Blog nguyendinhdong Hôm nay bình tĩnh ngồi xem lại các trang tin về cuộc “tụ tập tự phát” của “một nhóm nhỏ” (sơ sơ chừng ngàn người) (theo lời TTXVN) thì thấy BUỒN.
Filed under: Văn hóa | Leave a Comment »
Blog nguyendinhdong Hôm nay bình tĩnh ngồi xem lại các trang tin về cuộc “tụ tập tự phát” của “một nhóm nhỏ” (sơ sơ chừng ngàn người) (theo lời TTXVN) thì thấy BUỒN.
Filed under: Văn hóa | Leave a Comment »
Nước Mỹ mỗi năm bị mất khoảng 588 tỉ USD tương đương 5% GDP do tình trạng người lao động Mỹ không tập trung hoàn thành dứt điểm từng công việc một mà cứ đang làm dở việc A lại ngừng lại để suy nghĩ về việc B hay xử lý một việc C chen ngang. Đó là số liệu do Basex, công ty nghiên cứu công nghệ tin học ở New York đưa ra cuối năm 2005. 5 nguyên nhân gây đứt quãng công việc xếp theo thứ tự quan trọng giảm dần là: – Một đồng nghiệp đến nói chuyện với bạn. – Bạn bị gọi đi khỏi vị trí làm việc của mình (hoặc tự nguyện đi khỏi). – Bạn đọc và trả lời thư điện tử. – Bạn chuyển sang làm một công việc khác trên máy tính, ví dụ đang soạn văn bản lại nảy ra ý lướt web. – Bạn sử dụng điện thoại (nghe, gọi, đọc tin nhắn và soạn tin nhắn gửi đi). Điều đáng chú ý là già nửa số nguyên nhân lại xuất phát từ việc sử dụng những thành tựu của tin học và viễn thông! Xử lý cái việc chen ngang xong, bạn phải mất một khoảng thời gian kha khá mới bắt tâm trí thực sự quay lại được với cái công việc vừa bị đứt quãng. Khoảng thời gian “sửa soạn quay lại” đó chính là sự lãng phí. Và cái phí xao nhãng (cost of not paying attention) này thật sự khổng lồ. Ở Việt Nam ta, cái chi phí xao nhãng này nếu chỉ tính ở mức 2% GDP cũng đã lên đến 1 tỉ USD mỗi năm. Ngày nay ở công sở không mấy ai không dùng ĐTDĐ, rất nhiều người dùng tới 2 chiếc. Nếu văn phòng được trang bị internet mạng LAN thì mỗi nhân viên đều có một đến vài hộp thư điện tử, lại có internet messenger để gửi và nhận tin ngắn tức thì, chưa kể rằng mỗi người còn có một điện thoại cố định kéo đến tận bàn. Thử kiểm đếm xem mỗi ngày bạn đã mất bao nhiêu thời gian để trả lời điện thoại, trả lời tin nhắn điện thoại, trả lời e-mail, trả lời tin nhắn internet messenger? Ngoại trừ những cuộc điện thoại, tin nhắn hay e-mail thực sự quan trọng và cần phải xử lý ngay để phục vụ công việc cấp bách ra, những cuộc không-có-cũng-không-sao và bao-giờ-xử-lý-cũng-được còn lại đã ngốn của bạn mất bao nhiêu thời gian? Và quan trọng hơn nhiều là bạn phải mất bao nhiêu thời gian để bắt tâm trí quay lại tiếp tục cái công việc vừa bị gián đoạn kia? Ở Việt Nam rồi đây sẽ có thống kê, còn ở Mỹ thì con số đó là 2,1 giờ/người/ngày, tương đương với 28% quỹ thời gian lao động của ngày (đối với nhân viên công nghệ thông tin làm việc trong các công ty quản lý đầu tư được điều tra chọn mẫu). Thống kê của Đại học California cũng cho thấy trung bình cứ mất 11 phút để giải quyết một công việc chen ngang thì phải mất tới 25 phút mới bắt tâm trí quay trở lại được với cái công việc chính vừa bị gián đoạn. Còn nghiên cứu của Microsoft thì cho biết lúc bắt đầu và lúc sắp hoàn tất một công việc là những thời điểm mà một công việc chen ngang sẽ gây hậu quả lớn nhất. Khi công việc vừa bắt đầu, cái việc chen ngang sẽ làm bạn quên mất mục tiêu đã đặt ra. Còn khi công việc sắp hoàn tất, nó sẽ bứt bạn ra khỏi việc ngẫm nghĩ để chuẩn bị cho những việc sẽ làm tiếp theo. Điều đáng ngạc nhiên nhất là ngay ở Mỹ, đất nước có rất nhiều nghiên cứu về kỹ năng sống và làm việc, cũng rất ít người áp dụng những biện pháp sơ đẳng nhất để công việc khỏi bị gián đoạn. Có tới 55% số người được hỏi nói rằng họ mở e-mail ngay khi nó tới hoặc ngay sau đó, bất kể mình đang bận đến mức nào. Hầu hết đều không dùng tới biện pháp tắt tín hiệu màn hình báo thư tới. Tức là hầu hết đều để cho mình bị những cỗ máy giết thời gian cám dỗ và sa ngã vào đó mà không hề có biện pháp chủ động phòng ngừa. Thấm thía mặt trái của việc lạm dụng công nghệ thông tin và viễn thông, ngày càng có nhiều người, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo, áp dụng nguyên tắc tắt hết ĐTDĐ, iPod, internet messenger; không đọc và gửi e-mail hay duyệt web v.v… khi đang phải tập trung giải quyết một công việc nào đó. Còn bạn thì sao? Bạn có thấy rằng từ nay mình cần phải rèn luyện tác phong chỉ làm một việc trong một thời điểm và hạn chế tới mức thấp nhất việc sử dụng ĐTDĐ, điện thoại bàn, e-mail, internet messenger, và cả việc lang thang không mục đích trên internet nữa, hay không?
Làm việc theo nhóm là phương pháp mới nhất nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên
7 kỹ năng được trình bày sau đây sẽ dùng trong suốt quá trình nghiên cứu mức độ “ăn rơ” của các thành viên trong nhóm:
1. Lắng nghe: Đây là một trong những kỹ năng quan trọng nhất. Các thành viên trong nhóm phải biết lắng nghe ý kiến của nhau. Kỹ năng này phản ánh sự tôn trọng (hay xây dựng) ý kiến giữa các thành viên.
2. Chất vấn: Qua cách thức mỗi người đặt câu hỏi, chúng ta có thể nhận biết mức độ tác động lẫn nhau, khả năng thảo luận, đưa ra vấn đề cho các thành viên khác của họ.
3. Thuyết phục: Các thành viên phải trao đổi, suy xét những ý tưởng đã đưa ra. Đồng thời họ cần biết tự bảo vệ và thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình.
4. Tôn trọng: Mỗi thành viên trong nhóm phải tôn trọng ý kiến của những người khác thể hiện qua việc động viên, hỗ trợ nhau, nỗ lực biến chúng thành hiện thực.
5. Trợ giúp: Các thành viên phải biết giúp đỡ nhau.
6. Sẻ chia: Các thành viên đưa ra ý kiến và tường thuật cách họ nghĩ ra nó cho nhau.
7. Chung sức: Mỗi thành viên phải đóng góp trí lực cùng nhau thực hiện kế hoạch đã đề ra.
Theo tiến sĩ M.Ballot thuộc trung tâm tư vấn việc làm ở Massachuset, có 15 tiêu chuẩn để đánh giá khả năng làm việc theo nhóm.
1. Lòng tin: Bạn có tin tưởng vào khả năng hoàn thành công việc của đồng nghiệp không?
2. Bình tĩnh: Trong thời gian vô cùng gấp rút, bạn có khả năng giải quyết tình huống một cách bình tĩnh không?
3. Tôn trọng: Ý kiến của đồng nghiệp có được bạn quan tâm không? Bạn có rút ra được những ý tưởng của bản thân từ những ý kiến đó?
4. Hợp tác: Khả năng hoà nhập của bạn như thế nào với đồng nghiệp từ những lĩnh vực, khả năng, thậm chí quốc tịch khác nhau?
5. Tổ chức: Bàn làm việc của bạn có gọn gàng không? Bạn có làm việc theo kế hoạch đã vạch?
6. Khả năng làm việc dưới áp lực: Bạn có phát huy được tốt nhất khả năng khi làm việc dưới áp lực không?
7. Khả năng giao tiếp: Bạn thích tiếp xúc với nhiều người? Bạn luôn luôn thu hút được sự chú ý của mọi người trong mọi câu chuyện.
8. Khả năng kiểm soát tình huống: Khi một tình huống ngoài dự kiến xảy ra, bạn luôn luôn đưa ra được những bước cần thiết để giải quyết.
9. Khả năng thuyết phục: Bạn có đưa ra được những lý lẽ thích hợp để bảo vệ ý kiến của mình?
10. Lạc quan: Bạn có luôn tin rằng mình có khả năng tìm ra giải pháp khi “bị dồn đến chân tường”?
11. Trách nhiệm: Bạn luôn sẵn sàng tiên phong cho việc chung?
12. Kiên trì: Khi công việc đình trệ bạn sẽ cố gắng tiếp tục được bao lâu?
13. Quyết tâm: Bạn sẽ phản ứng như thế nào khi kết quả không được như mong muốn? Từ bỏ hay tìm một hướng giải quyết khác.
14. Nhạy bén: Bạn có dự tính được những tình huống khác nhau có thể xảy ra trong công việc? Bạn có khả năng giải quyết linh hoạt những tình huống đó không?
15. Lắng nghe: Bạn không ngắt lời đồng nghiệp khi họ đang muốn đưa ra ý kiến? Bạn có luôn khuyến khích mọi người đưa ra ý kiến của riêng mình?
5 Kỹ năng giao tiếp thiết yếu đối với các chủ doanh nghiệp
Kĩ năng nói một cách hiệu quả không còn đơn thuần chỉ là một điều “có thì càng hay” nữa – nó đã thực sự là một kĩ năng không thể thiếu đối với những người thành công và đặc biệt là đối với các chủ doanh nghiệp thành đạt. Khả năng tổ chức lãnh đạo các cuộc họp tốt ra sao sẽ quyết định việc ai sẽ làm theo bạn và họ sẽ thu được điều gì – tiêu phí thời gian hay thu được lợi nhuận. Là chủ doanh nghiệp, bạn sẽ phải phân xử như một trọng tài, tuy luôn bị chê trách nhưng lại chẳng được lợi lộc gì. Chúng ta điều hiểu rõ chính những ai có khả năng gây ấn tượng mạnh đối với những khách hàng tiềm năng của mình – chứ không phải người sáng sủa nhất hay có năng lực nhất – sẽ là những người đi đầu trong vấn đề này.
Kĩ năng 1: Nói Kĩ năng nói không còn chỉ là một “điểm cộng” trong giới kinh doanh-nó đã trở thành một yêu cầu thiết yếu. Vị trí của một người trong công ty càng cao thì kĩ năng này lại càng trở nên cần thiết. Ngày nay, nói trước công chúng được xem như một tiêu chuẩn để đánh giá các nhà điều hành cao cấp. Tuy nhiên, ngay cả khi bạn không phải là một nhà điều hành cao cấp đứng diễn giải về một cuộc khủng hoảng trước các nhà quản lí hay các nhà đầu tư, bạn cũng sẽ vẫn thường xuyên phải nói trước các đồng nghiệp của mình về những nhiệm vụ hàng ngày của bản thân. Nếu bạn là một chủ doanh nghiệp nhỏ thì có thể bạn sẽ phải nói để nuôi sống bản thân – nói một cách khác – hàng ngày, bạn sẽ phải nói chuyện với các khách hàng để bán được các sản phẩm hay dịch vụ của mình. Sự thành bại trong các cuộc nói chuyện luôn có liên quan trực tiếp đến điểm cốt yếu của bạn. Chúng ta điều hiểu rõ chính những ai có khả năng gây ấn tượng mạnh đối với những khách hàng tiềm năng của mình – chứ không phải người sáng sủa nhất hay có năng lực nhất – sẽ là những người đi đầu trong vấn đề này. Những người có khả năng nói tốt thường được đánh giá là thông minh hơn, có uy lực hơn và sẽ được kính nể hơn so với những người khác. Ngoài môi trường kinh doanh bạn cũng sẽ thường xuyên có cơ hội khai thác kĩ năng nói của mình – đó có thể là tại các câu lạc bộ gây quỹ, các vấn đề liên quan đến chính trị, hay tại các buổi liên hoan chia tay đồng nghiệp và bè bạn, hoặc trong buổi phát biểu thay mặt cho các tổ chức phi lợi nhuận hoặc trong các vụ kiện. Kĩ năng nói một cách hiệu quả không còn đơn thuần chỉ là một điều “có thì càng hay” nữa – nó đã thực sự là một kĩ năng không thể thiếu đối với những người thành công và đặc biệt là đối với các chủ doanh nghiệp thành đạt.
Kĩ năng 2: Nghe Việc nghe có thể quyết định việc bán hay không bán đươc hàng, có được thêm hay mất đi một khách hàng, khích lệ hay làm nản lòng các đồng nghiệp, nối lại hay phá huỷ một mối quan hệ công việc. Không chỉ đơn giản như một trạng thái thụ động của con người, kĩ năng nghe còn là yếu tố quyết định sự thành bại của các chủ doanh nghiệp hay nhà quản lí trong các hoạt động kinh doanh. Plutarch đã từng nói: “Hãy học cách lắng nghe và bạn sẽ thu được rất nhiều từ những kẻ không biết cách ăn nói”.
Kĩ năng 3: Viết Sớm hay muộn, mọi thứ quan trọng đều sẽ phải được viết ra. Tuy nhiên một điều không may là đối với một số các chủ doanh nghiệp thì hầu hết những bài viết gai góc nhất-hay ít nhất là các bản thảo của những người khác đang chờ soát lại -đều dồn cả trên bàn của bạn: đơn đề nghị của những khách hàng lớn, các hợp đồng cung ứng quan trọng, các công ty hợp doanh chiến lược, các tuyên bố về chính sách của công ty, các thông cáo báo chí gửi tới công chúng, thư gửi đến các nhà đầu tư. Bạn sẽ nhận được những gì bạn nói, do vậy cần phải viết một cách rõ ràng, ngắn gọn và chính xác.
Kĩ năng 4: Điều hành một cuộc họp Các cuộc họp có thể giúp cho mọi thứ trở nên ổn thoả song nó cũng có thể ngốn mất 15 tiếng một tuần ngay cả với những ai có khả năng quản lí thời gian tốt nhất. Các chủ doanh nghiệp cần gặp gỡ với các khách hàng của mình để kí các hợp đồng lớn, gặp gỡ các nhà cung cấp để thương lượng về các điều khoản có lợi hơn, gặp gỡ các thành viên trong nhóm để định ra chiến lược mới cho quý hay cho năm sau, điều hành các cuộc họp với ban lãnh đạo để giải quyết các vấn đề phát sinh hàng ngày. Khả năng tổ chức lãnh đạo các cuộc họp tốt ra sao sẽ quyết định việc ai sẽ làm theo bạn và họ sẽ thu được điều gì – tiêu phí thời gian hay thu được lợi nhuận.
Kĩ năng 5: Dàn xếp các xung đột Làm chủ doanh nghiệp tất nhiên là sẽ phải có rất nhiêu xung đột. Nếu không phải là xung đột với khách hàng thì là xung đột nội bộ. Nếu không phải xung đột nội bộ thì lại là xung đột với các chính quyền hoặc cơ quan thanh tra, hoặc với các ban bộ chuyên đấu đá nhau, và xung đột với các cổ đông về các kỳ vọng và biện pháp thực hiện để có lợi nhuận mong muốn. Là chủ doanh nghiệp, bạn sẽ phải phân xử như một trọng tài, tuy luôn bị chê trách nhưng lại chẳng được lợi lộc gì. Nếu trong hành trang của bạn vẫn thiếu các kĩ năng giải để quyết những vấn đề như thế này thì bạn sẽ khó lòng đạt được các kết quả cũng như mục tiêu kinh doanh của mình. Để có thể thu được những kết quả tốt hơn, bạn hãy học cách hoàn thiện những kĩ năng này và sau đó hãy trang bị chúng cho các nhân viên chủ chốt của mình.
Filed under: Giáo dục | Leave a Comment »
Think Tank là gì?
Think Tank là tên gọi một loại hình tổ chức tập họp các chuyên viên nhiều chuyên ngành nhằm nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao … , cuối cùng đưa ra các lý thuyết, sách lược, ý tưởng, giải pháp … có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.
Franklin Collbohm, sáng lập viên công ty RAND (Think Tank xếp hạng thứ 4 ở Mỹ, có 1600 nhân viên), định nghĩa Think Tank là “Nhà máy ý tưởng”, là trung tâm tư tưởng chiến lược dám thách thức và coi thường mọi uy quyền, dám vượt qua mọi trí tuệ hiện có.
Theo định nghĩa chặt chẽ thì Think Tank là tổ chức dân lập, hoạt động độc lập với chính quyền – loại Think Tank này hiện chỉ có tại những nước theo chế độ chính trị đa nguyên. Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định. Các kết quả này thông thường được công bố trên các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông và các hình thức trao đổi thông tin khác nhằm tranh thủ sự tán thành của công chúng và sự chú ý của lãnh đạo quốc gia.
