Tìm hiểu về Think Tank

Think Tank là gì?

Think Tank là tên gọi một loại hình tổ chức tập họp các chuyên viên nhiều chuyên ngành nhằm nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao … , cuối cùng đưa ra các lý thuyết, sách lược, ý tưởng, giải pháp … có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.
Franklin Collbohm, sáng lập viên công ty RAND (Think Tank xếp hạng thứ 4 ở Mỹ, có 1600 nhân viên), định nghĩa Think Tank là “Nhà máy ý tưởng”, là trung tâm tư tưởng chiến lược dám thách thức và coi thường mọi uy quyền, dám vượt qua mọi trí tuệ hiện có.
Theo định nghĩa chặt chẽ thì Think Tank là tổ chức dân lập, hoạt động độc lập với chính quyền – loại Think Tank này hiện chỉ có tại những nước theo chế độ chính trị đa nguyên. Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định. Các kết quả này thông thường được công bố trên các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông và các hình thức trao đổi thông tin khác nhằm tranh thủ sự tán thành của công chúng và sự chú ý của lãnh đạo quốc gia.
Chức năng chính của Think Tank là: – đề xuất ý tưởng; – giáo dục, hướng dẫn dư luận; – tập hợp nhân tài.
Trong tiếng Anh Think là suy nghĩ, ý nghĩ, ý tưởng, tư tưởng, Tank là cái thùng (bồn, vựa, chậu), còn có nghĩa là xe tăng. Trung Quốc dịch Think Tank là Túi tri thức (“trí nang đoàn”) hoặc Kho trí thức (“trí khố”). Ở ta có người dịch là “Kho Tư tưởng (Ý tưởng)”, “Kho Trí tuệ (Trí thức)”, “Vựa (Bồn) Trí tuệ”, “Nhóm chuyên viên (hoặc Tổ chức) tư vấn”… Nhận thấy tất cả các từ dịch kể trên đều chưa quen với bạn đọc và hơi dài, vả lại hiện chưa có một từ Việt tương đương được nhất trí thừa nhận, cho nên chúng tôi xin tạm dùng Think Tank như một danh từ tiếng Việt (viết hoa, không có số nhiều). Người Nhật cũng dùng nguyên từ Think Tank phiên âm ra tiếng Nhật.
Tình hình Think Tank trên thế giới
Think Tank xuất hiện ở phương Tây đã lâu, nhưng ở Việt Nam thì khái niệm này còn mới lạ, vì thế thiết nghĩ việc giới thiệu về Think Tank là cần thiết.
Theo một báo cáo công bố đầu năm 2009 của Đại học Pennsylvania, kết quả điều tra 169 nước trên thế giới năm 2008 có tổng cộng 5465 Think Tank; trong đó Bắc Mỹ và Tây Âu có 3080 (chiếm 56,35%, riêng Bắc Mỹ có 1872), châu Á có 653 (11,95%), Đông Âu có 514, châu Mỹ La-tinh và vùng Caribe – 538, châu Phi vùng hạ Sahara – 424, Trung Đông và Bắc Phi – 218, châu Đại dương – 38.
Nước có nhiều Think Tank nhất là Mỹ – 1777, rồi đến Anh – 253, Đức – 186. Tại châu Á, Ấn Độ có nhiều Think Tank nhất – 121, thứ nhì là Nhật – 105. Theo báo cáo trên, Trung Quốc hiện có 74 Think Tank theo nghĩa rộng; nhưng các học giả Trung Quốc đánh giá nước họ thực sự chưa có Think Tank đúng nghĩa.
Xếp hạng các Think Tank trên thế giới
Dưới đây là một số trích dẫn bảng xếp hạng các Think Tank toàn cầu [1]. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi để nguyên tên tiếng Anh không dịch.
Xếp hạng Top 10 Think Tank của Mỹ như sau:
1. Brookings Institution
2. Carnegie Endowment for International Peace
3. Rand Corporation
5. Heritage Foundation
6. Woodrow Wilson International Center for Scholars
7. Center for Strategic & International Studies
8. American Enterprise Institute
9. Cato Institute
10. Hoover Institution

Xếp hạng Top 10 Think Tank của các nước ngoài Mỹ như sau:

1. Chatham House (tức Royal Institute of International Affairs, thành lập năm 1920 tại Anh)
2. International Institute for Strategic Studies (Anh)
3. Stockholm International Peace Research Institute (Thụy Điển)
4. Overseas Development Institute (Anh)
5. Centre for European Policy Studies (Bỉ)
6. Transparency International (Đức)
7. German Council on Foreign Relations (Đức)
8. German Institute for International and Security Affairs (Đức)
9. French Institute of International Relations (Pháp)
10. Adam Smith Institute (Anh)

Xếp hạng Top 5 Think Tank của châu Á:

1. Chinese Academy of Social Sciences (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)
2. Japan Institute of International Affairs (Nhật)
3. Institute for Defence Studies and Analyses (Ấn Độ)
4. Centre for Strategic and International Studies (Indonesia)
5. Institute for International Policy Studies (Nhật)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực An ninh và quan hệ quốc tế:

1. Brookings Institution (Mỹ)
2. Chatham House (Anh)
3. Carnegie Endowment for International Peace (Mỹ)
4. Council on Foreign Relations (Mỹ)
5. International Institute for Strategic Studies (Anh)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực Phát triển quốc tế:

1. Brookings Institution (Mỹ)
2. Overseas Development Institute (Anh)
3. Council on Foreign Relations (Mỹ)
4. Rand Corporation (Mỹ)
5. Woodrow Wilson International Center for Scholars (Mỹ)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực Chính sách kinh tế quốc tế:

1. Brookings Institution (Mỹ)
2. Peterson Institute for International Economics (Mỹ)
3. Fraser Institute (Canada)
4. National Bureau of Economic Research (Mỹ)
5. Adam Smith Institute (Anh)

Có thể thấy Viện Brookings đứng đầu cả 3 nhóm nói trên. Viện này thành lập năm 1916, có ngân sách năm 60,7 triệu USD, chuyên nghiên cứu về chính sách đối ngoại và vấn đề Trung Đông. Một số nhân vật tiêu biểu của Viện như Strobe Talbott (từng là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ), Kenneth Pollact, Alice Rivlin.

