tục chứng tỏ đường lối ngoan cố đến cùng không chấp nhận mọi sự thay đổi, đối thoại hay phản biện… của những người lãnh đạo ĐCS và Nhà Nước VN. Những ai cho đến tận giờ phút này vẫn còn ngây thơ tin vào khả năng có thể tự cải hoá để trở nên tốt đẹp hơn của ĐCSVN hẳn là đã nhìn thấy câu trả lời!
Về phía nhà cầm quyền VN, tấn công vào những blogger-những nhà dân báo, thực ra chỉ là sự nối tiếp của vô vàn những sai lầm trong cách hành xử đối với nhân dân của họ đồng thời chứng tỏ sự bế tắc của họ.
Bởi vì,
Các blogger-những nhà dân báo đúng như tên gọi của họ có thể là bất kỳ ai trong nhân dân. Có thể bắt vài chục, vài trăm, vài ngàn blogger, nhưng không thể bắt hàng triệu người hoặc hơn nữa. Có thể bắt những blogger trong nước nhưng còn hàng bao nhiêu blogger VN ở nước ngoài, và cả một thế giới bạn bè khắp năm châu, Nhà Nước VN sẽ có thể làm gì?
Bởi vì,
Một sự thật rõ ràng là không thể cấm cản mọi người đến với thế giới internet trừ phi quay ngược lại cấm hoàn toàn mọi hoạt động của internet ở Việt Nam, không thể cấm tất cả mọi người tìm kiếm sự thật, nói và viết lên sự thật trừ phi xây thêm hàng trăm hàng ngàn nhà tù khác để bắt giữ hết mọi người, mà thực tế thì cho đến tận ngày hôm nay, về khía cạnh tinh thần, tư tưởng…VN vẫn là một nhà tù lớn của nhân dân rồi.
Và bởi vì,
Nhân dân có thể bị lừa bịp một, hai, ba…thế hệ nhưng không thể bị lừa bịp mãi mãi. Khi người dân đã thức tỉnh, sức mạnh của họ sẽ vô cùng lớn. Và như hiệu ứng domino, một quân cờ đổ sẽ kéo theo hàng loạt quân cờ khác đổ…Một chế độ dù vững mạnh đến đâu, một khi đã không thuận lòng dân và không phù hợp với xu thế phát triển chung của nhân loại tiến bộ thì ắt sẽ có ngày sụp đổ.
Nguồn: X-Café