Chức năng chính của Think Tank là: – đề xuất ý tưởng; – giáo dục, hướng dẫn dư luận; – tập hợp nhân tài.
Trong tiếng Anh Think là suy nghĩ, ý nghĩ, ý tưởng, tư tưởng, Tank là cái thùng (bồn, vựa, chậu), còn có nghĩa là xe tăng. Trung Quốc dịch Think Tank là Túi tri thức (“trí nang đoàn”) hoặc Kho trí thức (“trí khố”). Ở ta có người dịch là “Kho Tư tưởng (Ý tưởng)”, “Kho Trí tuệ (Trí thức)”, “Vựa (Bồn) Trí tuệ”, “Nhóm chuyên viên (hoặc Tổ chức) tư vấn”… Nhận thấy tất cả các từ dịch kể trên đều chưa quen với bạn đọc và hơi dài, vả lại hiện chưa có một từ Việt tương đương được nhất trí thừa nhận, cho nên chúng tôi xin tạm dùng Think Tank như một danh từ tiếng Việt (viết hoa, không có số nhiều). Người Nhật cũng dùng nguyên từ Think Tank phiên âm ra tiếng Nhật.
Tình hình Think Tank trên thế giới
Think Tank xuất hiện ở phương Tây đã lâu, nhưng ở Việt Nam thì khái niệm này còn mới lạ, vì thế thiết nghĩ việc giới thiệu về Think Tank là cần thiết.
Theo một báo cáo công bố đầu năm 2009 của Đại học Pennsylvania, kết quả điều tra 169 nước trên thế giới năm 2008 có tổng cộng 5465 Think Tank; trong đó Bắc Mỹ và Tây Âu có 3080 (chiếm 56,35%, riêng Bắc Mỹ có 1872), châu Á có 653 (11,95%), Đông Âu có 514, châu Mỹ La-tinh và vùng Caribe – 538, châu Phi vùng hạ Sahara – 424, Trung Đông và Bắc Phi – 218, châu Đại dương – 38.
Nước có nhiều Think Tank nhất là Mỹ – 1777, rồi đến Anh – 253, Đức – 186. Tại châu Á, Ấn Độ có nhiều Think Tank nhất – 121, thứ nhì là Nhật – 105. Theo báo cáo trên, Trung Quốc hiện có 74 Think Tank theo nghĩa rộng; nhưng các học giả Trung Quốc đánh giá nước họ thực sự chưa có Think Tank đúng nghĩa.
Xếp hạng các Think Tank trên thế giới
Dưới đây là một số trích dẫn bảng xếp hạng các Think Tank toàn cầu [1]. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi để nguyên tên tiếng Anh không dịch.
Xếp hạng Top 10 Think Tank của Mỹ như sau:
1. Brookings Institution
2. Carnegie Endowment for International Peace
3. Rand Corporation
5. Heritage Foundation
6. Woodrow Wilson International Center for Scholars
7. Center for Strategic & International Studies
8. American Enterprise Institute
9. Cato Institute
10. Hoover Institution
Xếp hạng Top 10 Think Tank của các nước ngoài Mỹ như sau:
1. Chatham House (tức Royal Institute of International Affairs, thành lập năm 1920 tại Anh)
2. International Institute for Strategic Studies (Anh)
3. Stockholm International Peace Research Institute (Thụy Điển)
4. Overseas Development Institute (Anh)
5. Centre for European Policy Studies (Bỉ)
6. Transparency International (Đức)
7. German Council on Foreign Relations (Đức)
8. German Institute for International and Security Affairs (Đức)
9. French Institute of International Relations (Pháp)
10. Adam Smith Institute (Anh)
Xếp hạng Top 5 Think Tank của châu Á:
1. Chinese Academy of Social Sciences (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)
2. Japan Institute of International Affairs (Nhật)
3. Institute for Defence Studies and Analyses (Ấn Độ)
4. Centre for Strategic and International Studies (Indonesia)
5. Institute for International Policy Studies (Nhật)
Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực An ninh và quan hệ quốc tế:
1. Brookings Institution (Mỹ)
2. Chatham House (Anh)
3. Carnegie Endowment for International Peace (Mỹ)
4. Council on Foreign Relations (Mỹ)
5. International Institute for Strategic Studies (Anh)
Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực Phát triển quốc tế:
1. Brookings Institution (Mỹ)
2. Overseas Development Institute (Anh)
3. Council on Foreign Relations (Mỹ)
4. Rand Corporation (Mỹ)
5. Woodrow Wilson International Center for Scholars (Mỹ)
Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực Chính sách kinh tế quốc tế:
1. Brookings Institution (Mỹ)
2. Peterson Institute for International Economics (Mỹ)
3. Fraser Institute (Canada)
4. National Bureau of Economic Research (Mỹ)
5. Adam Smith Institute (Anh)
Có thể thấy Viện Brookings đứng đầu cả 3 nhóm nói trên. Viện này thành lập năm 1916, có ngân sách năm 60,7 triệu USD, chuyên nghiên cứu về chính sách đối ngoại và vấn đề Trung Đông. Một số nhân vật tiêu biểu của Viện như Strobe Talbott (từng là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ), Kenneth Pollact, Alice Rivlin.
Think Tank có quy mô lớn nhất là Công ty Rand, với 1600 nhân viên, ngân sách 251 triệu USD, chuyên nghiên cứu chiến lược quân sự, các vấn đề kinh tế chính trị. Một số nhân vật tiêu biểu của Rand là James Dobbins, Gregory Treverton, William Overholt.
Mỹ là nước có hệ thống Think Tank phát triển nhanh nhất thế giới, từ 1980 tới nay số Think Tank nước này tăng gấp đôi. Riêng tại Washington đã có trụ sở của khoảng 350 Think Tank, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác. Tại thủ đô Mỹ có một đường phố tập trung rất nhiều Think Tank. Từ thập niên 70 trở đi không chính khách nào có ý định làm chủ Nhà Trắng mà không nhờ vả một Think Tank làm tư vấn. Vì vậy sau khi tân Tổng thống nhậm chức, không ít cán bộ của Think Tank đó được giao các trọng trách trong chính phủ. Khi Tổng thống hết nhiệm kỳ, họ lại về Think Tank cũ làm việc. Vì thế các Think Tank nghiễm nhiên trở thành nơi tập hợp nhân tài, chính khách. Think Tank rất cần cộng tác viên và bạn đọc. Chẳng hạn nếu bạn vào website của Think Tank STRATFOR, họ sẽ liên tục gửi bài cho bạn. Người sáng lập và lãnh đạo STRATFOR là George Friedman mới đây đưa ra một dự báo thế giới thế kỷ XXI rất độc đáo (coi Nhật, chứ không phải Trung Quốc, là đối thủ số 1 của Mỹ ở châu Á …).
Tại sao cần Think Tank?
Think Tank xuất hiện là do nhu cầu của thời đại. Thời đại càng tiến lên, các vấn đề cần xử lý ngày một nhiều, tới mức hệ thống nghiên cứu-tư vấn của nhà nước không thể xử lý hết. Thực tế cho thấy hệ thống này thường có mặt hạn chế, chủ yếu do bị chi phối bởi quan điểm của nhà nước nên thiếu tính khách quan. Ngoài ra sự phát triển tất yếu của xã hội dân sự dẫn tới xu hướng “chính phủ nhỏ, xã hội lớn” dần dần thay thế bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả. Theo đà phát triển kinh tế và giáo dục, hệ thống doanh nghiệp, trường ĐH và giới trí thức ngày càng lớn mạnh, trong xã hội tự xuất hiện nhiều cá nhân và đoàn thể có nguyện vọng cải tiến các quyết sách của đất nước.
Có người nói Công ty Đông Ấn [2] do người Hà Lan Cornelis de Houtman thành lập năm 1602 vừa là công ty xuyên quốc gia đầu tiên vừa là Think Tank đầu tiên trên thế giới nghiên cứu đưa ra phương thức độc quyền thương mại giúp Hà Lan khai thác hệ thống thuộc địa.
Từ sau Thế chiến II, giới trí thức phương Tây nhận thấy trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, mỗi quốc gia muốn tiến nhanh thì phải hết sức hạn chế các quyết sách sai lầm. Thế nhưng không chính phủ nào tránh được sai lầm trong khi đưa ra các quyết định chiến lược trên mọi lĩnh vực. Nguyên nhân gây ra sai lầm là do sự chủ quan, thiếu toàn diện của cơ quan quyết sách (ban lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu-tư vấn của họ). Nếu biết tranh thủ nghe ngóng, tiếp thu ý kiến tư vấn của bên thứ ba – các cá nhân hoặc tổ chức tư vấn độc lập với nhà nước (tức Think Tank), thì mức độ phạm sai lầm sẽ giảm đáng kể.
Xã hội phương Tây từ rất sớm đã có nhiều cá nhân (điển hình là giáo sư các trường đại học) hoặc tổ chức, đoàn thể tiến hành nghiên cứu các vấn đề chiến lược của nước mình hoặc thế giới; do độc lập với nhà nước nên họ có khả năng xem xét vấn đề một cách khách quan, toàn diện và đưa ra các giải pháp, chủ trương hợp lý. Chính vì thế, từ sau Thế chiến II, các Think Tank bắt đầu mọc lên như nấm ở phương Tây; trong thực tế các tổ chức này đã có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc ấn định các quyết sách của nhà nước hoặc chính đảng, của các ứng viên nghị sĩ quốc hội hoặc ứng viên Tổng thống. Do thấy được lợi ích to lớn của các tổ chức này nên chính phủ và doanh nghiệp, kể cả các đoàn thể xã hội và cá nhân đã ra sức khuyến khích thành lập và cung cấp kinh phí cho các Think Tank.
Nước Mỹ dựng nước mới hơn 200 năm đã trở thành cường quốc số một thế giới về mọi mặt, điều đó chứng tỏ họ rất ít mắc các sai lầm chiến lược lớn. Ở đây có một nguyên nhân là lãnh đạo nước này xưa nay bao giờ cũng chú ý lắng nghe ý kiến của dân, nhất là các nhà trí thức độc lập với chính phủ. Hệ thống Think Tank ở Mỹ phát triển nhanh nhất, mạnh nhất đã góp phần cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng các chủ trương chiến lược lớn của nước này.
Giáo sư Mao Chiêu Huy ở Học viện Quản lý công (thuộc trường ĐH Nhân dân Trung Quốc) nhận xét: tỷ lệ quyết sách sai lầm của Trung Quốc là 30%, còn tại các nước phát triển ở phương Tây tỷ lệ này chỉ có khoảng 5%, đó là do phương Tây ra sức tận dụng các Think Tank.
Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc nói lãng phí lớn nhất của Trung Quốc là do các sai lầm quyết sách chiến lược gây ra. Thực tế cho thấy các chiến lược “Đại Nhảy Vọt”, “Công xã nhân dân” cuối thập niên 50 đã dẫn tới hậu quả nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, hàng chục triệu dân “chết không bình thường”, nói trắng ra là chết đói vì nông dân phải đi “luyện gang thép” và làm các “công trình hinh ảnh” mà bỏ mặc ruộng đồng không ai làm. Ngân hàng Thế giới đánh giá trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 7 đến kế hoạch 5 năm lần thứ 9, các sai lầm về quyết sách đầu tư của Trung Quốc gây thiệt hại kinh tế ước khoảng từ 400 đến 500 tỷ Nhân dân tệ.
Hầu hết các sai lầm đó là do lãnh đạo cao nhất gây ra. Họ xem xét mọi vấn đề theo cảm tính cá nhân, thích cái gì thì “quyết”, bản thân suy nghĩ trong vài ngày là xong, không giao cho một cơ quan tư vấn nào nghiên cứu, cũng không hỏi ý kiến các nhà chuyên môn, hoặc có hỏi nhưng giới chuyên môn sợ mất lòng cấp trên nên không dám nói thật. Điển hình nhất là “Thời gian biểu vượt Anh đuổi Mỹ” do Mao Trạch Đông đưa ra: ngày 15/4/1958 ông nói Trung Quốc cần “10 năm đuổi kịp Anh, 20 năm đuổi kịp Mỹ”; một tháng sau ông quyết định “7 năm đuổi kịp Anh, thêm 8 10 năm nữa đuổi kịp Mỹ”; ngày 22/6/1958 ông lại quyết: “2 3 năm đuổi kịp Anh”.
Từ ngày cải cách mở cửa, lãnh đạo Trung Quốc đã hết sức quan tâm xây dựng các Think Tank và thường xuyên lắng nghe ý kiến của họ. Sự quan tâm đó thể hiện ở chỗ Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu 2009.
Việt Nam ta từng có một số quyết sách sai lầm trên một số mặt, nhưng đáng tiếc là vấn đề này chưa được cơ quan nào nghiên cứu, thống kê, phân tích và công bố, trong khi ta lại nói quá nhiều về những thành tựu. Cách làm này chỉ làm cùn trí tuệ của các nhà hoạch định chiến lược và lãng phí trí tuệ xã hội. Gần đây dư luận đã bắt đầu lên tiếng tuy còn dè dặt về một số chủ trương kinh tế đã hoặc sẽ gây thiệt hại. Cho dù ta còn chưa có Think Tank đúng nghĩa, nhưng thử hỏi hệ thống cơ quan nghiên cứu nhà nước (các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học …) đã có vai trò gì trong việc đưa ra những quyết sách kinh tế lớn. Nếu biết tận dụng hệ thống cơ quan tư vấn và biết coi trọng xây dựng hệ thống Think Tank thì chắc chắn đã có thể tránh được nhiều sai lầm đáng tiếc.
Đầu thập niên 50 thế kỷ XX, trước khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên, một Think Tank nổi tiếng ở Mỹ là Công ty RAND khi nghiên cứu vấn đề “Trung Quốc có thể đưa quân sang Triều Tiên hay không” đã đi tới kết luận Trung Quốc sẽ đưa quân sang giúp Triều Tiên chống Mỹ. RAND rao bán bản báo cáo nghiên cứu này cho Phòng Nghiên cứu chính sách Trung Quốc của chính phủ Mỹ với giá 2 triệu đô-la (bằng giá một máy bay chiến đấu hồi ấy), nhưng bị từ chối. Sau đấy quả nhiên Trung Quốc đưa Quân Chí nguyện sang Triều Tiên; phía Mỹ do không có chuẩn bị trước về vấn đề này nên bị thiệt hại lớn. Tư lệnh quân đội Mỹ trên chiến trường Triều Tiên là MacArthur lúc này mới thấy hối tiếc là đã bỏ mất một quyết sách quý giá được RAND nghiên cứu chu đáo, có cơ sở thực tế.■
Nguyễn Hải Hoành
Trung Quốc coi trọng phát triển hệ thống Think Tank
Quá trình phát triển
Trung Quốc bắt đầu làm quen với khái niệm Think Tank từ sau cải cách mở cửa. Trước đó, quá trình hoạch định chính sách chủ yếu do một số cá nhân lãnh đạo quyết định, hầu như không sử dụng trí tuệ của bộ máy tư vấn và của dân chúng; vì thế từng phạm những sai lầm khó tưởng tượng.
Thí dụ, một câu nói của lãnh tụ “Người đông (thì) sức lớn” dẫn tới hậu quả không thực thi sinh đẻ có kế hoạch, số dân tăng thêm mấy trăm triệu, để lại bao nhiêu di họa: thất nghiệp, chưa giàu đã già. Việc hủy chế độ khám sức khỏe trước khi cưới đã làm tăng số người tàn tật lên tới mức đáng lo…
Do cách quyết sách tùy tiện ấy, Trung Quốc đã bỏ lỡ hai cơ hội chiến lược để phát triển đất nước. Cơ hội thứ nhất: sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên, môi trường an ninh của Trung Quốc được cải thiện rõ rệt, nhưng chỉ tận dụng thuận lợi này được 4 năm thì các chủ trương Chỉnh phong, Chống phái hữu, Đại Nhảy Vọt, Công xã nhân dân đã hủy hoại tất cả. Sức người sức của bị lãng phí không sao kể xiết, hàng chục triệu dân bị chết đói, bỏ lỡ cơ hội vàng phát triển sau chiến tranh (trong khi Nhật tận dụng được cơ hội này). Cơ hội thứ hai: sau khi nối lại quan hệ với Mỹ, hoàn cảnh chiến lược của Trung Quốc trong thời gian 1971-1976 được cải thiện rất nhiều. Thế nhưng 10 năm đại loạn “Cách mạng Văn hoá” đã phá hỏng cơ hội đó.
Nhiều người thấy rõ những sai lầm ấy nhưng không ai dám nói. Nguyên soái Bành Đức Hoài mới dè dặt nêu ra vài ý kiến về Đại Nhảy vọt đã bị cách hết mọi chức vụ.
Xảy ra tình hình trên không phải vì người Trung Quốc kém thông minh. Nhưng trí tuệ của họ bị bỏ xó; hơn tỷ dân chỉ có một người được quyền suy nghĩ và phát ngôn. Tư tưởng “Đại nhất thống” của Khổng giáo tuy tạo ra sự nhất trí cao độ trong toàn dân song đồng thời cũng bóp chết mọi sáng tạo, mọi ý tưởng đúng đắn.