Think Tank có quy mô lớn nhất là Công ty Rand, với 1600 nhân viên, ngân sách 251 triệu USD, chuyên nghiên cứu chiến lược quân sự, các vấn đề kinh tế chính trị. Một số nhân vật tiêu biểu của Rand là James Dobbins, Gregory Treverton, William Overholt.

Mỹ là nước có hệ thống Think Tank phát triển nhanh nhất thế giới, từ 1980 tới nay số Think Tank nước này tăng gấp đôi. Riêng tại Washington đã có trụ sở của khoảng 350 Think Tank, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác. Tại thủ đô Mỹ có một đường phố tập trung rất nhiều Think Tank. Từ thập niên 70 trở đi không chính khách nào có ý định làm chủ Nhà Trắng mà không nhờ vả một Think Tank làm tư vấn. Vì vậy sau khi tân Tổng thống nhậm chức, không ít cán bộ của Think Tank đó được giao các trọng trách trong chính phủ. Khi Tổng thống hết nhiệm kỳ, họ lại về Think Tank cũ làm việc. Vì thế các Think Tank nghiễm nhiên trở thành nơi tập hợp nhân tài, chính khách. Think Tank rất cần cộng tác viên và bạn đọc. Chẳng hạn nếu bạn vào website của Think Tank STRATFOR, họ sẽ liên tục gửi bài cho bạn. Người sáng lập và lãnh đạo STRATFOR là George Friedman mới đây đưa ra một dự báo thế giới thế kỷ XXI rất độc đáo (coi Nhật, chứ không phải Trung Quốc, là đối thủ số 1 của Mỹ ở châu Á …).

Tại sao cần Think Tank?

Think Tank xuất hiện là do nhu cầu của thời đại. Thời đại càng tiến lên, các vấn đề cần xử lý ngày một nhiều, tới mức hệ thống nghiên cứu-tư vấn của nhà nước không thể xử lý hết. Thực tế cho thấy hệ thống này thường có mặt hạn chế, chủ yếu do bị chi phối bởi quan điểm của nhà nước nên thiếu tính khách quan. Ngoài ra sự phát triển tất yếu của xã hội dân sự dẫn tới xu hướng “chính phủ nhỏ, xã hội lớn” dần dần thay thế bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả. Theo đà phát triển kinh tế và giáo dục, hệ thống doanh nghiệp, trường ĐH và giới trí thức ngày càng lớn mạnh, trong xã hội tự xuất hiện nhiều cá nhân và đoàn thể có nguyện vọng cải tiến các quyết sách của đất nước.

Có người nói Công ty Đông Ấn [2] do người Hà Lan Cornelis de Houtman thành lập năm 1602 vừa là công ty xuyên quốc gia đầu tiên vừa là Think Tank đầu tiên trên thế giới nghiên cứu đưa ra phương thức độc quyền thương mại giúp Hà Lan khai thác hệ thống thuộc địa.

Từ sau Thế chiến II, giới trí thức phương Tây nhận thấy trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, mỗi quốc gia muốn tiến nhanh thì phải hết sức hạn chế các quyết sách sai lầm. Thế nhưng không chính phủ nào tránh được sai lầm trong khi đưa ra các quyết định chiến lược trên mọi lĩnh vực. Nguyên nhân gây ra sai lầm là do sự chủ quan, thiếu toàn diện của cơ quan quyết sách (ban lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu-tư vấn của họ). Nếu biết tranh thủ nghe ngóng, tiếp thu ý kiến tư vấn của bên thứ ba – các cá nhân hoặc tổ chức tư vấn độc lập với nhà nước (tức Think Tank), thì mức độ phạm sai lầm sẽ giảm đáng kể.

Xã hội phương Tây từ rất sớm đã có nhiều cá nhân (điển hình là giáo sư các trường đại học) hoặc tổ chức, đoàn thể tiến hành nghiên cứu các vấn đề chiến lược của nước mình hoặc thế giới; do độc lập với nhà nước nên họ có khả năng xem xét vấn đề một cách khách quan, toàn diện và đưa ra các giải pháp, chủ trương hợp lý. Chính vì thế, từ sau Thế chiến II, các Think Tank bắt đầu mọc lên như nấm ở phương Tây; trong thực tế các tổ chức này đã có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc ấn định các quyết sách của nhà nước hoặc chính đảng, của các ứng viên nghị sĩ quốc hội hoặc ứng viên Tổng thống. Do thấy được lợi ích to lớn của các tổ chức này nên chính phủ và doanh nghiệp, kể cả các đoàn thể xã hội và cá nhân đã ra sức khuyến khích thành lập và cung cấp kinh phí cho các Think Tank.

Nước Mỹ dựng nước mới hơn 200 năm đã trở thành cường quốc số một thế giới về mọi mặt, điều đó chứng tỏ họ rất ít mắc các sai lầm chiến lược lớn. Ở đây có một nguyên nhân là lãnh đạo nước này xưa nay bao giờ cũng chú ý lắng nghe ý kiến của dân, nhất là các nhà trí thức độc lập với chính phủ. Hệ thống Think Tank ở Mỹ phát triển nhanh nhất, mạnh nhất đã góp phần cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng các chủ trương chiến lược lớn của nước này.

Giáo sư Mao Chiêu Huy ở Học viện Quản lý công (thuộc trường ĐH Nhân dân Trung Quốc) nhận xét: tỷ lệ quyết sách sai lầm của Trung Quốc là 30%, còn tại các nước phát triển ở phương Tây tỷ lệ này chỉ có khoảng 5%, đó là do phương Tây ra sức tận dụng các Think Tank.

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc nói lãng phí lớn nhất của Trung Quốc là do các sai lầm quyết sách chiến lược gây ra. Thực tế cho thấy các chiến lược “Đại Nhảy Vọt”, “Công xã nhân dân” cuối thập niên 50 đã dẫn tới hậu quả nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, hàng chục triệu dân “chết không bình thường”, nói trắng ra là chết đói vì nông dân phải đi “luyện gang thép” và làm các “công trình hinh ảnh” mà bỏ mặc ruộng đồng không ai làm. Ngân hàng Thế giới đánh giá trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 7 đến kế hoạch 5 năm lần thứ 9, các sai lầm về quyết sách đầu tư của Trung Quốc gây thiệt hại kinh tế ước khoảng từ 400 đến 500 tỷ Nhân dân tệ.

Hầu hết các sai lầm đó là do lãnh đạo cao nhất gây ra. Họ xem xét mọi vấn đề theo cảm tính cá nhân, thích cái gì thì “quyết”, bản thân suy nghĩ trong vài ngày là xong, không giao cho một cơ quan tư vấn nào nghiên cứu, cũng không hỏi ý kiến các nhà chuyên môn, hoặc có hỏi nhưng giới chuyên môn sợ mất lòng cấp trên nên không dám nói thật. Điển hình nhất là “Thời gian biểu vượt Anh đuổi Mỹ” do Mao Trạch Đông đưa ra: ngày 15/4/1958 ông nói Trung Quốc cần “10 năm đuổi kịp Anh, 20 năm đuổi kịp Mỹ”; một tháng sau ông quyết định “7 năm đuổi kịp Anh, thêm 8 10 năm nữa đuổi kịp Mỹ”; ngày 22/6/1958 ông lại quyết: “2 3 năm đuổi kịp Anh”.

Từ ngày cải cách mở cửa, lãnh đạo Trung Quốc đã hết sức quan tâm xây dựng các Think Tank và thường xuyên lắng nghe ý kiến của họ. Sự quan tâm đó thể hiện ở chỗ Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu 2009.

Việt Nam ta từng có một số quyết sách sai lầm trên một số mặt, nhưng đáng tiếc là vấn đề này chưa được cơ quan nào nghiên cứu, thống kê, phân tích và công bố, trong khi ta lại nói quá nhiều về những thành tựu. Cách làm này chỉ làm cùn trí tuệ của các nhà hoạch định chiến lược và lãng phí trí tuệ xã hội. Gần đây dư luận đã bắt đầu lên tiếng tuy còn dè dặt về một số chủ trương kinh tế đã hoặc sẽ gây thiệt hại. Cho dù ta còn chưa có Think Tank đúng nghĩa, nhưng thử hỏi hệ thống cơ quan nghiên cứu nhà nước (các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học …) đã có vai trò gì trong việc đưa ra những quyết sách kinh tế lớn. Nếu biết tận dụng hệ thống cơ quan tư vấn và biết coi trọng xây dựng hệ thống Think Tank thì chắc chắn đã có thể tránh được nhiều sai lầm đáng tiếc.

Đầu thập niên 50 thế kỷ XX, trước khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên, một Think Tank nổi tiếng ở Mỹ là Công ty RAND khi nghiên cứu vấn đề “Trung Quốc có thể đưa quân sang Triều Tiên hay không” đã đi tới kết luận Trung Quốc sẽ đưa quân sang giúp Triều Tiên chống Mỹ. RAND rao bán bản báo cáo nghiên cứu này cho Phòng Nghiên cứu chính sách Trung Quốc của chính phủ Mỹ với giá 2 triệu đô-la (bằng giá một máy bay chiến đấu hồi ấy), nhưng bị từ chối. Sau đấy quả nhiên Trung Quốc đưa Quân Chí nguyện sang Triều Tiên; phía Mỹ do không có chuẩn bị trước về vấn đề này nên bị thiệt hại lớn. Tư lệnh quân đội Mỹ trên chiến trường Triều Tiên là MacArthur lúc này mới thấy hối tiếc là đã bỏ mất một quyết sách quý giá được RAND nghiên cứu chu đáo, có cơ sở thực tế.■

Nguyễn Hải Hoành

Trung Quốc coi trọng phát triển hệ thống Think Tank

Quá trình phát triển

Trung Quốc bắt đầu làm quen với khái niệm Think Tank từ sau cải cách mở cửa. Trước đó, quá trình hoạch định chính sách chủ yếu do một số cá nhân lãnh đạo quyết định, hầu như không sử dụng trí tuệ của bộ máy tư vấn và của dân chúng; vì thế từng phạm những sai lầm khó tưởng tượng.

Thí dụ, một câu nói của lãnh tụ “Người đông (thì) sức lớn” dẫn tới hậu quả không thực thi sinh đẻ có kế hoạch, số dân tăng thêm mấy trăm triệu, để lại bao nhiêu di họa: thất nghiệp, chưa giàu đã già. Việc hủy chế độ khám sức khỏe trước khi cưới đã làm tăng số người tàn tật lên tới mức đáng lo…

Do cách quyết sách tùy tiện ấy, Trung Quốc đã bỏ lỡ hai cơ hội chiến lược để phát triển đất nước. Cơ hội thứ nhất: sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên, môi trường an ninh của Trung Quốc được cải thiện rõ rệt, nhưng chỉ tận dụng thuận lợi này được 4 năm thì các chủ trương Chỉnh phong, Chống phái hữu, Đại Nhảy Vọt, Công xã nhân dân đã hủy hoại tất cả. Sức người sức của bị lãng phí không sao kể xiết, hàng chục triệu dân bị chết đói, bỏ lỡ cơ hội vàng phát triển sau chiến tranh (trong khi Nhật tận dụng được cơ hội này). Cơ hội thứ hai: sau khi nối lại quan hệ với Mỹ, hoàn cảnh chiến lược của Trung Quốc trong thời gian 1971-1976 được cải thiện rất nhiều. Thế nhưng 10 năm đại loạn “Cách mạng Văn hoá” đã phá hỏng cơ hội đó.

Nhiều người thấy rõ những sai lầm ấy nhưng không ai dám nói. Nguyên soái Bành Đức Hoài mới dè dặt nêu ra vài ý kiến về Đại Nhảy vọt đã bị cách hết mọi chức vụ.

Xảy ra tình hình trên không phải vì người Trung Quốc kém thông minh. Nhưng trí tuệ của họ bị bỏ xó; hơn tỷ dân chỉ có một người được quyền suy nghĩ và phát ngôn. Tư tưởng “Đại nhất thống” của Khổng giáo tuy tạo ra sự nhất trí cao độ trong toàn dân song đồng thời cũng bóp chết mọi sáng tạo, mọi ý tưởng đúng đắn.