Đến thập kỷ 80, nhằm ngăn chặn các quyết sách tùy tiện chưa qua sự nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn, Đặng Tiểu Bình đề xuất Khoa học hóa quyết sách, cho phép nêu các ý kiến trái chiều.
Một số chuyên viên cấp cao rời cơ quan nhà nước lập cơ quan nghiên cứu của mình. Năm 2003 Ủy ban Phát triển Cải cách công khai tổ chức mời thầu đề tài nghiên cứu Quy hoạch 5 năm lần thứ X. Tháng 1/2004 Trung ương Đảng chỉ thị: Phải làm cho giới khoa học xã hội trở thành “Kho tư tưởng” và Think Tank của Đảng và chính phủ.
Hàng nghìn cơ quan nghiên cứu bắt đầu tổ chức nghiên cứu phản biện. Một số đoàn thể tư vấn kiểu Think Tank xuất hiện tuy còn rất khó hoạt động.
Giới học giả Trung Quốc nhận xét nước họ xuất siêu hàng hóa nhưng lại nhập siêu về tư tưởng. Đó là do thể chế chính trị hiện hành không tạo điều kiện sinh ra những nhà tư tưởng, nhà chính trị học có thể đề xuất các ý tưởng, lý thuyết mới lạ làm cả thế giới quan tâm như Huntington, Toffler, Paul Kennedy, Joseph Nye… Một học giả viết: sau Tôn Trung Sơn, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chưa có nhà tư tưởng nào. Trung tướng Lưu Á Châu chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc nói thẳng: “Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel nói Trung Quốc không có triết học. Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào.”
Kiều Lương tác giả sách “Siêu hạn chiến” nêu thí dụ: khi Anh Quốc dự định trả lại Hong Kong cho Trung Quốc, nhiều chính khách phương Tây lo nước này thống nhất sẽ lớn mạnh tới mức đe dọa thế giới. Bà Thủ tướng Thatcher an ủi: “Các bạn chẳng cần e ngại Trung Quốc, vì trong vài chục năm tới, thậm chí cả trăm năm, nước này không thể mang lại cho thế giới bất cứ một tư tưởng mới nào cả.”
Trung Quốc hơn phương Tây ở chỗ có ưu thế “tập trung lực lượng làm việc lớn” nhưng nếu quyết sách không khoa học hóa thì sự “tập trung lực lượng” sẽ chỉ mang lại thiệt hại rất lớn; bởi vậy cần có các cơ quan nghiên cứu chính sách có năng lực chuyên môn cao, dám nêu ra “chính sách dự bị” cho nhà nước. Vì thế Think Tank còn được gọi là “chính phủ trong bóng tối”.
Do không tận dụng được trí tuệ xã hội, tỷ lệ sai lầm quyết sách của Trung Quốc cao gấp 6 lần các nước phát triển, giá thành chế tạo hàng hóa cao gấp 8 lần ở Nhật, nghĩa là Trung Quốc đang khai thác tài nguyên tổ tiên để lại với tốc độ tàn phá thiên nhiên.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này khiến lãnh đạo Trung Quốc càng không hài lòng với hoạt động của hệ thống cơ quan nghiên cứu chính sách. Hệ thống này thiếu cả 3 tiêu chuẩn chính của Think Tank: tính độc lập tư tưởng, tính sáng tạo và sức quảng bá ảnh hưởng của mình.
Trong tình hình đó, Think Tank – nơi nghiên cứu đề xuất các chủ trương chính sách chiến lược lớn nhỏ của quốc gia, lò ấp các nhà chiến lược, nhà tư tưởng – bắt đầu được đặc biệt coi trọng.
Hệ thống Think Tank hiện có
Trung Quốc hiện nay đã hình thành một hệ thống Think Tank quy mô lớn, chủ yếu gồm:
1. Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (China Center for International Economic Exchanges, CCIEE): cơ quan dịch vụ tư vấn, nghiên cứu và giao lưu kinh tế quốc tế, do chính phủ duyệt thành lập, nơi tập hợp các nhân tài cấp cao về lĩnh vực nghiên cứu kinh tế và có quan hệ rộng trong lĩnh vực kinh tế. CCIEE do Ủy ban Phát triển và cải cách Nhà nước chủ trì, đăng ký tại Bộ Dân chính Trung Quốc. CCIEE được gọi là “Siêu Think Tank”, vì được ưu tiên cấp kinh phí và tập hợp toàn các “siêu” chuyên gia.
2. Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: cơ quan học thuật cao nhất nghiên cứu về triết học và khoa học xã hội; là Think Tank có quy mô lớn nhất Trung Quốc
3. Trung tâm Nghiên cứu phát triển thuộc chính phủ Trung Quốc: cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách, trực thuộc chính phủ Trung Quốc
4. Viện Khoa học Trung Quốc: cơ quan học thuật hàn lâm cao nhất về KHKT của nhà nước
5. Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc: cơ quan nghiên cứu cấp cao lý luận quân sự, trung tâm nghiên cứu học thuật quân sự.
6. Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Trung Quốc: nghiên cứu tổng hợp các vấn đề quan hệ quốc tế.
7. Viện Nghiên cứu Quan hệ quốc tế hiện đại: nghiên cứu các vấn đề quốc tế tổng hợp.
8. Ủy ban Toàn quốc Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương của Trung Quốc.
9. Hội Khoa học kỹ thuật Trung Quốc.
10. Hội Chiến lược quốc tế Trung Quốc: đoàn thể học thuật dân lập nghiên cứu vấn đề chiến lược có tính toàn quốc.
11. Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Thượng Hải: một trong các Think Tank chủ yếu nghiên cứu chiến lược và chính sách ngoại giao.
Ngoài ra tại Đài Loan thuộc Trung Quốc còn có:
1. Think Tank Quốc Dân Đảng: chính thức thành lập 7/2000, gốc là Quỹ Nghiên cứu chính sách quốc gia pháp nhân tài đoàn; đương kim Chủ tịch Quốc dân đảng Liên Chiến làm chủ tịch Hội đồng quản trị; thành phần gồm nhiều quan chức chính quyền đã nghỉ hưu, các chuyên viên, học giả.
2. Trung tâm Đài Loan: thành lập 12/2001, gồm các đại gia giới học thuật và kinh doanh, các học giả ở nước ngoài về Đài Loan làm việc và quan chức chính quyền.
Nội địa Trung Quốc hiện có hơn 2500 cơ quan nghiên cứu chính sách, với 35 nghìn cán bộ chuyên trách, 270 nghìn nhân viên làm việc. Trong đó có 2000 cơ quan “kiểu Think Tank”, chủ yếu nghiên cứu chính sách, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ chính phủ. Trong số này Trường Đảng Trung ương, Viện Khoa học xã hội, Trung tâm Nghiên cứu phát triển, Học viện Hành chính nhà nước thường được gọi là các Think Tank nhà nước.
Viện Khoa học xã hội có 50 viện nghiên cứu, 260 phòng nghiên cứu, 4000 cán bộ chuyên trách. Quy mô như vậy vượt xa các Think Tank ở phương Tây (toàn bộ Think Tank cả nước Anh có 1000 cán bộ, cả châu Âu có chưa tới 5000 người).
Một số vấn đề của hệ thống Think Tank ở Trung Quốc
Nhà kinh tế nổi tiếng Lưu Tôn Nghĩa, phó Tổng thư ký CCIEE, nguyên Hiệu trưởng ĐH Trung văn Hong Kong nhận xét: Trung Quốc có hơn 2000 Think Tank nhưng uy tín và ảnh hưởng chưa tương xứng với sức mạnh kinh tế đất nước, lực lượng chưa bằng một Think Tank lớn ở Mỹ như Công ty Rand hoặc Viện Brookings.
Doanh nhân nổi tiếng Ninh Cao Ninh nói: bao giờ các văn phòng luật, văn phòng kế toán, công ty tư vấn và Think Tank của Trung Quốc có thể ra nước ngoài kiếm tiền thì Trung Quốc mới trở thành nước lớn; hiện nay chúng ta vẫn phải dựa vào các Think Tank nước ngoài.
Tôn Triết Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ Trung Quốc-Mỹ thuộc ĐH Thanh Hoa nhận xét: tác dụng của các Think Tank ngoại giao Trung Quốc là “lạc hậu”, chưa phối hợp ăn ý giữa cán bộ nhà nước với giới học giả, điều này có phần do chưa xây dựng được chế độ tư vấn chính quy.
Một số học giả Trung Quốc nhận định nước họ chưa có Think Tank với ý nghĩa thực sự. Trung Quốc có hơn 2000 Think Tank (Mỹ có 1777), nhưng báo cáo của ĐH Pennsylvania chỉ thừa nhận có 74; nghĩa là phần lớn bị người Mỹ bỏ qua. Bắc Kinh, Thượng Hải không có tên trên bản đồ Think Tank thế giới. Mặt khác, các Think Tank Trung Quốc chỉ lo nghiên cứu phát hiện và giải quyết vấn đề trước mắt, chưa có nghiên cứu nhìn xa trông rộng, dự kiến xu hướng phát triển thời đại, chưa sánh được với các Think Tank hàng đầu trên thế giới, họ nghiên cứu cả những vấn đề sau đây 30-50 thậm chí 100 năm.
Số lượng Think Tank nhiều nhưng 95% ăn lương nhà nước, cán bộ do nhà nước bổ nhiệm; chỉ có 5% thuộc diện dân lập, quy mô rất nhỏ. Think Tank dân lập lớn nhất chỉ có 20 cán bộ, kinh phí hàng năm chừng 2 triệu RMB (Nhân Dân Tệ; 1 RMB tương đương 0,147 USD). Các cơ quan nghiên cứu chính sách hiện nay thường bị dư luận chê trách là hay đưa ra dự báo sai (thí dụ dự báo giá dầu, chỉ số CPI …) và không có tiếng nói trước các vụ việc lớn (như vụ sữa Tam Lộc…) do đó họ không có ảnh hưởng trong dư luận.
Vì phần lớn Think Tank là cơ quan nhà nước nên họ không đại diện cho trí tuệ công chúng, chỉ là cơ quan tuyên truyền và giải thích chính sách nhà nước, rất khó đề ra các ý kiến có tính phản biện đích thực; trong khi tính trung lập và độc lập mới là các yếu tố chủ yếu quyết định sức sống và do đó quyết định nguồn lực của các Think Tank.
Vương Thông Tấn Phó Hội trưởng Hội Nghiên cứu nhân tài Trung Quốc nói: “Rất nhiều Think Tank của chúng ta chỉ có tác dụng chứng minh tính đúng đắn của chính sách.”
Khó khăn lớn nhất của các Think Tank là thiếu nguồn vốn hoạt động, nhất là loại dân lập. Một giám đốc Think Tank dân lập nói: “Nghiên cứu làm cái quạt điện còn có thể bán lấy chút tiền. Chúng tôi nghiên cứu sửa hiến pháp, sửa chính sách nhà nước thì ai bỏ tiền cho chúng tôi? Nhất là việc nghiên cứu các vấn đề vĩ mô, chính quyền chưa chắc đã thích anh làm chuyện ấy.” Rốt cuộc Think Tank ông này 20 năm qua phải kiếm kế sinh nhai bằng việc tư vấn cho các doanh nghiệp cần xin phá sản.
Think Tank “sang trọng nhất” là CCIEE cũng gặp khó khăn về vốn, tuy mục tiêu hùn vốn chỉ có 500 triệu RMB. Trong khi đó các Think Tank tại phương Tây đều nhận được tài trợ của nhiều doanh nghiệp, cá nhân, quan chức, và cả của nhà nước; bởi lẽ họ thấy các Think Tank rất hữu ích với họ. Thí dụ ở Mỹ, riêng một Quỹ Rockefeller mỗi năm tài trợ hơn 60 triệu USD cho Viện Broockings.
Tôn Triết cho biết nguồn tài chính của các Think Tank nghiên cứu ngoại giao chưa đa dạng, phần lớn dựa ngân sách của cơ quan chủ quản, mà các cơ quan này thường coi nghiên cứu là “nghề phụ”, Think Tank bị coi nhẹ nên chưa được rót đủ kinh phí, thậm chí có Think Tank vì thế phải nghỉ việc. Ngay cả Quỹ Nghiên cứu vấn đề quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc thành lập đã hơn 10 năm, tuy có tài trợ từ bên ngoài mà năm nào cũng thiếu kinh phí. Do đó các Think Tank thiếu sức thu hút học giả trẻ. Người trẻ nhất của một cơ quan nghiên cứu nổi tiếng nọ đã 35 tuổi, trong khi cơ quan cần lớp thanh niên tuổi 20 tuổi vừa ra trường đang tràn đầy nhiệt tình nghiên cứu, khám phá.
Xã hội Trung Quốc chưa có văn hóa quyên tặng cho Think Tank, qua đó bảo đảm tính độc lập trong nghiên cứu. Các doanh nghiệp khi làm hoạt động công ích thường chỉ quyên tặng phần cứng (như xây dựng nhà làm việc) mà chưa quyên tặng kinh phí cho việc nghiên cứu chính sách công.
Đặng Duật Văn phó Tổng biên tập Thời báo Học tập của Trường Đảng Trung ương nói: “Trung Quốc có nhiều Think Tank nhưng do các vấn đề về cơ chế, nguồn vốn và hệ thống đánh giá nên chưa có thành tích nổi bật trên sân khấu quốc tế, khó có thể đối thoại với các Think Tank hàng đầu thế giới.”
Dư luận Trung Quốc cho rằng nước này rất cần các Think Tank đa nguyên và nhiều loại hình. Vương Thông Tấn nói: “Think Tank dùng đầu óc để làm ra lợi ích có hiệu quả; một xã hội càng phát triển thì càng cần nhiều Think Tank…. Khi các vấn đề càng phức tạp thì càng cần các Think Tank có lập trường khách quan. Mỗi Think Tank phải có lập trường riêng nhưng có thể “hòa mà bất đồng”, được bảo lưu quan điểm của mình, nêu ra các số liệu và kiến nghị khác nhau.”
Khác với phương Tây, ở Trung Quốc các đại biểu quốc hội và đại biểu Chính Hiệp (tương đương Trung ương Mặt trận Tổ quốc ở Việt Nam) đều không là người chuyên trách và không do dân bầu, vì thế Trung Quốc càng đặc biệt cần có một bên thứ 3 có tính độc lập, tính dân gian và tính trung lập về lợi ích – đó là các Think Tank dân lập, nhờ thế có thể tạo ra được sự phát triển thực sự cho đất nước. Các nước phát triển coi Think Tank là thế lực (quyền lực) lớn thứ tư sau các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Khoa học hóa quyết sách không chỉ là nghe ý kiến dân, vả lại không phải ý kiến đa số là đúng, mà phải nghe ý kiến của các Kho trí tuệ độc lập với nhà nước tiến hành nghiên cứu, phản biện chính sách theo một quy trình có lô-gic chặt chẽ. Nói theo ngôn từ Trung Quốc thì Think Tank phải trở thành “Lãnh tụ ý kiến” của công chúng, phản ánh lên lãnh đạo các ý kiến, chính sách đã qua nghiên cứu công phu nhằm đạt mục tiêu tác động tới quyết sách của chính phủ, tới dư luận công chúng.
Muốn phát triển hệ thống Think Tank cần có 2 điều kiện khách quan: – từ trên xuống dưới hình thành bầu không khí tôn trọng các quyết sách có tính độc lập về chuyên nghiệp; – toàn xã hội phải có một không gian công cộng (tức dư luận) tương đối cởi mở khuyến khích nhiều người tham dự quyết sách.
Hiện nay môi trường xã hội Trung Quốc chưa thuận lợi cho việc phát triển các Think Tank dân lập. Thí dụ, các Think Tank này vốn là tổ chức phi lợi nhuận, nhưng chính sách nhà nước lại yêu cầu họ phải đăng ký dưới hình thức doanh nghiệp kiếm lời, hoặc “núp bóng” một cơ quan nhà nước nào đó. Các Think Tank hoạt động trong môi trường chưa thuận lợi. Thói quen hàng nghìn năm vẫn áp đảo, cái gì cấp trên đã quyết, dù sai đi nữa, cũng rất khó góp ý sửa đổi, phản bác.
Vương Lợi Lệ, nghiên cứu viên của CCIEE nhận định: nhiệm vụ chủ yếu của Think Tank là nghiên cứu chính sách; mục tiêu của Think Tank là phải tác động tới quyết sách của chính phủ và tới dư luận; nói cách khác, sức cạnh tranh chính của Think Tank là ở năng lực sáng tạo và sức ảnh hưởng dư luận, chứ không phải là ở quy mô và cấp bậc. Để Think Tank thực sự phát triển trở thành một ngành nghề, cần phải hình thành các cơ chế, môi trường và văn hóa có lợi. Nên khuyến khích lập nhiều kênh góp vốn nhằm bảo đảm các Think Tank giữ được tính độc lập, dân lập và đa nguyên. Các Think Tank cần phát huy ảnh hưởng quốc tế, giành quyền ăn nói trên sân khấu quốc tế.