Đến thập kỷ 80, nhằm ngăn chặn các quyết sách tùy tiện chưa qua sự nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn, Đặng Tiểu Bình đề xuất Khoa học hóa quyết sách, cho phép nêu các ý kiến trái chiều.

Một số chuyên viên cấp cao rời cơ quan nhà nước lập cơ quan nghiên cứu của mình. Năm 2003 Ủy ban Phát triển Cải cách công khai tổ chức mời thầu đề tài nghiên cứu Quy hoạch 5 năm lần thứ X. Tháng 1/2004 Trung ương Đảng chỉ thị: Phải làm cho giới khoa học xã hội trở thành “Kho tư tưởng” và Think Tank của Đảng và chính phủ.

Hàng nghìn cơ quan nghiên cứu bắt đầu tổ chức nghiên cứu phản biện. Một số đoàn thể tư vấn kiểu Think Tank xuất hiện tuy còn rất khó hoạt động.

Giới học giả Trung Quốc nhận xét nước họ xuất siêu hàng hóa nhưng lại nhập siêu về tư tưởng. Đó là do thể chế chính trị hiện hành không tạo điều kiện sinh ra những nhà tư tưởng, nhà chính trị học có thể đề xuất các ý tưởng, lý thuyết mới lạ làm cả thế giới quan tâm như Huntington, Toffler, Paul Kennedy, Joseph Nye… Một học giả viết: sau Tôn Trung Sơn, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chưa có nhà tư tưởng nào. Trung tướng Lưu Á Châu chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc nói thẳng: “Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel nói Trung Quốc không có triết học. Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào.”

Kiều Lương tác giả sách “Siêu hạn chiến” nêu thí dụ: khi Anh Quốc dự định trả lại Hong Kong cho Trung Quốc, nhiều chính khách phương Tây lo nước này thống nhất sẽ lớn mạnh tới mức đe dọa thế giới. Bà Thủ tướng Thatcher an ủi: “Các bạn chẳng cần e ngại Trung Quốc, vì trong vài chục năm tới, thậm chí cả trăm năm, nước này không thể mang lại cho thế giới bất cứ một tư tưởng mới nào cả.”

Trung Quốc hơn phương Tây ở chỗ có ưu thế “tập trung lực lượng làm việc lớn” nhưng nếu quyết sách không khoa học hóa thì sự “tập trung lực lượng” sẽ chỉ mang lại thiệt hại rất lớn; bởi vậy cần có các cơ quan nghiên cứu chính sách có năng lực chuyên môn cao, dám nêu ra “chính sách dự bị” cho nhà nước. Vì thế Think Tank còn được gọi là “chính phủ trong bóng tối”.

Do không tận dụng được trí tuệ xã hội, tỷ lệ sai lầm quyết sách của Trung Quốc cao gấp 6 lần các nước phát triển, giá thành chế tạo hàng hóa cao gấp 8 lần ở Nhật, nghĩa là Trung Quốc đang khai thác tài nguyên tổ tiên để lại với tốc độ tàn phá thiên nhiên.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này khiến lãnh đạo Trung Quốc càng không hài lòng với hoạt động của hệ thống cơ quan nghiên cứu chính sách. Hệ thống này thiếu cả 3 tiêu chuẩn chính của Think Tank: tính độc lập tư tưởng, tính sáng tạo và sức quảng bá ảnh hưởng của mình.

Trong tình hình đó, Think Tank – nơi nghiên cứu đề xuất các chủ trương chính sách chiến lược lớn nhỏ của quốc gia, lò ấp các nhà chiến lược, nhà tư tưởng – bắt đầu được đặc biệt coi trọng.

Hệ thống Think Tank hiện có

Trung Quốc hiện nay đã hình thành một hệ thống Think Tank quy mô lớn, chủ yếu gồm:

1. Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (China Center for International Economic Exchanges, CCIEE): cơ quan dịch vụ tư vấn, nghiên cứu và giao lưu kinh tế quốc tế, do chính phủ duyệt thành lập, nơi tập hợp các nhân tài cấp cao về lĩnh vực nghiên cứu kinh tế và có quan hệ rộng trong lĩnh vực kinh tế. CCIEE do Ủy ban Phát triển và cải cách Nhà nước chủ trì, đăng ký tại Bộ Dân chính Trung Quốc. CCIEE được gọi là “Siêu Think Tank”, vì được ưu tiên cấp kinh phí và tập hợp toàn các “siêu” chuyên gia.

2. Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: cơ quan học thuật cao nhất nghiên cứu về triết học và khoa học xã hội; là Think Tank có quy mô lớn nhất Trung Quốc

3. Trung tâm Nghiên cứu phát triển thuộc chính phủ Trung Quốc: cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách, trực thuộc chính phủ Trung Quốc

4. Viện Khoa học Trung Quốc: cơ quan học thuật hàn lâm cao nhất về KHKT của nhà nước

5. Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc: cơ quan nghiên cứu cấp cao lý luận quân sự, trung tâm nghiên cứu học thuật quân sự.

6. Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Trung Quốc: nghiên cứu tổng hợp các vấn đề quan hệ quốc tế.

7. Viện Nghiên cứu Quan hệ quốc tế hiện đại: nghiên cứu các vấn đề quốc tế tổng hợp.

8. Ủy ban Toàn quốc Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương của Trung Quốc.

9. Hội Khoa học kỹ thuật Trung Quốc.

10. Hội Chiến lược quốc tế Trung Quốc: đoàn thể học thuật dân lập nghiên cứu vấn đề chiến lược có tính toàn quốc.

11. Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Thượng Hải: một trong các Think Tank chủ yếu nghiên cứu chiến lược và chính sách ngoại giao.

Ngoài ra tại Đài Loan thuộc Trung Quốc còn có:

1. Think Tank Quốc Dân Đảng: chính thức thành lập 7/2000, gốc là Quỹ Nghiên cứu chính sách quốc gia pháp nhân tài đoàn; đương kim Chủ tịch Quốc dân đảng Liên Chiến làm chủ tịch Hội đồng quản trị; thành phần gồm nhiều quan chức chính quyền đã nghỉ hưu, các chuyên viên, học giả.