Xu hướng phát triển hệ thống Think Tank ở Trung Quốc
Trung Quốc đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu (Global Think Tank Summit, 2- 4/7/2009 tại Bắc Kinh) có mặt lãnh đạo 30 Think Tank và nhiều học giả trên toàn thế giới. Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã tới dự.
Việc này chứng tỏ Trung Quốc bắt đầu đặc biệt coi trọng Think Tank. 30 năm qua Trung Quốc mới chỉ tập trung phát triển sức mạnh cứng mà chưa coi trọng sức mạnh mềm – sự đột phá về quan niệm tư tưởng, văn hóa giáo dục, then chốt là sự khoa học hóa, hợp lý hóa các quyết sách. Đây là một thiếu sót đáng tiếc. Nếu có nhiều Think Tank dân lập thực sự độc lập và chất lượng cao, thì chính phủ sẽ tập trung được trí tuệ của nhiều bên, nhiều người, nâng cao được tính khoa học, tính hữu hiệu và tính dân chủ của quyết sách. Cần thực thi quy trình mỗi khi nhà nước cần quyết định một chính sách lớn, đầu tiên các Think Tank phải nghiên cứu và nêu ra, sau đó dư luận tiến hành bàn thảo, Quốc Hội xem xét, nghe báo cáo và chất vấn, cuối cùng chính phủ tiếp thu.
Gần đây đã xuất hiện những tín hiệu khả quan: nhiều cơ quan nhà nước tăng kinh phí nghiên cứu, một số quan chức khi nghỉ hưu lại đến nhận công việc ở trường đại học hoặc viện nghiên cứu, việc này giúp thắt chặt mối quan hệ giữa chính quyền với Think Tank; nhiều Think Tank độc lập đã tiếp nhận nguồn tài trợ của xã hội và doanh nghiệp, qua đó tiến theo hướng trở thành Think Tank hiện đại có ảnh hưởng lớn.
Bước phát triển đáng kể là tháng 3/2009 Thủ tướng Ôn Gia Bảo duyệt thành lập Trung tâm Giao lưu kinh tế quốc tế Trung Quốc (CCIEE), gồm toàn các nhân vật cấp cao. Chủ tịch Ban Chấp hành (BCH) CCIEE là nguyên phó Thủ tướng Tăng Viêm Bồi, ủy viên BCH gồm toàn cán bộ cấp bộ thứ trưởng đương chức hoặc đã nghỉ hưu, giám đốc ngân hàng lớn. Trước mắt đây là một Think Tank cấp cao kiểu mới nửa nhà nước nửa dân lập; sau này sẽ trở thành một Think Tank dân lập, tập hợp đội ngũ chuyên viên cấp cao, tiến hành các nghiên cứu dài hạn, chiến lược, toàn cục, nhằm cung cấp trợ giúp về trí tuệ cho các chính sách công, cung cấp dịch vụ tư vấn cho các vụ kinh doanh xuyên quốc gia.
Nhà nước chỉ cấp cho CCIEE kinh phí thành lập 5 triệu RMB; còn kinh phí hoạt động phải tự lo. CCIEE đã lập quỹ riêng để tạo nguồn vốn đa nguyên, nhằm mục tiêu tạo vốn 500 triệu RMB; hiện quỹ đã tập hợp được 30 doanh nghiệp trung ương, sau này sẽ thu hút doanh nghiệp tư doanh. CCIEE sẽ áp dụng cơ chế vận hành kiểu thị trường như các Think Tank nước ngoài, không dùng tiền nhà nước, như vậy có lợi cho việc duy trì tính độc lập trong nghiên cứu. CCIEE sẽ dẫn đầu phong trào lập các Think Tank dân lập trong cả nước. Dĩ nhiên quá trình này sẽ còn nhiều khó khăn, nhưng đã được khởi động với quyết tâm từ cấp lãnh đạo cao nhất.
Trịnh Tân Lập Phó Tổng thư ký CCIEE nói ban lãnh đạo CCIEE quyết tâm xây dựng CCIEE sao cho có được uy tín và tác động lớn như các Think Tank hàng đầu phương Tây, tức là có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết sách của chính phủ và dư luận công chúng.
Thành lập CCIEE là một sự kiện lớn chứng tỏ Trung Quốc quyết đẩy mạnh tiến trình tăng cường vai trò của các tổ chức dân lập trong việc tham dự quyết định mọi chủ trương chính sách của nhà nước, nhằm thực hiện phương châm Khoa học hóa quyết sách.
Nguyễn Hải Hoành
Vì sao người Nhật đoạt nhiều giải Nobel?
Năm 2010 Nhật Bản lại có thêm hai nhà khoa học được tặng giải Nobel khoa học: Ei-ichi Negishi và Akira Suzuki, giải Nobel Hóa học. Kể từ người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel là Hideki Yukawa giáo sư Đại học Kyoto (giải Nobel Vật lý 1949) tới nay, nước Nhật đã có tổng cộng 18 người được tặng giải thưởng cao quý này thuộc các lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học và y học, văn học, trở thành quốc gia đoạt nhiều giải Nobel nhất châu Á.
Vì sao người Nhật được tặng nhiều giải Nobel như vậy?
Ở đây có nhiều nguyên nhân, nhưng nếu xét từ sự thực hầu hết 18 chủ nhân giải Nobel này đều là giáo sư đại học thì có thể thấy trư ờng đại học là m ột yếu tố quan trọng . Chắc hẳn nhà trường đại học xứ sở Mặt Trời Mọc này phải có những đặc điểm gì đó góp phần tạo điều kiện sản sinh các nhà khoa học tài giỏi.
Giới quan sát cho rằng, trước hết đó là do nhiều năm qua các trường đại học Nhật Bản đều coi tự do học thuật là nguyên tắc căn bản trong công tác giảng dạy và nghiên cứu.
Thực chất của tự do học thuật là tự do tìm kiếm chân lý, tự do tiến hành các hoạt động khám phá, thăm dò, nghiên cứu. Điều 23 Hiến pháp Nhật Bản ghi rõ: “Hiến pháp này bảo đảm tự do học thuật”. Điều 2 của Luật cơ bản giáo dục nước này cũng quy định : để thực hiện các mục tiêu giáo dục, nhất thiết phải “Tôn trọng tự do học thuật”.
Trong thực tế, các trường đại học Nhật Bản đã kiên trì nguyên tắc tự do học thuật. Thí dụ ĐH Kyoto là nơi sản sinh các chủ nhân giải Nobel vật lý, hóa học, sinh học và y học đầu tiên của Nhật Bản; tại đây từng xuất hiện nhiều vụ tranh đấu cho tự do học thuật, thí dụ vụ giáo sư Kiyoshi Inoue có quan điểm lịch sử trái ngược với Chính phủ Nhật nhưng sách của ông vẫn được xuất bản.
Thứ hai, các trường Đại học Nhật Bản thực hiện quyền tự trị đại học ở mức rất cao. Tự trị đại học là nói nhà trường có quyền loại bỏ tất cả mọi sự can thiệp của các thế lực chính trị, tôn giáo, hành chính đối với hoạt động của nhà trường; các trường đại học hành xử quyền tự do giảng dạy và nghiên cứu dựa theo ý chí của giáo viên, cán bộ và sinh viên nhà trường.
Thực ra, mục đích của tự trị đại học là nhằm bảo đảm tự do học thuật của nhà trường. Điều 14 Luật cơ bản giáo dục quy định: nhà trường “không được phép tiến hành các hoạt động giáo dục chính trị và các hoạt động chính trị khác nhằm ủng hộ hoặc phản đối một chính đảng nào đó”. Điều 16 Luật này còn quy định rõ “giáo dục không tiếp thụ sự chi phối không chính đáng”.
Lấy thí dụ Sự kiện Takigawa (tiếng Nhật: Takigawa jiken) xảy ra năm 1933 tại Đại học Kyoto: ông Takigawa Yukitoki [1], giáo sư bộ môn Luật của trường này phát biểu quan điểm “Phạm tội là do chế độ nhà nước không tốt gây ra”, vì thế bị kết luận là có ngôn luận “chống đối nhà nước”, dẫn đến hậu quả bị Bộ Giáo dục kỷ luật đình chỉ chức vụ. Tất cả các giáo sư (cộng 31 người) và toàn thể sinh viên bộ môn Luật trường này đều tập thể từ chức và bỏ học để tỏ ý phản đối việc nhà nước vi phạm nguyên tắc tự trị đại học.
Ở đây, điều đáng chú ý là phần lớn các giáo sư từ chức đều không tán thành quan điểm của giáo sư Takigawa, nhưng vì để bảo vệ tự do học thuật họ sẵn sàng từ bỏ địa vị cùng mức thu nhập cao của chức danh giáo sư được cả xã hội ngưỡng mộ (lương giáo sư ĐH Kyoto hồi ấy bằng khoảng 100 lần lương sinh viên mới ra trường đi làm). Xin nhớ rằng thập niên 30, nước Nhật do thế lực quân phiệt phát xít cai trị đang ráo riết chuẩn bị xâm lược Trung Quốc và Mông Cổ, chế độ chính trị trong nước rất hà khắc, nghiêm cấm mọi ngôn luận và hành động chống Nhà nước. Thế mà các giáo sư và sinh viên Nhật vẫn dám công khai chống lại quyết định của Bộ Giáo dục.
Thứ ba, các trường ĐH Nhật Bản áp dụng chế độ dân chủ tương đối triệt để – giáo sư quản lý nhà trường, giáo sư phụ trách công tác giảng dạy, giáo sư tham gia bàn luận mọi công việc nhà trường.
Điều 93 Luật giáo dục nhà trường quy định: tại trường đại học, các bộ môn đều có Hội Giáo sư với thành phần là toàn thể giáo sư, phó giáo sư, giảng viên; Hội này vừa là đơn vị cơ sở quyết định mọi chủ trương của nhà trường lại vừa là cơ quan quyết sách cuối cùng các công việc lớn của bộ môn.
Thí dụ, tại trường ĐH Kyoto, dưới Hội Giáo sư bộ môn giáo dục có các tiểu ban soạn thảo chế độ, tiểu ban ngân sách, tiểu ban học vụ, tiểu ban giáo vụ, tiểu ban tự đánh giá. Các tiểu ban này xem xét và quyết định tối hậu mọi công việc thường ngày về giáo vụ, học vụ, nghiên cứu, tài chính, nhân sự. Nói cách khác, tại các trường ĐH Nhật Bản, giáo viên chủ yếu làm công việc giáo dục, nghiên cứu; viên chức chủ yếu làm các công việc phục vụ giáo dục và nghiên cứu. Trong việc quản lý nhà trường, giáo viên phụ trách quy hoạch và quyết sách, còn viên chức thì chịu trách nhiệm thi hành. Chế độ này vừa tận dụng được tri thức chuyên môn, trí tuệ và năng lực của các giáo sư với tư cách là chuyên gia trong lĩnh vực của họ, lại vừa phát huy tốt tính chủ động và tính tích cực của giáo sư trên các mặt giáo dục, nghiên cứu, ra quyết sách.
Ngoài ra, giáo sư đại học ở Nhật có uy tín và danh vọng cao, lương bổng hậu – điều đó tạo điều kiện thuận lợi để họ toàn tâm toàn ý làm công tác giảng dạy, nghiên cứu.
Thí dụ, theo kết quả điều tra năm 1995 của SSM (cơ quan chuyên điều tra các tầng lớp xã hội và sự chuyển dịch của xã hội), điểm số về uy tín danh vọng nghề nghiệp của giáo sư đại học Nhật Bản là 83,5, chỉ kém điểm số của thẩm phán và luật sư (87,3), xếp thứ hai trong tổng số 187 nghề nghiệp ở Nhật Bản, bỏ xa điểm số của các cán bộ quản lý cấp cao doanh nghiệp (73,3), viên chức cấp cao (70,5), diễn viên (58,2) và cảnh sát (54,2).
Về thu nhập, kết quả “Điều tra thống kê cơ bản cơ cấu lương” của Bộ Lao động Nhật Bản cho thấy năm 2008, lương bình quân hàng năm của giáo sư đại học Nhật Bản bằng khoảng 11,22 triệu đồng Yen, vượt xa lương viên chức nhà nước (6,63 triệu Yen), viên chức doanh nghiệp có niêm yết trên thị trường chứng khoán (5,89 triệu) [2].
Tóm lại, tại các trường đại học ở Nhật, bầu không khí nghiên cứu tự do thoải mái; chế độ giáo dục, nghiên cứu và quản lý lấy giáo viên làm chủ thể; chế độ thu nhập và danh vọng cao dành cho giáo viên – tất cả những cái đó là nhân tố quan trọng làm cho Nhật Bản trở thành quốc gia châu Á đoạt nhiều giải Nobel nhất. Để so sánh, có thể thấy Trung Quốc với số dân gấp 10 lần Nhật, 61 năm nay chưa có công dân nào được tặng giải Nobel.
Nguyên Hải
Filed under: Kinh tế | Leave a Comment »
LÂM QUỐC THANH
Từ xưa đến nay, việc lựa chọn một khu vực thích hợp và thuận tiện làm thủ đô bao giờ cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng, có liên quan đến sự sống còn của một chế độ hay có khi của cả một dân tộc. Bởi thế nên từ hơn 3, 000 năm về trước, các vua chúa Trung Hoa đã biết dựa vào thuật Phong thủy để tìm kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Có lẽ điều này giải thích lý do tại sao các triều đại phong kiến Trung Hoa thường tồn tại rất lâu dài, bền bỉ. Và mặc dù cũng phải trải qua những giai đoạn suy tàn, ly loạn, nhưng sức mạnh và nền văn minh của họ vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển cho tới bây giờ, chứ không bị tàn lụi hẳn như những đế quốc cổ đại và trung đại khác như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, Ả Rập…..
Riêng đối với dân tộc Việt Nam của chúng ta, từ lúc sơ khai của thời kỳ Hùng Vương cho tới nay, thủ đô của đất nước đã được dời đi, đổi lại nhiều lần, và vận mệnh của dân tộc cũng vì thế biến đổi theo. Từ Phong Châu (kinh đô của các vua Hùng) đến Cổ Loa, Phiên Ngung, Hoa Lư, rồi tới Thăng Long (tức Hà Nội), Phú Xuân (tức Huế) và Sài Gòn. Tùy theo địa thế và vận khí riêng biệt của mỗi thành phố trên, đất nước ta đã từng trải qua biết bao nhiêu giai đoạn thăng trầm. Khi thì vươn lên với một nền văn minh rực rỡ của trống đồng Ngọc Lũ, Ðông Sơn; khi thì tàn tạ, yếu kém phải chịu đựng 1,000 năm Bắc thuộc. Rồi dến những lúc cường thịnh đủ sức phá Tàu, bình Chiêm Thành, Chân Lạp; lại có những lúc suy yếu phải chịu sự đô hộ, sai khiến của ngoại bang….
Giờ đây, trong số những địa danh ấy, chỉ còn có Hà Nội, Huế và Sài Gòn là vẫn tiếp tục nắm giữ những vai trò quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và giao thương, mậu dịch của đất nước. Bởi thế hôm nay, người viết muốn được trình bày về địa thế Phong thủy của 3 thành phố này, với hy vọng sẽ giúp bạn đọc thấy được sự liên quan mật thiết giữa địa hình của thủ đô với vận số của dân tộc. Ðồng thời, dựa vào những quy luật biến hóa tự nhiên của vũ trụ để xác định nhũng giai đoạn hưng vượng hoặc suy vong của đất nước trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai sắp tới.
Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, người viết xin được đề cập sơ qua 2 chi tiết quan trọng của Phong thủy là Lạc Thư và Tam Nguyên- Cửu Vận. Những chi tiết này đã được trình bày tương đối đầy đủ trong bài ” Phong thủy của vụ 9/11″ trước đây (được đăng trên số xuân Nhâm Ngọ của báo Việt Tide và Chicago Việt báo), nên ở đây chỉ xin nói vắn tắt như sau:
* Tam Nguyên-Cửu Vận: là1 chu kỳ 180 năm, được lập đi, lập lại không ngừng. Mỗi một chu kỳ này được chia ra làm 3 (Tam) Nguyên, mỗi Nguyên là một giai đoạn dài 60 năm, và được đặt theo thứ tự là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Mỗi Nguyên lại được chia làm 3 Vận: các Vận 1, 2, 3 thuộc về Thượng Nguyên; các Vận 4, 5, 6 thuộc về Trung Nguyên; và các Vận 7, 8, 9 thuộc về Hạ Nguyên. Mỗi Vận như thế là 1 giai đoạn dài 20 năm.
Ở đây, để tiện theo dõi những diễn biến lịch sử trong từng giai đoạn, người viết xin được giới thiệu với bạn đọc bảng Tam Nguyên-Cửu Vận của hơn 1,000 năm trở lại đây.
THƯỢNG NGUYÊN TRUNG NGUYÊN HẠ NGUYÊN
Chú ý: những năm trong bảng trên đều là những năm khởi đầu của mỗi Vận. Thí dụ như năm 964 là năm khởi đầu của Vận 1, nên từ năm đó cho đến năm 983 đều nằm trong Vận 1. Ðến năm 984 mới bước vào Vận 2….