2. Trung tâm Đài Loan: thành lập 12/2001, gồm các đại gia giới học thuật và kinh doanh, các học giả ở nước ngoài về Đài Loan làm việc và quan chức chính quyền.

Nội địa Trung Quốc hiện có hơn 2500 cơ quan nghiên cứu chính sách, với 35 nghìn cán bộ chuyên trách, 270 nghìn nhân viên làm việc. Trong đó có 2000 cơ quan “kiểu Think Tank”, chủ yếu nghiên cứu chính sách, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ chính phủ. Trong số này Trường Đảng Trung ương, Viện Khoa học xã hội, Trung tâm Nghiên cứu phát triển, Học viện Hành chính nhà nước thường được gọi là các Think Tank nhà nước.

Viện Khoa học xã hội có 50 viện nghiên cứu, 260 phòng nghiên cứu, 4000 cán bộ chuyên trách. Quy mô như vậy vượt xa các Think Tank ở phương Tây (toàn bộ Think Tank cả nước Anh có 1000 cán bộ, cả châu Âu có chưa tới 5000 người).

Một số vấn đề của hệ thống Think Tank ở Trung Quốc

Nhà kinh tế nổi tiếng Lưu Tôn Nghĩa, phó Tổng thư ký CCIEE, nguyên Hiệu trưởng ĐH Trung văn Hong Kong nhận xét: Trung Quốc có hơn 2000 Think Tank nhưng uy tín và ảnh hưởng chưa tương xứng với sức mạnh kinh tế đất nước, lực lượng chưa bằng một Think Tank lớn ở Mỹ như Công ty Rand hoặc Viện Brookings.

Doanh nhân nổi tiếng Ninh Cao Ninh nói: bao giờ các văn phòng luật, văn phòng kế toán, công ty tư vấn và Think Tank của Trung Quốc có thể ra nước ngoài kiếm tiền thì Trung Quốc mới trở thành nước lớn; hiện nay chúng ta vẫn phải dựa vào các Think Tank nước ngoài.

Tôn Triết Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ Trung Quốc-Mỹ thuộc ĐH Thanh Hoa nhận xét: tác dụng của các Think Tank ngoại giao Trung Quốc là “lạc hậu”, chưa phối hợp ăn ý giữa cán bộ nhà nước với giới học giả, điều này có phần do chưa xây dựng được chế độ tư vấn chính quy.

Một số học giả Trung Quốc nhận định nước họ chưa có Think Tank với ý nghĩa thực sự. Trung Quốc có hơn 2000 Think Tank (Mỹ có 1777), nhưng báo cáo của ĐH Pennsylvania chỉ thừa nhận có 74; nghĩa là phần lớn bị người Mỹ bỏ qua. Bắc Kinh, Thượng Hải không có tên trên bản đồ Think Tank thế giới. Mặt khác, các Think Tank Trung Quốc chỉ lo nghiên cứu phát hiện và giải quyết vấn đề trước mắt, chưa có nghiên cứu nhìn xa trông rộng, dự kiến xu hướng phát triển thời đại, chưa sánh được với các Think Tank hàng đầu trên thế giới, họ nghiên cứu cả những vấn đề sau đây 30-50 thậm chí 100 năm.

Số lượng Think Tank nhiều nhưng 95% ăn lương nhà nước, cán bộ do nhà nước bổ nhiệm; chỉ có 5% thuộc diện dân lập, quy mô rất nhỏ. Think Tank dân lập lớn nhất chỉ có 20 cán bộ, kinh phí hàng năm chừng 2 triệu RMB (Nhân Dân Tệ; 1 RMB tương đương 0,147 USD). Các cơ quan nghiên cứu chính sách hiện nay thường bị dư luận chê trách là hay đưa ra dự báo sai (thí dụ dự báo giá dầu, chỉ số CPI …) và không có tiếng nói trước các vụ việc lớn (như vụ sữa Tam Lộc…) do đó họ không có ảnh hưởng trong dư luận.

Vì phần lớn Think Tank là cơ quan nhà nước nên họ không đại diện cho trí tuệ công chúng, chỉ là cơ quan tuyên truyền và giải thích chính sách nhà nước, rất khó đề ra các ý kiến có tính phản biện đích thực; trong khi tính trung lập và độc lập mới là các yếu tố chủ yếu quyết định sức sống và do đó quyết định nguồn lực của các Think Tank.

Vương Thông Tấn Phó Hội trưởng Hội Nghiên cứu nhân tài Trung Quốc nói: “Rất nhiều Think Tank của chúng ta chỉ có tác dụng chứng minh tính đúng đắn của chính sách.”

Khó khăn lớn nhất của các Think Tank là thiếu nguồn vốn hoạt động, nhất là loại dân lập. Một giám đốc Think Tank dân lập nói: “Nghiên cứu làm cái quạt điện còn có thể bán lấy chút tiền. Chúng tôi nghiên cứu sửa hiến pháp, sửa chính sách nhà nước thì ai bỏ tiền cho chúng tôi? Nhất là việc nghiên cứu các vấn đề vĩ mô, chính quyền chưa chắc đã thích anh làm chuyện ấy.” Rốt cuộc Think Tank ông này 20 năm qua phải kiếm kế sinh nhai bằng việc tư vấn cho các doanh nghiệp cần xin phá sản.

Think Tank “sang trọng nhất” là CCIEE cũng gặp khó khăn về vốn, tuy mục tiêu hùn vốn chỉ có 500 triệu RMB. Trong khi đó các Think Tank tại phương Tây đều nhận được tài trợ của nhiều doanh nghiệp, cá nhân, quan chức, và cả của nhà nước; bởi lẽ họ thấy các Think Tank rất hữu ích với họ. Thí dụ ở Mỹ, riêng một Quỹ Rockefeller mỗi năm tài trợ hơn 60 triệu USD cho Viện Broockings.