* Lạc Thư: là một đồ bàn hình vuông, bên trong có 9 số (còn được gọi là Cửu tinh), mỗi tương ứng với mỗi Vận, đồng thời chiếm 1 vị trí và phương hướng nhất định như hình bên cạnh. Như vậy, muốn biết được sự hưng, suy của một thành phố trong Vận nào, ta chỉ cần quan sát những khu vực tương ứng trong Lạc Thư là sẽ tìm ra được lời giải đáp. Chẳng hạn như muốn biết khí số của Hà Nội trong Vận 7 như thế nào, trước hết ta cần nhìn vào Lạc Thư, sẽ thấy số 7 nằm ở phía Tây. Như vậy, chỉ cần quan sát địa thế sông, núi ở khu vực phía Tây Hà Nội, đồng thời đối chiếu với khu vực đối diện tức là phía Ðông thì sẽ tìm ra được kết quả chính xác.
Trên đây chỉ là chút khái niệm về Lạc Thư và Tam Nguyên-Cửu Vận, ngoài ra, bạn đọc cũng cần biết hai yếu tố căn bản để định quẻ là Nước và Núi qua ba điểm dưới đây:
a/ Phục Ngâm: là khu vực của chính Vận mà lại có Thủy, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, nên phía Tây được coi là khu vực của chính Vận, mà ở đó lại có Thủy (nước) tức là bị Phục Ngâm.
b/ Phản Ngâm: là khu vực đối diện với chính Vận mà lại có núi, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, mà phía Ðông lại có núi tức là bị Phản Ngâm.
c/ Chính Thủy: là Thủy nằm ở khu vực đối diện với chính Vận, như Vận 7, số 7 nằm ở hướng Tây, mà phía Ðông lại có Thủy tức là có Chính thủy.
Trong những cách kể trên, chỗ nào có Phục Ngâm, Phản Ngâm là có sát khí chiếu tới, nên sẽ mang nhiều tai ương, hoạn nạn đến cho thành phố. Còn chỗ nào có Chính thủy tức là được vượng khí chiếu tới, nên sẽ đem đến nhiều may mắn, thuận lợi.
Sau khi đã nắm được những diều cơ bản trên, mời bạn đọc hãy nhìn vào địa thế của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài Gòn, để tìm hiểu những nguyên nhân đã tạo ra những chặng đường vinh – nhục cho đất nước ta trong suốt gần 1,000 qua.
Hà Nội
1/ HÀ NỘI: là thành phố nằm gần như ngay tại trung tâm của đồng bằng Bắc Việt, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng ở phía Ðông và sông Tô Lịch ở phía Tây. Ðối với Phong thủy, dải đất này chính là chân long, là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông, núi ở chung quanh. Nhờ vậy, Hà Nội sẽ luôn luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước, chẳng những thế, trong các thời kỳ hưng vượng còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta sẽ thấy những con sông lớn như sông Cầu, sông Gầm, sông Lô ở phía Bắc; sông Ðà, ở phía Tây, sau khi chảy qua nhiều nơi cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội. Xa xa, dọc theo biên giới Việt-Hoa, những dãy núi trùng trùng, điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Ðông Bắc, tất cả cũng đều như muốn hướng về. Ðây chính là thế “núi sông chầu phục” của Hà Nội, một địa thế Phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một thủ đô nào của các nước trong vùng Ðông Nam Á Châu, (kể cả thành Bắc Kinh của Trung Hoa) có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Ðông và Ðông Nam, Hà Nội còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới nên thần lực rất lớn, xứng đáng là thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.
Nếu đem địa thế núi, sông, biển cả vừa kể trên đối chiếu với Lạc Thư, ta sẽ thấyVận 1 chỉ là giai đoạn trung bình của Hà Nội. Vì mặc dù khu vực phía Bắc có nhiều sông ngòi tức là phạm phải cách “Phục Ngâm”, bị sát khí xâm phạm, nên sẽ đem đến nhiều tai ương, loạn lạc. Nhưng tại đây cũng có nhiều dãy núi đâm thẳng xuống đem theo nhiều vượng khí nên chưa đến nỗi, vẫn còn nhân tài có khả năng ổn định, xoay chuyển được thời cuộc. Bước sang Vận 2, tình thế mỗi lúc một suy thoái hơn, vì khu vực phía Tây Nam của Hà Nội tuy chỉ có sông Mã tức là bị “Phục Ngâm” trong trường hợp nhẹ. Nhưng phía đối diện (Ðông Bắc) lại có núi đồi trùng điệp tức là bị “Phản Ngâm”, sát khí từ nơi đó sẽ tràn tới, khiến cho đất nước ngày càng trở nên hỗn loạn. May mà tại đây (khu vực phía Ðông Bắc) cũng có nhiều sông ngòi chằng chịt tức là đắc “Chính thủy”, vượng khí vẫn còn đến với Hà Nội nên chưa đến nỗi bị suy vong. Qua các Vận 3, 4, đại thủy của vịnh Bắc bộ và Thái bình Dương nơi phía Ðông và Ðông Nam sẽ tạo ra cách “Phục Ngâm”, sát khí quá nặng nề, nên sẽ đưa đất nước ta vào tình trạng yếu kém, tàn tạ hơn bao giờ hết. Phải đến khi bước vào Vận 5, nhờ địa thế “núi sông chầu phục”, vượng khí của Hà Nội mới bắt đầu bùng lên mãnh liệt, và cùng với nó là sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc. Qua Vận 6, Hà Nội sẽ phải đương đầu với những cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, do các sông lớn như Nhị Hà, sông Ðà đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc, nguồn nước lại rất lớn nên phạm phải cách “Phục Ngâm” rất nặng. May là cũng tại phía Tây Bắc lại có những mạch núi rất dài, rất cao tiến xuống, cuốn theo vượng khí ngút trời, đủ sức để trấn áp sát khí nên Hà Nội sẽ vượt qua được mọi thử thách để đi đến chiến thắng. Nói chung là trong Vận 6, ngay cả những thế lực hùng mạnh bậc nhất trên thế giới mà đụng đến Hà Nội cũng đều sẽ rước lấy những thất bại thảm hại, ê chề. Ðến Vận 7, những con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây Hà Nội sẽ tạo ra nhiều sát khí (bị “Phục Ngâm”). Nhưng ngoài xa nơi phía Ðông lại có vượng khí của đại thủy mênh mông chiếu tới, lấn át được sát khí, nên tuy hay bị những biến động về chính trị, nhưng là một giai đoạn tương đối yên lành, sung túc. Sang Vận 8, Hà Nội sẽ bước vào giai đoạn cực thịnh, sản sinh ra những lãnh tụ tài ba đem lại thanh bình và vinh quang cho đất nước.?Trong giai đoạn này tuy cũng có chiến tranh xảy ra, do khu vực phiá Ðông Bắc có rất nhiều sông ngòi chằng chịt. Nhưng cảnh thái bình, thịnh trị, sẽ nhanh chóng được tái lập vì vượng khí của các dãy núi trong khu vực Ðông Triều-Cẩm Phả sẽ đem đến cho Hà Nội rất nhiều may mắn, thuận lợi. Sang tới Vận 9, thời kỳ hưng vượng vẫn tiếp tục được duy trì, cho tới khi bước sang Vận 1 thì những mầm mống loạn lạc mới bắt đầu tái diễn trở lại.
Nếu nhìn lại lịch sử thì ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lãnh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về Phong thủy như Cao Biền đã bắt đầu để ý tới địa thế tốt đẹp của Hà Nội. Bởi thế nên ngay từ thời đó, họ đã cho xây thành ở khu vực này và đặt tên là thành Ðại La, nhưng ngôi thành này thường bị bỏ trống, ít khi được chú ý tới. Phải đến khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, ngài thấy Hoa Lư có địa thế quá nhỏ hẹp nên mới dời đô về đây và đổi tên là thành Thăng Long. Lúc đó là năm 1010, thuộc Vận 3 Thượng Nguyên, xét về vận khí thì đây chính là lúc suy vong của Hà Nội. Nhưng cũng may cho nhà Lý là Hà Nội khi trước đã bị bỏ trống từ lâu, đến lúc đó mới được chọn làm đế đô nên vận khí chưa thể ảnh hưởng mạnh mẽ ngay đến cục diện của đất nước. Mặc dù vậy, trong suốt thời gian cai trị của Ngài (1010- 1028), giặc giã nổi lên khắp nơi, khiến cho nhà vua và các hoàng tử phải luân phiên nhau đi đánh dẹp mới giữ vững được quốc gia và bảo tồn được ngôi báu cho nhà Lý.
Khi vua Thái Tổ qua đời, Thái tử Phật Mã lên nối ngôi (1028), hiệu là Lý Thái Tông, lúc đó đang ở trong Vận 4 Trung Nguyên. Ngay lúc đó, Ngài đã phải lo đối phó với cuộc tranh giành ngôi báu của các hoàng tử khác, nhờ có danh tướng Lê phụng-Hiểu phò tá nên Ngài mới dẹp yên được cuộc nổi loạn đó.
Năm 1038, cũng trong Vận 4, Nùng tồn Phúc nổi loạn ở Lạng Sơn, tự xưng là Hoàng đế, thanh thế rất lớn, khiến vua Thái Tông phải thân đi chinh phạt mới dẹp yên được.
Năm 1044, bước sang Vận 5, vượng khí đã bắt đầu dến với Hà Nội, vua Thái Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Quân ta đại thắng, chiếm được kinh đô Phật Thệ của nước Chiêm.
Năm 1048, cũng trong Vận 5, Nùng trí Cao (con Nùng tồn Phúc) lại nổi loạn ở Lạng Sơn, âm mưu dựa vào nhà Tống bên Tàu để chống lại nhà Lý. Nhưng vì lúc đó nhà Tống đang suy yếu, chưa muốn sinh sự với Ðại Việt, nên âm mưu này bị thất bại. Sau đó, Nùng trí Cao bị nhà Lý đánh phải chạy sang Tàu cướp phá, rồi bị tướng nhà Tống là Ðịch Thanh dẹp tan.
Năm 1068, trong Vận 6 Trung Nguyên, biết được Chiêm Thành bí mật liên kết với nhà Tống, không chịu thần phục nước ta, vua Lý Thánh Tông cùng với Lý thường Kiệt bèn cất quân đi chinh phạt. Quân ta đại phá quân Chiêm, bắt được Chiêm vương là Chế Củ. Sau cuộc chiến này, Chiêm Thành không những bị bắt buộc phải thần phục nước ta, mà còn phải cắt 3 châu (hay 3 tỉnh) dâng nạp để tạ tội.
?Vào cuối năm 1075, cũng trong Vận 6, thấy nhà Tống có ý muốn đánh nước ta, Lý thường Kiệt liền dẫn quân sang đánh chiếm Khâm châu, Ung châu và Liêm châu của nhà Tống, phá hủy mọi căn cứ và những kho tàng quân sự rồi rút về.
Ðầu năm sau, vẫn trong Vận 6, vua Tống cử Quách Quỳ làm đại tướng, ồ ạt dẫn quân sang đánh nước ta báo thù, nhưng bị Lý thường Kiệt chận đánh kịch liệt bên bờ sông Như Nguyệt, suốt mấy tháng trời không tiến binh nổi. Thấy lực lượng bị hao mòn nhiều và biết không thể thắng nổi nước ta, Quách Quỳ bèn chấp nhận giảng hòa rồi rút hết quân trở về.
Năm 1103, vào cuối Vận 7, Lý Giác khởi loạn ở vùng Nghệ An, rồi liên kết với cả Chiêm Thành, Lý thường Kiệt phải tự đem quân vào đánh mới dẹp yên được.
Trong suốt Vận 8 (1104 – 1123), nước ta sống trong cảnh thái bình thịnh trị. Bước sang Vận 9, vào những năm 1128, 1132, 1135, Chân Lạp nhiều lần cho quân ra quấy phá Nghệ An, nhưng đều bị nhà Lý dẹp tan nên cuối cùng lại xin thần phục.
Năm 1138, vào cuối Vận 9, vua Lý anh Tông mới có 3 tuổi lên ngôi, nhưng nhờ có ông Tô hiến Thành là một trung thần tài ba phò tá nên trong suốt thời gian cai trị của ngài (1138 – 1175, tức là từ cuối Vận 9 qua tới giữa Vận 2), đất nước vẫn tương đối được ổn định. Ðến khi Tô hiến Thành qua đời (1179), nhà Lý bắt đầu bước vào thời kỳ suy vong. Dưới thời vua Lý cao Tông (1176 – 1210, tức là từ giữa Vận 2 cho đến giai đoạn đầu của Vận 4), giặc giã nổi lên như ong, trong triều đình từ vua tới quan đều bất tài, không đối phó nổi với tình thế. Năm 1208, Quách Bốc nổi loạn, rồi đem quân về đốt phá kinh thành, khiến vua Cao Tông phải dẫn Thái tử Sam bỏ chạy. Sau phải nhờ Trần Lý đem quân về dẹp loạn mới lấy lại được kinh đô, nhưng quyền bính lại lọt hết về tay họ Trần. Trong suốt thời gian còn lại của Vận 4 (1210 – 1223), vương quyền của nhà Lý mỗi lúc một suy yếu, tàn tạ. Ðể rồi vào năm 1225, Trần thủ Ðộ diệt nhà Lý, đặt cháu làTrần Cảnh lên làm vua và lập ra nhà Trần.
Khi nhà Trần được sáng lập thì cũng là lúc mới bước vào Vận 5, vượng khí bắt đầu đến với Thăng Long (Hà Nội), nên đây là lúc mà sức mạnh của đất nước được bộc phát trở lại. Nhưng triều đình nhà Lý đã quá suy nhược, hèn yếu, do đó phải nhường chỗ cho một thế lực chính trị khác, có đầy đủ khả năng và nghị lực, để dẫn dắt dân tộc tiến lên. Rồi ngay từ những ngày đầu, Trần thủ Ðộ đã tiến hành nhiều cuộc canh tân, cải cách, diệt trừ nội loạn (kể cả việc giết hại con cháu họ Lý). Nhờ thế nên chẳng bao lâu, các nền chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trên đất nước ta đều được khôi phục và phát triển trở lại. Nhưng trong lúc đó, xứ Mông Cổ cũng đang nổi lên thành một thế lực đế quốc hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử thế giới, đánh chiếm được hầu hết Á Châu rồi tràn sang đến tận vùng Ðông Âu. Sau khi đã chiếm được phần lớn đất đai của Trung Hoa, Mông Cổ bắt đầu dòm ngó tới Việt Nam.
Năm 1257,?rong Vận 6 Trung Nguyên, chúa Mông Cổ là Hốt tất Liệt phái danh tướng Ngột-lương-hợp-Thai đem quân đánh chiếm nước Ðại Lý (Thuộc tỉnh Vân Nam bây giờ), rồi sau đó tiến xuống chiếm luôn Việt Nam. Ngột-lương-hợp-Thai tiến binh rất nhanh, chỉ trong 1 tháng đã diệt được nước Ðại Lý, rồi thừa thắng tiến vào nước ta. Trước sức mạnh của quân địch, vua tôi nhà Trần phải bỏ Thăng Long rút về Hưng Yên, áp dụng chiến lược “vườn không nhà trống” để đối phó. Chẳng bao lâu sau, khi thấy quân Mông Cổ suy yếu vì không được tiếp tế lương thực, thuốc men đầy đủ, nhà Trần mở cuộc tổng phản công, đánh bại quân địch ở Ðông bộ Ðầu, khiến cho Ngột-lương-hợp-Thai phải rút quân tháo chạy về Vân Nam.
Sau chiến thắng này và cho đến hết năm 1283, tức là từ giữa Vận 6 cho đến hết Vận 7, nhà Trần phải trải qua cuộc đấu tranh đầy cam go và thử thách về ngoại giao với nhà Nguyên (tức đế quốc Mông Cổ).
Ðầu năm 1285, thuộc Vận 8 Hạ Nguyên, Hốt tất Liệt sai thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ hai. Ðây chính là lúc vận khí của Hà Nội đang trong giai đoạn cực thịnh, nên mặc dù quân Mông Cổ tinh nhuệ và đông đảo chưa từng có, nhưng chỉ sau 5 tháng giao tranh, bọn chúng đã bắt đầu nao núng. Trước tình hình đó, quân ta phản công, đại thắng quân địch trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp, giết Lý Hằng, chém Toa Ðô, còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy về Tàu.
Quá căm tức vì cuộc thất trận này, vào cuối năm 1287, cũng trong Vận 8, Hốt tất Liệt lại sai Thoát Hoan đem 30 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ ba. Nhưng lần này thì quân địch còn bị thảm bại nhanh chóng hơn, vì sau khi đoàn thuyền lương của chúng bị ta phá tan ở Vân Ðồn, Thoát Hoan đành phải chia quân thành 2 đường thủy-bộ rút lui. Ðạo thủy quân của địch bị ta chận đánh tan tành trên sông Bạch Ðằng, những danh tướng như Ô-mã-Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt sống. Còn đạo quân dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan theo đường bộ rút về cũng bị chận đánh kịch liệt, các đại tướng như A-bát-Xích, Trương Ngọc đều bị tử trận, Thoát Hoan phải vất vả lắm mới vượt qua được ải Nam Quan trốn thoát.