Tôn Triết cho biết nguồn tài chính của các Think Tank nghiên cứu ngoại giao chưa đa dạng, phần lớn dựa ngân sách của cơ quan chủ quản, mà các cơ quan này thường coi nghiên cứu là “nghề phụ”, Think Tank bị coi nhẹ nên chưa được rót đủ kinh phí, thậm chí có Think Tank vì thế phải nghỉ việc. Ngay cả Quỹ Nghiên cứu vấn đề quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc thành lập đã hơn 10 năm, tuy có tài trợ từ bên ngoài mà năm nào cũng thiếu kinh phí. Do đó các Think Tank thiếu sức thu hút học giả trẻ. Người trẻ nhất của một cơ quan nghiên cứu nổi tiếng nọ đã 35 tuổi, trong khi cơ quan cần lớp thanh niên tuổi 20 tuổi vừa ra trường đang tràn đầy nhiệt tình nghiên cứu, khám phá.

Xã hội Trung Quốc chưa có văn hóa quyên tặng cho Think Tank, qua đó bảo đảm tính độc lập trong nghiên cứu. Các doanh nghiệp khi làm hoạt động công ích thường chỉ quyên tặng phần cứng (như xây dựng nhà làm việc) mà chưa quyên tặng kinh phí cho việc nghiên cứu chính sách công.

Đặng Duật Văn phó Tổng biên tập Thời báo Học tập của Trường Đảng Trung ương nói: “Trung Quốc có nhiều Think Tank nhưng do các vấn đề về cơ chế, nguồn vốn và hệ thống đánh giá nên chưa có thành tích nổi bật trên sân khấu quốc tế, khó có thể đối thoại với các Think Tank hàng đầu thế giới.”

Dư luận Trung Quốc cho rằng nước này rất cần các Think Tank đa nguyên và nhiều loại hình. Vương Thông Tấn nói: “Think Tank dùng đầu óc để làm ra lợi ích có hiệu quả; một xã hội càng phát triển thì càng cần nhiều Think Tank…. Khi các vấn đề càng phức tạp thì càng cần các Think Tank có lập trường khách quan. Mỗi Think Tank phải có lập trường riêng nhưng có thể “hòa mà bất đồng”, được bảo lưu quan điểm của mình, nêu ra các số liệu và kiến nghị khác nhau.”

Khác với phương Tây, ở Trung Quốc các đại biểu quốc hội và đại biểu Chính Hiệp (tương đương Trung ương Mặt trận Tổ quốc ở Việt Nam) đều không là người chuyên trách và không do dân bầu, vì thế Trung Quốc càng đặc biệt cần có một bên thứ 3 có tính độc lập, tính dân gian và tính trung lập về lợi ích – đó là các Think Tank dân lập, nhờ thế có thể tạo ra được sự phát triển thực sự cho đất nước. Các nước phát triển coi Think Tank là thế lực (quyền lực) lớn thứ tư sau các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Khoa học hóa quyết sách không chỉ là nghe ý kiến dân, vả lại không phải ý kiến đa số là đúng, mà phải nghe ý kiến của các Kho trí tuệ độc lập với nhà nước tiến hành nghiên cứu, phản biện chính sách theo một quy trình có lô-gic chặt chẽ. Nói theo ngôn từ Trung Quốc thì Think Tank phải trở thành “Lãnh tụ ý kiến” của công chúng, phản ánh lên lãnh đạo các ý kiến, chính sách đã qua nghiên cứu công phu nhằm đạt mục tiêu tác động tới quyết sách của chính phủ, tới dư luận công chúng.

Muốn phát triển hệ thống Think Tank cần có 2 điều kiện khách quan: – từ trên xuống dưới hình thành bầu không khí tôn trọng các quyết sách có tính độc lập về chuyên nghiệp; – toàn xã hội phải có một không gian công cộng (tức dư luận) tương đối cởi mở khuyến khích nhiều người tham dự quyết sách.

Hiện nay môi trường xã hội Trung Quốc chưa thuận lợi cho việc phát triển các Think Tank dân lập. Thí dụ, các Think Tank này vốn là tổ chức phi lợi nhuận, nhưng chính sách nhà nước lại yêu cầu họ phải đăng ký dưới hình thức doanh nghiệp kiếm lời, hoặc “núp bóng” một cơ quan nhà nước nào đó. Các Think Tank hoạt động trong môi trường chưa thuận lợi. Thói quen hàng nghìn năm vẫn áp đảo, cái gì cấp trên đã quyết, dù sai đi nữa, cũng rất khó góp ý sửa đổi, phản bác.

Vương Lợi Lệ, nghiên cứu viên của CCIEE nhận định: nhiệm vụ chủ yếu của Think Tank là nghiên cứu chính sách; mục tiêu của Think Tank là phải tác động tới quyết sách của chính phủ và tới dư luận; nói cách khác, sức cạnh tranh chính của Think Tank là ở năng lực sáng tạo và sức ảnh hưởng dư luận, chứ không phải là ở quy mô và cấp bậc. Để Think Tank thực sự phát triển trở thành một ngành nghề, cần phải hình thành các cơ chế, môi trường và văn hóa có lợi. Nên khuyến khích lập nhiều kênh góp vốn nhằm bảo đảm các Think Tank giữ được tính độc lập, dân lập và đa nguyên. Các Think Tank cần phát huy ảnh hưởng quốc tế, giành quyền ăn nói trên sân khấu quốc tế.

Xu hướng phát triển hệ thống Think Tank ở Trung Quốc

Trung Quốc đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu (Global Think Tank Summit, 2- 4/7/2009 tại Bắc Kinh) có mặt lãnh đạo 30 Think Tank và nhiều học giả trên toàn thế giới. Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã tới dự.