Xét về 2 cuộc đại thắng quân Mông Cổ của nhà Trần sau này đều xảy ra trong Vận 8, giữa lúc vận khí của Hà Nội đang đi đến giai đoạn cực thịnh. Lúc này, nhờ những dãy núi dài hàng ngàn dậm ở phía Ðông Bắc hướng tới, thần lực của Hà Nội thật vô cùng mãnh liệt, nên không một thế lực hùng mạnh nào có thể lay chuyển được. Bởi thế nên chẳng những tinh thần quật cường, bất khuất của cả dân tộc ta lúc đó đang bùng lên đến mức tột độ, mà những anh hùng tài ba lỗi lạc cũng xuất hiện rất nhiều. Từ những vị vua như Trần thái Tông, Trần Nhân Tông, đến những danh tướng như Trần quang Khải, Trần khánh Dư, Trần nhật Duật, Phạm ngũ Lão….và đặc biệt là vị đại anh hùng dân tộc Hưng đạo Vương Trần quốc Tuấn. Chính vì thế nên dù cho đế quốc Mông Cổ có hùng mạnh đến đâu, quân đội của chúng có đông đảo, thiện chiến, tinh nhuệ tới mức nào đi nữa, khi bước đến Việt Nam cũng không thể tránh được sự thảm bại.
Sau 2 cuộc đại thắng này, nhà Trần hưởng cảnh thanh bình, thịnh vượng được hơn 40 năm (1288-1233), tức là từ những năm còn lại của Vận 8 (16 năm) qua hết Vận 9 vào đến giữa Vận 1. Duy chỉ có việc vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm, nhưng sau đó lại bắt về làm nảy sinh ra sự hiềm khích giữa 2 nước. Năm 1307, đầu Vận 9, Chiêm Thành đem quân sang quấy rối nước ta, nhưng bị nhà Trần đánh cho đại bại, Chiêm Vương Chế Chí bị bắt đem về giam ở Hà Nội.
Năm 1334, vào giữa Vận 1, giặc Lào bắt đầu kéo sang phá phách. Mặc dù bị đánh bại, nhưng sau đó chúng vẫn tiếp tục trở lại cướp phá thường xuyên, khiến cho vua tôi nhà Trần phải vất vả lo toan đánh dẹp và phòng thủ biên giới.
Kể từ đời vua Trần dụ Tông (lên ngôi năm 1341 tức cuối Vận 1) thì nhà Trần bắt đầu suy yếu, vì nhà vua chỉ biết vui chơi, giữa lúc nhân dân đói khổ, lầm than. Năm 1353, thuộc Vận 2, thấy nước Chiêm có nội chiến, vua Dụ Tông bèn đem quân sang can thiệp nhưng bị quân Chiêm đánh bại.
Năm 1367, đầu Vận 3, nhà Trần lại cử đại quân vào đánh Chiêm Thành, nhưng cũng bị đại bại như lần trước, chủ tướng của quân ta bị quân địch bắt sống.
Năm 1377, cũng trong Vận 3, vua Trần duệ Tông và Hồ quý Ly huy động 12 vạn quân thủy-bộ vào đánh Chiêm Thành. Nhưng khi tiến tới Ðồ Bàn thì bị vua Chiêm là Chế bồng Nga đánh tan, vua Trần bị tử trận, còn Hồ quý Ly phải tháo chạy trở về. Thắng trận này, Chế bồng Nga liên tiếp 3 lần đem quân ra đánh chiếm Thăng Long, cướp phá kinh thành rồi trở về.
Năm 1389, đầu Vận 4, trong lúc Chế bồng Nga đang đem quân sang đánh nước ta lần thứ 4 thì có nhà sư tên Phạm sư Ôn lại nổi loạn, khiến triều đình nhà Trần vô cùng bối rối. May nhờ Chế bồng Nga bị trúng đạn tử trận, quân Chiêm mới lui binh, rồi loạn Phạm sư Ôn cũng được dẹp yên. Nhưng đến lúc này, nhà Trần đã quá suy yếu, quyền hành lọt hết vào tay Hồ quý Ly. Họ Hồ mỗi ngày một tạo dựng thêm vây cánh khắp triêù đình, để rồi đến năm 1400 (cuối Vận 4) thì diệt nhà Trần, lên ngôi và lập ra nhà Hồ.
Xét về những cuộc thất bại của nhà Trần dưới tay quân Chiêm đều xảy ra vào khoảng từ giữa Vận 2 đến đầu Vận 4, là những giai đoạn mà vận khí của Hà Nội rất suy yếu. Bởi thế nên mặc dù nước ta rộng lớn hơn, tiềm lực về kinh tế lẫn quân sự đều hùng hậu hơn Chiêm quốc, vậy mà vẫn bị họ đánh cho khốn đốn, khiến vua, tôi nhà Trần nhiều phen phải bỏ cả kinh đô mà chạy. Ðúng ra trong những giai đoạn đó, nhà Trần chỉ nên án binh bất động, không nên tranh hùng với địch quốc, vì một khi vận khí của kinh đô đã quá suy yếu thì không thể chiến thắng được ai. Ngay cả đến việc diệt trừ nội loạn như cuối đời nhà Lý (cũng trong các Vận 3,4) mà còn chưa làm nổi thì làm sao có thể chiến thắng được các quốc gia thù địch ở bên ngoài. Tuy nhiên, trong các Vận 3 và 4, sát khí của biển Ðông quá mạnh, nên dù nhà Trần có hòa hoãn với các nước lân cận thì cũng bị những cuộc nổi loạn trong nước làm cho điêu đứng để rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt
Khi Hồ quý Ly lên ngôi, việc đầu tiên của ông là cho dời thủ đô về Tây Ðô ở Thanh Hóa, rồi cho tiến hành nhiều cải cách táo bạo về chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội và quân sự. Nhưng vào năm 1407, đầu Vận 5, khi nhà Minh mượn tiếng “phù Trần diệt Hồ” đem quân sang xâm lăng nước ta thì nhà Hồ bị tan rã và sụp đổ nhanh chóng. Một lần nữa, dân tộc ta lại nằm dưới ách cai trị của người Tàu.
Nếu xét về phương diện Phong thủy và vận khí thì sự sụp đổ của nhà Hồ là do 2 nguyên nhân chính. Thứ nhất là khi Hồ quý Ly cướp ngôi nhà Trần, vận khí của thủ đô Thăng Long đang ở trong giai đoạn tàn tạ, suy yếu đến tột độ (Vận 4). Nên dù ông có cố công canh tân, cải cách thế nào đi nữa, nước ta yếu vẫn hoàn yếu, mà lòng người dân lại càng không phục, bất mãn. Thứ hai là việc ông lập Tây Ðô (thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa bây giờ) làm thủ đô mới của nước ta. Ðây là một vùng đất chật hẹp, lại bị long mạch của dãy Hoàng liên Sơn tiến tới đâm sát vào. Ðối với Phong thủy, địa thế như vậy không được coi là có Long (núi) chầu phục, mà chính là thế bị Long tiến tới bức bách, áp chế, khiến cho vượng khí bị thất tán, còn sát khí thì tràn ngập cả kinh đô. Bởi thế nên ngay từ khi lên ngôi, Hồ quý Ly đã gặp phải những áp lực nặng nề từ trong và ngoài nước, để rồi đến khi quân Minh sang đánh nước ta thì nhà Hồ liền bị sụp đổ nhanh chóng. Mặt khác, vào lúc đó, vận khí của Bắc Kinh đang ở trong giai đoạn cực kỳ hưng vượng (thành Bắc Kinh chủ phát vào các Vận 5, 6, và 7). Do đó, nếu đem vận khí của Tây Ðô đối chọi với vận khí của Bắc Kinh lúc đó thì làm sao nhà Hồ không lãnh lấy cái hậu quả diệt vong, mất nước được. Nếu như Hồ quý Ly không dời đô, thì tuy ông sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm đầu, nhưng khi bước vào Vận 5 (1404) vượng khí sẽ trở lại với Thăng Long. Lúc đó, sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc lại trào dâng mạnh mẽ thì thử hỏi nhà Minh làm sao có thể đánh chiếm và đô hộ nước ta ngót 20 năm được?
Nhưng cũng may dân tộc ta, khi quân Minh thiết lập nền đô hộ, chúng lại lấy Thăng Long (lúc đó đã đổi tên là Ðông Ðô) làm trung tâm điều hành việc cai trị, trực tiếp nhận lệnh điều khiển từ Bắc Kinh. Nhưng chúng không biết rằng trong các Vận 5, 6, 8, nếu là một trung tâm quyền lực chính trị thì Thăng Long sẽ không bao giờ là chư hầu của bất cứ một thành phố nào trên thế giới. Do đó, những phong trào kháng chiến bùng nổ khắp nơi, cho đến khi Lê Lợi tụ tập được anh hùng hào kiệt, phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn thì nền độ hộ của quân Minh đã bước vào thời kỳ tàn cuộc. Vào năm 1426, đầu Vận 6, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang nước ta để đối phó với phong trào kháng chiến của Lê Lợi, nhưng đạo quân này bị ta đánh tan ở Tuy Ðộng. Năm sau, cũng trong Vận 6, nhà Minh lại phái Liễu Thăng và Mộc Thạnh đem 15 vạn quân sang nước ta hòng cứu vãn tình thế. Nhưng khi 10 vạn quân của Liễu Thăng bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn trong các trận đánh Chi Lăng, Tốt Ðộng-Chúc Ðộng, nhà Minh không còn cách gì khác hơn là rút hết quân về nước và thừa nhận nền độc lập của dân tộc ta.
Ðánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, Lê Lợi liền lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thái Tổ và lập ra nhà Lê, nhưng Ngài chỉ ở ngôi được 6 năm (1428 – 1433) thì qua đời. Con Ngài lên thay lấy hiệu là Thái Tông (1434 – 1442). Dưới thời vua Thái Tổ và Thái Tông, có nhiều vụ giết hại những công thần danh tiếng như Trần nguyên Hãn, Phạm văn Xảo, Lê Sát, Nguyễn Trãi… xảy ra. Ðó chẳng qua là vì trong suốt Vận 6, nước ta thường bị đe dọa bởi những cuộc chiến tranh lớn hay những vụ khủng hoảng chính trị trầm trọng. Nhưng sau những trận đại thắng quân Minh trước đây, không còn một nước nào trong khu vực dám xâm phạm bờ cõi nước ta nữa. Do đó mới xảy ra những vụ giết hại công thần rất đẫm máu vừa kể trên.
Sau thời vua Lê thái Tông, nước ta tương đối được ổn định trong suốt 16 năm. Ðến năm 1459, trong Vận 7 Hạ Nguyên, hoàng thân Nghi Dân đem quân về giết vua đoạt lấy ngai vàng, nhưng chỉ không đầy 1 năm sau thì lại bị các quan đại thần phế đi, rồi lập em là Gia Vương Tư Thành lên ngôi, lấy hiệu là Lê thánh Tông.
Dưới thời vua Lê thánh Tông (1460 – 1497, tức là từ cuối Vận 7 qua hết Vận 8 cho tới gần cuối Vận 9), nước ta trở thành một cường quốc hùng mạnh bậc nhất trong vùng Ðông Nam Á. Ở trong nước, nhà vua cho tiến hành nhiều cải cách: từ chính trị, kinh tế đến luật lệ, thuế khóa…. khiến đời sống người dân được yên ổn, sung túc. Ở ngoại biên, vua Lê thánh Tông huy động những cuộc viễn chinh có quy mô rất lớn: năm 1470, Ngài đem 26 vạn quân đi đánh và chiếm đất Chiêm Thành. Năm 1479, Ngài đem 18 vạn quân sang dẹp yên xứ Lão Qua; sang năm sau, lại đem 30 vạn quân xuống diệt xứ Bồn Mang. Thấy nước ta khống chế các nước lân bang nơi phía Nam, Minh triều tỏ ý bực tức nhưng chẳng làm gì được. Bởi vì trong Vận 8, nguyên khí của thành Bắc Kinh đã đến thời kỳ suy yếu, không thể nào đối chọi nổi với cái hùng khí của Thăng Long thủa ấy.
Sau khi vua Lê thánh Tông băng hà, dân tộc ta vẫn tiếp tục sống trong cảnh thái bình thịnh trị dưới thời vua Lê hiến Tông (1497 – 1504, tức là từ những năm cuối của Vận 9 sang đến đầu Vận 1). Nhưng kể từ đó trở đi, nhà Lê bắt đầu suy yếu với những ông vua xa xỉ, độc ác như Lê uy Mục (1505 – 1509), Lê tương Dực (1510 – 1516) , khiến cho trăm họ đói khổ, giặc giã nổi lên như ong. Lợi dụng tình thế rối ren đó, một võ tướng có tài là Mạc đăng Dung bắt đầu gây dựng thế lực: diệt trừ những cuộc nổi loạn và những phe cánh đối lập. Khi đã thâu tóm trọn quyền bính trong tay, Mạc đăng Dung liền cho người giết vua Lê cung Hoàng rồi tự xưng làm hoàng đế và lập ra nhà Mạc vào năm 1527, lúc đó đang là đầu Vận 2 Thượng Nguyên. Nhưng chẳng được bao lâu sau thì con cháu nhà Lê, được sự phò tá của 2 họ Trịnh -Nguyễn, lại bắt đầu nổi lên ở Nghệ-an để tạo thành thế Nam – Bắc triều. Trong suốt thời gian từ năm 1540 cho đến năm 1583, tức là từ cuối Vận 2 cho đến hết Vận 4, cả 2 bên đều mở rất nhiều cuộc tấn công quyết liệt, nhưng không bên nào dành được thắng lợi trọn vẹn. Phải đến năm 1591 (trong khoảng đầu Vận 5), Trịnh Tùng kéo đại quân ra Bắc, chiếm được thành Thăng Long, nhưng lại cho san thành bình địa rồi rút về. Sang năm sau, Trịnh Tùng lại đem quân ra Bắc lần nữa mới thực sự diệt được nhà Mạc và bình định được đất Bắc.
Nếu xét tới sự thất bại của nhà Mạc thì lý do không ngoài việc Mạc đăng Dung đã vội vã cướp ngôi nhà Lê quá sớm. Thật vậy, lúc đó đang là đầu Vận 2, nguyên khí nước ta đang dần dần bị suy thoái, nên dù ông có cố công gắng sức trong việc cai trị, tình thế mỗi lúc một trở nên đen tối. Trong các Vận 3, 4, nhà Mạc mỗi lúc một tàn tạ, suy nhược, nên khi bước vào Vận 5 thì bị tiêu diệt. Bởi vì lúc đó vượng khí đã bắt đầu trở về với Thăng Long, nên những chế độ mục nát, suy tàn sẽ bị quét sạch để nhường bước cho những thế lực chính trị mớí, có đầy đủ khả năng và nghị lực để đối phó với tình thế. Tuy nhiên, khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, lại cho quân phá tan thành bình địa, khiến cho vượng khí bị thất tán, làm suy giảm rất nhiều thần lực của kinh đô. Bởi thế nên sau này, họ Trịnh chẳng những phải hao tổn rất nhiều thời gian và công sức mới trừ hết được những dư đảng của nhà Mạc, mà còn không khuất phục được họ Nguyễn ở phương Nam. Ngay cả trong các Vận 8 (1644 – 1663) và Vận 9 (1664 – 1683) là những giai đoạn tốt đẹp nhất của Thăng Long, họ Trịnh vẫn không thống nhất được đất nước, khiến cho tình trạng Nam – Bắc phân tranh kéo dài ngót 100 năm.
Giữa lúc 2 phe Trịnh – Mạc đang giao tranh quyết liệt ở ngoài Bắc, họ Nguyễn liền lợi dụng cơ hội đem quân vào Nam gây dựng thế lực ở Thuận Hóa (tức khu vực từ Quảng Bình vào tới Quảng Nam bây giờ). Ðến khi nhà Mạc bị diệt thì họ Nguyễn đã bắt đầu đủ mạnh để đối phó với họ Trịnh. Lúc này, vua Lê chỉ còn là bù nhìn, mọi quyền hành đều lọt vào trong tay chúa Trịnh (ở ngoài Bắc) và chúa Nguyễn (ở trong Nam). Rồi trong suốt thời gian từ năm 1627 đến năm 1672 (tức là từ đầu Vận 7 cho đến giữa Vận 9), hai bên 7 lần đại chiến tại khu vực Hà tĩnh -Quảng bình. Nhưng vì không bên nào dành được thắng lợi quyết định, nên đành lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi đất nước.
Tuy nhiên, mặc dù không thống nhất được đất nước, nhưng trong thời gian đầu, các chúa Trịnh đều là những nhà lãnh đạo có tài, biết chăm lo việc nước nên đời sống của người dân cũng được yên lành, sung túc. Chỉ đến đời chúa Trịnh Giang (1729 – 1740 tức là bắt đầu từ Vận 3 trở đi) thì nền cai trị của nhà Trịnh đã bắt đầu lung lay. Dưới chế độ thuế khóa, phu dịch quá nặng nề của triều đình, người dân vô cùng đói khổ, lầm than, dẫn đến nhiều cuộc nổi loạn liên tiếp trong suốt 30 năm (1739 – 1769), khiến cho triều đình phải đánh dẹp vô cùng vất vả. Ðến đời chúa Trịnh Sâm (1767 – 1782 tức là trong Vận 5), do cũng có năng lực, lại được những đại thần có tài như Bùi thế Ðạt, Hoàng ngũ Phúc, Lê quý Ðôn …. phò tá nên chẳng những dẹp yên được các cuộc nổi loạn, mà còn bắt đầu bành trướng thế lực của họ Trịnh xuống phương Nam. Nhưng khi ông qua đời, con là Trịnh Khải lên thay lại tỏ ra bất tài, hèn yếu, không làm chủ được tình thế, để cho kiêu binh lộng hành, khiến cho miền Bắc trở nên rối loạn. Giữa lúc đó, nước Trung Hoa ngày càng hùng mạnh dưới sự lãnh đạo của vua Càn Long, lại đang chủ trương xâm chiến các nước láng giềng để mở rộng cương vực. Trước mối đe dọa nghiêm trọng đó, nhà Trịnh bắt buộc phải cáo chung để mở lối cho sự xuất hiện của một vị đại anh hùng dân tộc mới: hoàng đế Quang- Trung Nguyễn Huệ.
Còn về phần các chúa Nguyễn ở trong Nam thì mặc dù hùng cứ một phương, nhưng trên danh nghĩa vẫn là tôi thần của vua Lê, không lập nước hoặc kinh đô riêng nên vẫn phụ thuộc vào vận khí của Thăng Long. Do đó, trong những giai đoạn đầu, các chúa Nguyễn cũng rất tài giỏi, biết cách an dân, trị nước, đồng thời tiếp tục mở rộng lãnh thổ nước ta cho đến tận Hà Tiên. Sau này, dưới thời các chúa Nguyễn phúc Trú (1725 – 1738) và Nguyễn phúc Khoát (1738 – 1765) tức là trong các Vận 3 và 4, triều đình trong Nam đã bắt đầu suy yếu, những cuộc Nam tiến hầu như đã bị đình trệ hẳn. Kể từ năm 1765 tức là đầu Vận 5, triều đình của chúa Nguyễn lại càng thối tha, mục nát vì sự lộng hành của quyền thần Trương phúc Loan, khiến cho muôn dân lầm than, đói khổ. Trước tình hình đó, 3 anh, em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ liền đứng lên phát động cuộc khởi nghĩa vào năm 1772, lúc đó đang là giữa Vận 5 Trung Nguyên.
Chỉ trong một thời gian ngắn, anh, em nhà Tây Sơn đã chiếm đươc trọn vẹn đất đai của chúa Nguyễn, nên vào năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng làm hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn (thành Ðồ Bàn cũ) và lập ra nhà Tây Sơn.
Nhưng ở đất Gia Ðịnh, khi anh, em Tây Sơn vừa rút đi 1 tôn thất nhà Nguyễn là Nguyễn Ánh lại trở về mộ binh chống lại. Trong 2 năm 1782, 1783, Nguyễn Ánh bị Nguyễn Huệ đánh bại liên tiếp nên phải chạy sang Thái Lan cầu cứu. Năm 1784, đầu Vận 6, Thái Lan đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền sang chiếm nước ta, nhưng vừa tiến tới Mỹ Tho thì bị Nguyễn Huệ đánh tan tành trên sông Rạch Gầm – Xoài Mút, khiến cho Nguyễn Ánh và đám tàn quân Xiêm phải tháo chạy về Băng Cốc.
Bình định được trong Nam, Nguyễn Huệ liền nghĩ đến chuyện Bắc phạt. Vào giữa năm 1786, ông đem quân ra đánh Thuận Hóa, rồi tiến về Thăng Long như vũ bão. Chỉ trong 1 tháng ông đã chiếm được kinh đô của đất Bắc, diệt chúa Trịnh, trao trả quyền hành cho vua Lê rồi trở về Nam. Nhưng vua Lê bất tài, không điều hành nổi chính sự, nên lộng thần lại nổi lên, tác oai tác quái, khiến cho Nguyễn Huệ phải ra Bắc lần nữa để diệt trừ những phần tử sâu dân, mọt nước, thiết lập chính quyền mới rồi lại trở về Nam.
Trong khi đó, vì bị loại ra khỏi nền chính sự Việt Nam, vua Lê uất hận bèn chạy sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Ðược lời như cởi tấc lòng, vào cuối năm 1788, cũng đang trong Vận 6, vua Càn Long liền sai Tôn sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang chiếm nước ta. Nhưng khi chúng vừa dừng lại để ăn Tết thì từ Phú Xuân, Nguyễn Huệ lập tức lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi kéo 10 vạn binh ra Bắc. Bằng một chiến dịch tốc chiến tốc thắng có một không hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam và có lẽ của cả thế giới, chỉ trong vòng 5 ngày, vua Quang Trung đã đập tan một lực lượng quân sự tinh nhuệ và đông đảo hơn mình gấp bội, với những chiến thắng Hà Hồi, Ngọc Hồi, Ðống Ða. Những đại tướng Thanh như Hứa thế Hanh, Thượng duy Thăng, Sầm nghi Ðống phải bỏ mạng, còn Tôn sĩ Nghị một mình một ngựa hối hả vượt qua ải Nam Quan trốn về Tàu.
Tiếc thay, sau chiến thắng oanh liệt này, vua Quang Trung lại không đóng đô ở Thăng Long đề duy trì và mở mang sự nghiệp (vì lúc đó đang trong Vận 6, nên vượng khí ở Thăng Long đang trào dâng vô cùng mãnh liệt). Trái lại, Ngài vẫn tiếp tục dùng Phú Xuân làm kinh đô, mà không biết rằng trong Vận 6, thành phố này sẽ gặp nhiều tai họa (sẽ nói rõ ở phần sau). Bởi thế cho nên sau khi Ngài qua đời (1792), Nguyễn Ánh ở đất Gia Ðịnh dần dần khôi phục được lực lượng đem quân ra chiếm Phú Xuân (1801), diệt nhà Tây Sơn (1802), rồi lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long và lập ra nhà Nguyễn. Kể từ đây, Phú Xuân trở thành thủ đô của đất nước, còn Thăng Long (sau này đổi là Hà Nội) chỉ còn là một thành phố lớn trên đất Bắc mà thôi. Rồi trải qua các đời vua triều Nguyễn, đất nước ta mỗi ngày một suy yếu, dẫn tới cuộc xâm lăng và đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp. Ðến năm 1945 khi vua Bảo Ðại thoái vị, Hồ chí Minh cướp chính quyền, tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập chính phủ ở Hà Nội thì lúc đó đã bước vào Vận 5 Trung Nguyên.
Năm 1946, Pháp đem quân trở lại Việt Nam, dự định tái lập chế độ thuộc địa trrên đất nước ta lần nữa. Nhưng lúc đó đang trong Vận 5, tinh thần quật khởi của dân tộc ta lại trào dâng mạnh mẽ, nên sau 9 năm chiến tranh khốc liệt, thực dân Pháp bị đại bại ở Ðiện biên Phủ, buộc lòng phải rút quân ra khỏi nước ta. Tuy nhiên, vào lúc này, do sự phân rẽ về ý thức hệ giữa 2 khối Tự do và Cộng sản, nước ta bị chia cắt làm 2 miền. Miền Nam theo chế độ Tự do, dưới sự lãnh đạo của Ngô đình Diệm, đóng đô tại Sài Gòn; miền Bắc theo chế độ Cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh, đóng đô ở Hà Nội. Lúc đó là năm 1954, cũng vẫn trong Vận 5.
Nhưng vào lúc xảy ra sự phân chia đất nước, Sài Gòn đang nằm trong một giai đoạn xấu và một địa thế bất lợi (sẽ nói rõ hơn ở phần sau), nên tuy đời sống của người dân miền Nam được tự do, sung túc hơn miền Bắc, chính phủ miền Nam vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn, bị khủng hoảng chính trị và tôn giáo liên tục. Trong khi đó, mặc dù đời sống của người dân miền Bắc rất nghèo đói dưới chế độ độc tài Cộng sản, thế lực chính trị và quân sự của Hà Nội ngày càng đè nặng lên trên chính phủ và nhân dân miền Nam. Bước sang Vận 6 (1964 – 1983), khí thế của Hà Nội lại càng bùng lên mãnh liệt. Nên mặc dù Sài Gòn được Hoa Kỳ và đồng minh đem quân trợ chiến, đồng thời cho máy bay oanh kích miền Bắc rất ác liệt trong nhiều năm, nhưng vẫn không đánh bại nổi Hà Nội. Cuối cùng, Hoa kỳ quá chán nản nên đành rút chân ra khỏi Việt Nam, rồi đến năm 1975 (cũng trong Vận 6) thì Sài Gòn sụp đổ trước cuộc tấn công của quân đội miền Bắc.
Sau cuộc chiến tranh này, khí thế của Hà Nội vẫn còn rất mạnh, nên chẳng những khống chế cả 2 nước Lào và Cam Bốt, mà còn làm cho mọi quốc gia trong vùng Ðông Nam Á khiếp sợ. Khi Cộng sản Cam Bốt muốn liên minh với Trung Cộng để tách rời ra khỏi vòng kiểm soát của Hà Nội, thì liền bị Hà Nội đem quân đánh tan chỉ trong vòng 2 tuần lễ. Thấy chư hầu của mình bị Việt cộng ngang nhiên đè bẹp, Trung Cộng tức giận đem hơn 200, 000 quân sang đánh miền Bắc vào năm 1979 (vẫn trong Vận 6) nhưng bị đẩy lui dễ dàng.
Hiện tại đang là Vận 7 Hạ Nguyên (1984 – 2003), nếu tính theo vận khí của Hà Nội thì tuy nước ta không phải là quốc gia giàu mạnh nhất trong vùng Ðông Nam Á, nhưng cũng không đến nỗi quá nghèo nàn, lạc hậu như bây giờ. Ðó là vì vào những năm đầu của thập niêm 80, Cộng sản Việt Nam cho thiết lập nhiều đập thủy điện lớn trên những con sông Ðà, sông Mã. Trong Vận 7, những con sông này đã đem sát khí đến cho Hà Nội, giờ đây lại còn có những đập thủy điện hoạt động ngày đêm, khiến cho sát khí càng bốc lên dữ dội. Bởi thế nên trong thời gian gần đây, Hà Nội bị khủng hoảng chính trị liên miên: hết Nguyễn văn Linh tới Ðỗ Mười, rồi đến Lê khả Phiêu và bây giờ là Nông đức Mạnh. Nhưng càng thay đổi, giới lãnh đạo ở Hà Nội lại càng tỏ ra bất tài, không tìm nổi một hướng đi nhất định cho dân tộc. Giữa lúc đó, tệ nạn tham nhũng lan tràn khắp nơi, trong khi người dân vẫn tiếp tục đói khổ, các giới công, nông, trí thức, thương nhân … đều cảm thấy tương lai quá mù mịt, xa vời.
Nhưng đối với bộ môn Phong thủy, tương lai lại rất tươi sáng cho dân tộc Việt Nam, bởi vì chỉ còn không đầy 2 năm nữa là đã tới Vận 8 Hạ Nguyên. Ðây chính là lúc mà đất nước ta trở nên giàu có và hùng mạnh nhất trong vùng Ðông Nam Á. Nếu những người Cộng sản không sớm biết thay đổi, cố công gắng sức chăm lo cho nước giàu dân mạnh. Mà chỉ lo vơ vét, ăn chơi hoang đàng xa xỉ như hiện nay, thì đến khi vượng khí lại đến với dân tộc, họ cũng sẽ bị quét sạch đi như những triều đại phong kiến trước đây trong buổi suy tàn.
Tóm lại, vận khí của Hà Nội là trung bình trong Vận 1, suy vi trong Vận 2, tàn tạ trong các Vận 3, 4, bắt đầu phục hưng trong Vận 5, kiêu dũng trong Vận 6, bình thường trong Vận 7, cực thịnh vào Vận 8 và Vận 9. Những Vận 1, 2, 7 thường có những cuộc chiến tranh nhỏ, hoặc những cuộc cướp ngôi, đảo chính; những Vận 3, 4 thường có rất nhiều giặc giã, trong khi giai cấp thống trị thì vô tài, bất lực. Vận 5 bao giờ cũng có những cuộc chiến tranh tương đối lớn, nếu không có thù trong thì sẽ có giặc ngoài; còn Vận 6 thì bao giờ cũng là những cuộc chiến quy mô chống lại những cường quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới. Trong lịch sử, chỉ có Vận 6 dưới thời chúa Trịnh Tùng (1604 – 1623) là nước ta không bị ngoại xâm trực tiếp. Nhưng dư đảng của nhà Mạc được nhà Minh bên Tàu gián tiếp giúp đỡ, khiến cho chúa Trịnh phải vất vả đánh dẹp suốt từ khi chiếm được Thăng Long (1591) cho đến năm 1625 (tức là qua tới Vận 7) mới trừ được hết. Trong Vận 8 cũng thường có những cuộc chiến tranh lớn (như dưới các thời Trần, Lê, Trịnh). Tuy nhiên, đời sống của người dân dưới thời này vẫn được sung túc hơn so với Vận 6, cũng như thực lực của đất nước cũng được hùng mạnh, dồi dào hơn. Chỉ có Vận 9 là đất nước được thanh bình, ít có chiến tranh, giặc giã hơn cả; nhưng về hùng khí cũng như sự phát triển đều không thể bằng Vận 8.
Một điểm nữa về địa thế Phong thủy của Hà Nội là tuy nằm trong thế “núi, sông chầu phục”, nhưng vì nước sông Hồng khi đi ngang qua Hà Nội chảy rất mạnh, chứ không êm đềm, uốn lượn. Vì lý do này nên những nhân vật xuất hiện vào đúng Vận 5 như Trần thủ Ðộ, Hồ chí Minh…. tuy có tài nhưng lại rất độc ác, phải là những anh hùng xuất hiện ở các Vận 6, 8 mới tránh được sát khí của sông Hồng để được nhân ái, hiền từ hơn. Ngoài ra, cũng vì lý do đó mà đất nước ta từ xưa đến nay không bao giờ được giàu có, dư dả như các cường quốc khác. Gặp lúc thịnh vượng thì chỉ tương đối sung túc, đến lúc suy vi thì sơ xác, điêu tàn. Sau này, nếu những nhà lãnh đạo đất nước có thể kiến tạo một công trình đào sưả dòng nước sông Hồng, sao cho nó uốn lượn một vài đoạn trước khi tới cũng như sau khi rời khỏi Hà Nội. Có như thế thì đất nước ta mới mong có ngày trở nên giàu có như những nước Anh, Pháp, Mỹ được.
Huế
2/ HUẾ: trước đây còn có tên là Phú Xuân, là thành phố nằm gần như ngay chính giữa nước Việt Nam, trong địa phận tỉnh Thừa Thiên (hay Bình-Trị-Thiên). Chính do vị trí chiến lược này nên mặc dù chỉ là một thành phố nhỏ, đất đai chung quanh cũng rất chật hẹp, Huế vẫn được chọn làm kinh đô của nước ta dưới thời nhà Tây Sơn (Nguyễn Huệ) cũng như nhà Nguyễn sau này. Nhưng vì nằm trong 1 vùng đất nhỏ hẹp, nên Huế cũng có đầy đủ núi, sông bao bọc. Xa xa nơi phía Tây Bắc, dãy Trường Sơn xuất phát từ miền thượng du Bắc Việt chạy xuống, nhưng không hướng về Huế mà chỉ đi qua khu vực phía Tây của thành phố rồi tiếp tục đi thẳng về phía Nam. Chỉ có những nhánh núi nhỏ tách ra từ đại long mạch của dãy Trường Sơn là tiến tới hướng về Huế mà thôi. Vì Huế chỉ được những nhánh núi nhỏ chầu phục (hướng tới), nên cũng chỉ có những con sông nhỏ, ngắn chạy tới để hộ vệ. Ðó chính là sông Hương bắt nguồn từ những dòng sông ở phía Nam (Quảng Nam) và Tây Nam (Lào) chảy ra rồi hợp lại. Nhưng khi tới gần Huế, sông Hương lại không chảy thẳng mà đột nhiên vòng lại, như muốn ôm lấy khu vực phía Nam và phía Ðông của thành phố này. Rồi còn ngoái đầu nhìn lại trước khi đổ ra biển nơi cửa Thuận An., thật là một cảnh sông nước hữu tình, chẳng trách nào con người Huế lại tao nhã, giỏi văn chương, thi phú. Không những thế, ở các phía Bắc, Ðông và Ðông Nam lại còn có Thủy của biển Ðông và Thái bình Dương bao bọc, tưởng sẽ đem đến cho Huế sự sung túc và phồn vinh vô hạn. Có lẽ cũng vì những lý do vừa kể trên mà các vua, chúa nhà Nguyễn mới chọn Huế làm đế đô (chứ không phải như vua Quang Trung chỉ thuần mục đích quân sự là muốn vào Nam, ra Bắc dễ dàng để dẹp loạn). Rồi họ còn cho đào sông Ðông Ba ở phía Bắc để tạo nên thế chân long cho kinh thành Huế, lấy con sông này và đoạn sông Hương ở phía Nam làm Thanh Long, Bạch Hổ, những vùng phụ cận làm hộ sa…. để tạo thêm uy thế cho đế đô.