Việc này chứng tỏ Trung Quốc bắt đầu đặc biệt coi trọng Think Tank. 30 năm qua Trung Quốc mới chỉ tập trung phát triển sức mạnh cứng mà chưa coi trọng sức mạnh mềm – sự đột phá về quan niệm tư tưởng, văn hóa giáo dục, then chốt là sự khoa học hóa, hợp lý hóa các quyết sách. Đây là một thiếu sót đáng tiếc. Nếu có nhiều Think Tank dân lập thực sự độc lập và chất lượng cao, thì chính phủ sẽ tập trung được trí tuệ của nhiều bên, nhiều người, nâng cao được tính khoa học, tính hữu hiệu và tính dân chủ của quyết sách. Cần thực thi quy trình mỗi khi nhà nước cần quyết định một chính sách lớn, đầu tiên các Think Tank phải nghiên cứu và nêu ra, sau đó dư luận tiến hành bàn thảo, Quốc Hội xem xét, nghe báo cáo và chất vấn, cuối cùng chính phủ tiếp thu.

Gần đây đã xuất hiện những tín hiệu khả quan: nhiều cơ quan nhà nước tăng kinh phí nghiên cứu, một số quan chức khi nghỉ hưu lại đến nhận công việc ở trường đại học hoặc viện nghiên cứu, việc này giúp thắt chặt mối quan hệ giữa chính quyền với Think Tank; nhiều Think Tank độc lập đã tiếp nhận nguồn tài trợ của xã hội và doanh nghiệp, qua đó tiến theo hướng trở thành Think Tank hiện đại có ảnh hưởng lớn.

Bước phát triển đáng kể là tháng 3/2009 Thủ tướng Ôn Gia Bảo duyệt thành lập Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (CCIEE), gồm toàn các nhân vật cấp cao. Chủ tịch Ban Chấp hành (BCH) CCIEE là nguyên phó Thủ tướng Tăng Viêm Bồi, ủy viên BCH gồm toàn cán bộ cấp bộ thứ trưởng đương chức hoặc đã nghỉ hưu, giám đốc ngân hàng lớn. Trước mắt đây là một Think Tank cấp cao kiểu mới nửa nhà nước nửa dân lập; sau này sẽ trở thành một Think Tank dân lập, tập hợp đội ngũ chuyên viên cấp cao, tiến hành các nghiên cứu dài hạn, chiến lược, toàn cục, nhằm cung cấp trợ giúp về trí tuệ cho các chính sách công, cung cấp dịch vụ tư vấn cho các vụ kinh doanh xuyên quốc gia.

Nhà nước chỉ cấp cho CCIEE kinh phí thành lập 5 triệu RMB; còn kinh phí hoạt động phải tự lo. CCIEE đã lập quỹ riêng để tạo nguồn vốn đa nguyên, nhằm mục tiêu tạo vốn 500 triệu RMB; hiện quỹ đã tập hợp được 30 doanh nghiệp trung ương, sau này sẽ thu hút doanh nghiệp tư doanh. CCIEE sẽ áp dụng cơ chế vận hành kiểu thị trường như các Think Tank nước ngoài, không dùng tiền nhà nước, như vậy có lợi cho việc duy trì tính độc lập trong nghiên cứu. CCIEE sẽ dẫn đầu phong trào lập các Think Tank dân lập trong cả nước. Dĩ nhiên quá trình này sẽ còn nhiều khó khăn, nhưng đã được khởi động với quyết tâm từ cấp lãnh đạo cao nhất.

Trịnh Tân Lập Phó Tổng thư ký CCIEE nói ban lãnh đạo CCIEE quyết tâm xây dựng CCIEE sao cho có được uy tín và tác động lớn như các Think Tank hàng đầu phương Tây, tức là có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết sách của chính phủ và dư luận công chúng.

Thành lập CCIEE là một sự kiện lớn chứng tỏ Trung Quốc quyết đẩy mạnh tiến trình tăng cường vai trò của các tổ chức dân lập trong việc tham dự quyết định mọi chủ trương chính sách của nhà nước, nhằm thực hiện phương châm Khoa học hóa quyết sách.

Nguyễn Hải Hoành

Vì sao người Nhật đoạt nhiều giải Nobel?

Năm 2010 Nhật Bản lại có thêm hai nhà khoa học được tặng giải Nobel khoa học: Ei-ichi Negishi và Akira Suzuki, giải Nobel Hóa học. Kể từ người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel là Hideki Yukawa giáo sư Đại học Kyoto (giải Nobel Vật lý 1949) tới nay, nước Nhật đã có tổng cộng 18 người được tặng giải thưởng cao quý này thuộc các lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học và y học, văn học, trở thành quốc gia đoạt nhiều giải Nobel nhất châu Á.

Vì sao người Nhật được tặng nhiều giải Nobel như vậy?

Ở đây có nhiều nguyên nhân, nhưng nếu xét từ sự thực hầu hết 18 chủ nhân giải Nobel này đều là giáo sư đại học thì có thể thấy trư ờng đại học là m ột yếu tố quan trọng . Chắc hẳn nhà trường đại học xứ sở Mặt Trời Mọc này phải có những đặc điểm gì đó góp phần tạo điều kiện sản sinh các nhà khoa học tài giỏi.

Giới quan sát cho rằng, trước hết đó là do nhiều năm qua các trường đại học Nhật Bản đều coi tự do học thuật là nguyên tắc căn bản trong công tác giảng dạy và nghiên cứu.

Thực chất của tự do học thuật là tự do tìm kiếm chân lý, tự do tiến hành các hoạt động khám phá, thăm dò, nghiên cứu. Điều 23 Hiến pháp Nhật Bản ghi rõ: “Hiến pháp này bảo đảm tự do học thuật”. Điều 2 của Luật cơ bản giáo dục nước này cũng quy định : để thực hiện các mục tiêu giáo dục, nhất thiết phải “Tôn trọng tự do học thuật”.

Trong thực tế, các trường đại học Nhật Bản đã kiên trì nguyên tắc tự do học thuật. Thí dụ ĐH Kyoto là nơi sản sinh các chủ nhân giải Nobel vật lý, hóa học, sinh học và y học đầu tiên của Nhật Bản; tại đây từng xuất hiện nhiều vụ tranh đấu cho tự do học thuật, thí dụ vụ giáo sư Kiyoshi Inoue có quan điểm lịch sử trái ngược với Chính phủ Nhật nhưng sách của ông vẫn được xuất bản.

Thứ hai, các trường Đại học Nhật Bản thực hiện quyền tự trị đại học ở mức rất cao. Tự trị đại học là nói nhà trường có quyền loại bỏ tất cả mọi sự can thiệp của các thế lực chính trị, tôn giáo, hành chính đối với hoạt động của nhà trường; các trường đại học hành xử quyền tự do giảng dạy và nghiên cứu dựa theo ý chí của giáo viên, cán bộ và sinh viên nhà trường.

Thực ra, mục đích của tự trị đại học là nhằm bảo đảm tự do học thuật của nhà trường. Điều 14 Luật cơ bản giáo dục quy định: nhà trường “không được phép tiến hành các hoạt động giáo dục chính trị và các hoạt động chính trị khác nhằm ủng hộ hoặc phản đối một chính đảng nào đó”. Điều 16 Luật này còn quy định rõ “giáo dục không tiếp thụ sự chi phối không chính đáng”.

Lấy thí dụ Sự kiện Takigawa (tiếng Nhật: Takigawa jiken) xảy ra năm 1933 tại Đại học Kyoto: ông Takigawa Yukitoki [1], giáo sư bộ môn Luật của trường này phát biểu quan điểm “Phạm tội là do chế độ nhà nước không tốt gây ra”, vì thế bị kết luận là có ngôn luận “chống đối nhà nước”, dẫn đến hậu quả bị Bộ Giáo dục kỷ luật đình chỉ chức vụ. Tất cả các giáo sư (cộng 31 người) và toàn thể sinh viên bộ môn Luật trường này đều tập thể từ chức và bỏ học để tỏ ý phản đối việc nhà nước vi phạm nguyên tắc tự trị đại học.

Ở đây, điều đáng chú ý là phần lớn các giáo sư từ chức đều không tán thành quan điểm của giáo sư Takigawa, nhưng vì để bảo vệ tự do học thuật họ sẵn sàng từ bỏ địa vị cùng mức thu nhập cao của chức danh giáo sư được cả xã hội ngưỡng mộ (lương giáo sư ĐH Kyoto hồi ấy bằng khoảng 100 lần lương sinh viên mới ra trường đi làm). Xin nhớ rằng thập niên 30, nước Nhật do thế lực quân phiệt phát xít cai trị đang ráo riết chuẩn bị xâm lược Trung Quốc và Mông Cổ, chế độ chính trị trong nước rất hà khắc, nghiêm cấm mọi ngôn luận và hành động chống Nhà nước. Thế mà các giáo sư và sinh viên Nhật vẫn dám công khai chống lại quyết định của Bộ Giáo dục.

Thứ ba, các trường ĐH Nhật Bản áp dụng chế độ dân chủ tương đối triệt để – giáo sư quản lý nhà trường, giáo sư phụ trách công tác giảng dạy, giáo sư tham gia bàn luận mọi công việc nhà trường.

Điều 93 Luật giáo dục nhà trường quy định: tại trường đại học, các bộ môn đều có Hội Giáo sư với thành phần là toàn thể giáo sư, phó giáo sư, giảng viên; Hội này vừa là đơn vị cơ sở quyết định mọi chủ trương của nhà trường lại vừa là cơ quan quyết sách cuối cùng các công việc lớn của bộ môn.

Thí dụ, tại trường ĐH Kyoto, dưới Hội Giáo sư bộ môn giáo dục có các tiểu ban soạn thảo chế độ, tiểu ban ngân sách, tiểu ban học vụ, tiểu ban giáo vụ, tiểu ban tự đánh giá. Các tiểu ban này xem xét và quyết định tối hậu mọi công việc thường ngày về giáo vụ, học vụ, nghiên cứu, tài chính, nhân sự. Nói cách khác, tại các trường ĐH Nhật Bản, giáo viên chủ yếu làm công việc giáo dục, nghiên cứu; viên chức chủ yếu làm các công việc phục vụ giáo dục và nghiên cứu. Trong việc quản lý nhà trường, giáo viên phụ trách quy hoạch và quyết sách, còn viên chức thì chịu trách nhiệm thi hành. Chế độ này vừa tận dụng được tri thức chuyên môn, trí tuệ và năng lực của các giáo sư với tư cách là chuyên gia trong lĩnh vực của họ, lại vừa phát huy tốt tính chủ động và tính tích cực của giáo sư trên các mặt giáo dục, nghiên cứu, ra quyết sách.

Ngoài ra, giáo sư đại học ở Nhật có uy tín và danh vọng cao, lương bổng hậu – điều đó tạo điều kiện thuận lợi để họ toàn tâm toàn ý làm công tác giảng dạy, nghiên cứu.

Thí dụ, theo kết quả điều tra năm 1995 của SSM (cơ quan chuyên điều tra các tầng lớp xã hội và sự chuyển dịch của xã hội), điểm số về uy tín danh vọng nghề nghiệp của giáo sư đại học Nhật Bản là 83,5, chỉ kém điểm số của thẩm phán và luật sư (87,3), xếp thứ hai trong tổng số 187 nghề nghiệp ở Nhật Bản, bỏ xa điểm số của các cán bộ quản lý cấp cao doanh nghiệp (73,3), viên chức cấp cao (70,5), diễn viên (58,2) và cảnh sát (54,2).

Về thu nhập, kết quả “Điều tra thống kê cơ bản cơ cấu lương” của Bộ Lao động Nhật Bản cho thấy năm 2008, lương bình quân hàng năm của giáo sư đại học Nhật Bản bằng khoảng 11,22 triệu đồng Yen, vượt xa lương viên chức nhà nước (6,63 triệu Yen), viên chức doanh nghiệp có niêm yết trên thị trường chứng khoán (5,89 triệu) [2].

Tóm lại, tại các trường đại học ở Nhật, bầu không khí nghiên cứu tự do thoải mái; chế độ giáo dục, nghiên cứu và quản lý lấy giáo viên làm chủ thể; chế độ thu nhập và danh vọng cao dành cho giáo viên – tất cả những cái đó là nhân tố quan trọng làm cho Nhật Bản trở thành quốc gia châu Á đoạt nhiều giải Nobel nhất. Để so sánh, có thể thấy Trung Quốc với số dân gấp 10 lần Nhật, 61 năm nay chưa có công dân nào được tặng giải Nobel.
Nguyên Hải

Advertisement

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.