Tuy nhiên, khi dựa vào những điểm tốt đẹp vừa kể trên để chọn Huế làm đất đóng đô, các vua, chúa nhà Nguyễn đã quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của Phong thủy. Ðó là độ dài, ngắn của những dãy núi (hay còn gọi là long mạch) đứng bao phủ, chầu phục chung quanh khu vực này. Lưu-kim-Tinh, một danh sư Phong thủy Trung Hoa viết: ” nơi sở tại của can long (tức những nơi có núi, sông tới chầu phục) cần phân rõ xa và gần. Can long xa ngàn dậm là đại đô thị (tức kinh đô lớn của những cường quốc); xa hai, ba trăm dậm là châu phủ; xa trăm dậm chỉ có thể là huyện thành, còn gần nữa là các trấn”. Mà nhìn lên bản đồ, ta thấy những dãy núi hướng về Huế chỉ là những nhánh nhỏ của mạch Trường Sơn, dài chừng 2, 3 chục cây số (tức khoảng trăm dậm). Rồi đến sông Hương tuy được cái thế uốn lượn hữu tình, nhưng từ chỗ phát nguồn cho đến khi đổ ra biển cũng chỉ dài chừng 5, 6 chục cây số. Với thế núi sông quá ngắn ngủi như vậy, chẳng trách gì mỗi khi một triều đại lập đế đô ở đây, thì chẳng bao lâu cũng bị diệt vong (như thời chúa Nguyễn, Tây Sơn) hoặc trở thành chư hầu của ngoại bang (như nhà Nguyễn). Ðó chỉ vì cái thế núi sông “xa trăm dậm chỉ có thể là huyện thành ” của Huế tạo ra mà thôi, vì nếu núi, sông quá ngắn thì không sao tạo ra đủ vượng khí cho một thành phố phát triển lên hùng mạnh được.
Một yếu tố quan trọng khác là vấn đề dựa vào đại thủy (nước biển) mênh mông ở ba mặt Bắc, Ðông và Ðông Nam để đem lại sự sung túc, phồn thịnh cho kinh thành Huế, và qua đó cho cả dân tộc. Nhưng thật ra, muốn được hưởng đại thủy khí thì điều kiện cần thiết là bờ biển phải có hình dạng uốn cong vào (là thế nước muốn lấn vô đất liền), có như vậy khi gặp vận khí tốt thì đất nước mới mong giàu, mạnh lên được. Ðàng này vùng bờ biển Huế (và của cả miền Trung, suốt từ Nghệ An vào tới Phan Rang nói chung) lại có hình dạng uốn cong ra. Ðó là thế đất liền muốn tiến ra biển, nên đại thủy khí không thể vào được để đem lại sự phồn thịnh, có chăng chỉ là những cơ hội bị bỏ lỡ (vì nằm ngay sát đại thủy mà lại không nhận được thủy khí).
Tuy nhiên, mặc dù không đón nhận được vượng khí từ biển Ðông đưa vào, nhưng Huế vẫn bị ảnh hưởng của đại thủy về phương diện thời vận. Do đó, các Vận 1, 3, 4 đều là những bại Vận vì ở các phía Bắc, Ðông và Ðông-nam đều có đại thủy tức là bị ” Phục Ngâm” rất nặng. Vì thế nên trong những Vận này đất nước ta thường có chiến tranh, loạn lạc, giữa lúc triều đình thì bất tài, nhu nhược, không đối phó nổi với tình thế. Trong Vận 2 thì thường có anh hùng xuất hiện, vì nơi phía Tây Nam của Huế có những nhánh núi của dãy Trường Sơn hướng tới, nên sẽ đem vượng khí đến cho thành phố. Rất tiếc rằng những nhánh núi đó lại quá ngắn, nguồn vượng khí quá ít khiến cho những vị anh hùng này tuy có chí khí nhưng không đủ tài, sức để làm nổi chuyện lớn. Vào Vận 5 Huế sẽ gặp nhiều biến động, vì vượng khí của thành phố (do sông Hương và những nhánh núi nhỏ tạo ra) đã bị dãy Trường Sơn hút hết về phía Nam, khiến cho thần lực của Huế bị suy kiệt hẳn. Sang Vận 6 Huế sẽ bị những tai họa thảm khốc, vì đại long mạch Trường Sơn từ phía Tây Bắc tiến xuống, nhưng không hướng tới Huế mà lại ngoảnh đầu, vươn mình về phía Nam. Ðây chính là thế đất bị rồng bỏ, mà Vận 6 là chính Vận nên tai họa sẽ giáng xuống không ngừng. Ðến Vận 7 mới là thời kỳ an bình, hưng vượng của Huế, vì những nhánh núi phía Tây và sông Hương ở phía Ðông đều là những nguồn phát sinh ra vượng khí. Trong Vận này Huế cũng có nhân tài xuất hiện, nhưng chỉ vì thế núi sông quá ngắn, vượng khí không đủ nên họ chẳng làm được gì đáng gọi là phi thường, nổi bật cả (tương tự như Vận 2). Bước sang Vận 8, cửa khẩu Thuận-an và vùng biển phía Ðông Bắc là sát khí (bị Phục Ngâm) nên sẽ tạo ra những cơn biến loạn. Rồi sang Vận 9 cũng không tốt đẹp gì, vì vận khí của Huế dựa rất nhiều vào sông Hương, mà con sông này lại xuất phát từ phía Nam đổ ra tức là lại bị “Phục Ngâm” nên chiến tranh, loạn lạc vẫn tiếp tục xảy ra.
Nếu nhìn vào lịch sử của cố đô Huế thì ta thấy thành phố này bắt đầu được xây lên vào năm 1687. Nhưng phải đến đời chúa Nguyễn phúc Khoát (1738 – 1765) mới dám tự tiếm Vương hiệu (Vũ Vương), đồng thời chính thức đặt Huế làm thủ đô của giang sơn nhà Nguyễn (1744). Dưới thời Vũ vương, vì kinh đô mới được thiết lập, vận khí của Huế chưa phải đã có ảnh hưởng ngay tới cục diện, nên tình hình vẫn còn tương đối ổn định, nhưng những mần mống rối loạn đã bắt đầu xuất hiện. Khi Vũ vương qua đời (1765 tức là mới bắt đầu vào Vận 5), con còn nhỏ lên nối ngôi bị quyền thần Trương phúc Loan thao túng, làm lắm điều tham tàn, bạo ngược, khiến cho dân chúng Nam hà vô cùng lầm than, uất hận.
Năm 1772, đang trong Vận 5, anh, em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi nghĩa ở Tây Sơn, chiếm được Quy Nhơn và một số tỉnh miền Trung. Thừa dịp đó, chúa Trịnh liền phái đại quân vào Nam đánh chiếm lại vùng Thuận Hóa và kinh thành Phú Xuân (1775), khiến cho chúa Nguyễn phải chạy vào đất Gia Ðịnh, nhưng chỉ 2 năm sau (1777) thì bị Nguyễn Lữ bắt được giết đi. Thế là kinh đô Phú Xuân chưa lập được bao lâu, một triều đại đã bị sụp đổ nhanh chóng.
Trong thời gian chiếm được Phú Xuân (1775 – 1786, tức là từ giữa Vận 5 sang đến đầu Vận 6), chúa Trịnh để Phạm ngô Cầu là một viên tướng vừa bất tài, vừa tham lam, hèn nhát trấn thủ vùng này. Ðến khi Nguyễn Huệ đem quân ra Thuận Hóa đánh Trịnh (1786), bắt được Phạm ngô Cầu liền ra lệnh cho quân sĩ giết đi.
Ðánh bại được chúa Trịnh, Nguyễn Huệ lại trở về Phú Xuân, cho thiết lập đại bản doanh ở đây, nhưng trên danh nghĩa vẫn là tôi thần của nhà Lê với chức Nguyên soái Uy Quốc công. Lúc này, vì giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc có sự bất hòa, nên Nguyễn Huệ không còn phụ thuộc vào triều đình Tây Sơn ở Ðồ Bàn nữa, mặc dù vẫn giữa tước hiệu Bắc bình Vương do Nguyễn Nhạc phong cho. Ðến khi miền Bắc có loạn, vua Lê chạy sang Tàu cầu cứu, Nguyễn Huệ mới lên ngôi hoàng đế, rồi tiến ra Bắc đánh bại quân Thanh (1788). Nhưng sau đó, Ngài lại quay về đóng đô ở Phú Xuân, rồi cho tiến hành nhiều cải cách táo bạo để kiến thiết đất nước, đồng thời chuẩn bị một lực lượng quân sự hùng mạnh cho việc chinh phạt nhà Thanh. Nhưng lúc đó đang trong Vận 6, là giai đoạn vận khí đen tối nhất của thành phố Huế, cho nên chỉ làm vua chưa đầy 4 năm, vua Quang Trung bỗng đột nhiên qua đời (1792). Những hoài bão lớn lao cùng những công trình cải cách vĩ đại của Ngài do đó đều sụp đổ. Con của Ngài là Quang Toản lên nối ngôi còn quá nhỏ tuổi, các đại thần xâu xé lẫn nhau khiến cho nhà Tây Sơn bị suy tàn nhanh chóng. Giữa lúc đó, Nguyễn Ánh đã củng cố được thế lực ở Gia Ðịnh, rồi bắt đầu đen quân ra đánh chiếm dần các miền duyên hải Trung phần. Vào năm 1801, tức cuối Vận 6, thành Phú Xuân bị thất thủ, khiến cho vua tôi nhà Tây Sơn phải bỏ chạy ra Bắc, nhưng đến năm sau đều bị bắt đem về hành hình một cách vô cùng dã man, tàn bạo ngay giữa kinh thành Huế.
Diệt được nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long và lập ra nhà Nguyễn (1802), lúc đó đang là giai đoạn chót của Vận 6, chuẩn bị bước sang Vận 7 Hạ Nguyên. Do đó, dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819), đất nước ta được yên ổn, thái bình. Tuy nhiên, mặc dù cũng là một nhà lãnh đạo có tài (qua bao năm đấu tranh chống lại nhà Tây Sơn), nhưng trong suốt thời gian cai trị, vua Gia Long lại tỏ ra thiển cận và hủ lậu, nên sự nghiệp không có gì đáng kể tới. Sang đến thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), nước ta đã bắt đầu bước vào thời kỳ suy yếu, với những cuộc nổi loạn xảy ra ở khắp nơi.
Năm 1826, trong Vận 8 Hạ Nguyên, Phan bá Vành làm loạn ở Nam Ðịnh, rồi đến năm sau, Lê duy Lương nổi lên ở Ninh Bình, khiến triều đình phải đánh dẹp vất vả suốt mấy năm trời mới xong. Ðến năm 1833, cũng trong Vận 8, lại có vụ loạn Nồng văn Vân ở vùng biên giới Việt-Hoa, và Lê văn Khôi ở trong vùng Gia Ðịnh làm cho triều đình phải khốn đốn. Sau đó nhà Nguyễn còn phải đối phó với sự quấy phá của quân Xiêm, rồi những cuộc bắt giết đạo Thiên Chúa lại xảy ra, khiến cho cảnh máu chảy, đầu rơi không lúc nào ngừng được.
Ðến đời vua Thiệu Trị (1841 – 1847, tức là từ cuối Vận 8 qua đầu Vận 9), những cuộc giết hại giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo càng diễn ra khốc liệt hơn trước. Trong khi đó, người Chân Lạp (tức Cam Bốt) nổi lên chống lại nền đô hộ của nhà Nguyễn (được thiết lập từ thời vua Gia Long), khiến cho triều đình nhà Nguyễn đánh dẹp mãi không xong, cuối cùng đành phải chấp nhận nền độc lập của xứ này.
Sang đến đời vua Tự Ðức (1847 – 1883 tức là từ giai đoạn đầu Vận 9 cho đến hết Vận 1), tình hình lại càng trở nên vô cùng đen tối. Ở ngoài Bắc có các vụ giặc Tam Ðường (1851), giặc “châu chấu” của Lê duy Cự và Cao bá Quát, giặc Tạ văn Phụng, giặc Cai tổng Vàng (cùng xuất phát vào năm 1861), giặc Ngô Côn (1868), giặc Cờ Ðen, Cờ Trắng, Cờ Vàng (1870)….Ở Huế thì có âm mưu soán nghịch của Hồng Bảo (anh vua Tự Ðức, năm 1855), vụ giặc “chầy vôi” (1866).Những cuộc phiến loạn này khiến triều đình nhà Nguyễn không kịp trở tay để đối phó. Giữa lúc đó, vào năm 1858 tức khoảng cuối Vận 9, Pháp đem hải quân vào tấn công thành Ðà Nẵng, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Qua năm sau, quân Pháp quay vào Nam đánh chiếm thành Gia Ðịnh, rồi chuyển sang việc bình định toàn thể Nam kỳ. Năm 1873, tức trong giữa Vận 1, Pháp tiến ra Bắc đánh hạ được thành Hà Nội nhưng rồi lại rút về Nam vì đang vướng bận vào cuộc chiến tranh với Ðức ở Âu châu. Ðến năm 1882, Pháp lại đem quân ra Bắc triệt hạ thành Hà Nội lần thứ hai, rồi chia quân ra đánh chiếm khắp nơi, khiến cho triều đình nhà Nguyễn không sao đối phó nổi. Cũng trong giai đoạn đó, nhà Nguyễn đã ký kết với Pháp những hòa ước nhục nhã: từ việc nhường 3 tỉnh miền Ðông (tức khu vực từ Bình Thuận vào đến Long-an), sau đó là hết cả miền Nam cho Pháp. Rồi đến việc phân chia đất nước ra thành 3 miền riêng biệt, và cuối cùng là chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Vào năm 1883, tức năm cuối cùng của Vận 1, khi vua Tự Ðức băng hà, nước ta đã mất hẳn nền độc lập, chính thức trở thành nô lệ của ngoại bang.
Sau khi vua Tự Ðức qua đời, triều đình nhà Nguyễn lại càng rối loạn vì những cuộc phế lập, nên phải đến giữa năm 1884, tức vào đầu Vận 2 Thượng Nguyên, vua Hàm Nghi mới lên ngôi. Tuy còn nhỏ (mới có 12 tuổi), nhưng nhà vua đã tỏ ra là một vị anh hùng khí khái, cương quyết chống ngoại xâm, chứ không chịu cúi đầu làm tay sai cho giặc. Năm 1885, Ngài cho quân đánh Pháp, nhưng bị thất bại nên phải trốn khỏi kinh thành rồi phát động phong trào Cần Vương kháng chiến, được nhân dân 2 miền Bắc, Trung hưởng ứng. Nhưng đến năm 1888 thì vua Hàm Nghi bị Pháp bắt được đem đầy đi Algeria, rồi những phong trào kháng Pháp cũng lần lượt bị thất bại.
Khi vua Hàm Nghi trốn khỏi kinh thành Huế thì Pháp liền đem vua Ðồng Khánh lên thay, nhưng vua Ðồng Khánh chỉ ở ngôi được có 3 năm (1885 – 1888) thì qua đời. Pháp liền cho lập hoàng thân Bửu Lân (mới có 10 tuổi) lên ngôi, lấy hiệu là Thành Thái, lúc đó vẫn đang là đầu Vận 2. Khi lớn lên, nhà vua thấy Pháp quá lộng hành, không đếm xỉa gì tới nền độc lập của Việt Nam nên tìm cách chống lại, nhưng âm mưu bị bại lộ nên bị chúng đày sang Phi châu (1907). Con ngài là thái tử Vĩnh San (mới có 8 tuổi) lên nối ngôi, lấy hiệu là Duy Tân. Năm 1916, khoảng giữa Vận 2, vua Duy Tân cùng tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội (do cụ Phan bội Châu sáng lập) âm mưu khởi nghĩa ở Trung kỳ nhưng thất bại, khiến hàng trăm chiến sĩ bị hành quyết, hàng ngàn người bị bắt bớ, tù đày. Riêng vua Duy Tân bị Pháp bắt đem đày sang đảo Reunion ở Phi châu.
Từ năm 1916 đến năm 1945, tức là từ giữa Vận 3 đến khi bước vào Vận 5, triều đình nhà Nguyễn dưới thời Khải Ðịnh (1916 – 1925) và Bảo Ðại (1926 – 1945) đã hoàn toàn suy nhược, chỉ là công cụ của thực dân Pháp. Giữa lúc đó, những phong trào đấu tranh dành độc lập nổi lên khắp nơi, nhưng chỉ chuốc lấy thất bại và sự hao tổn máu xương của hàng ngàn chiến sĩ ưu tú, vì lúc đó vận khí của Huế đã quá suy vi, tàn tạ. Phài đến năm 1945, khi Việt minh cướp chính quyền, vua Bảo Ðại thoái vị, rồi Hồ chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập ở Hà Nội, thì lúc đó đã bước sang đầu Vận 5 Trung Nguyên. Kể từ đó trở đi, Huế không còn là kinh đô của nước ta nữa, nhưng vận khí của Huế vẫn tiếp tục xoay vần. Sau năm 1954, khi đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền: miền Bắc từ sông Bến Hải trở ra, dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh, đặt thủ đô ở Hà Nội. Miền Nam từ đó trở vào, dưới sự lãnh đạo của TT Ngô đình Diệm, thủ đô đặt ở Sài Gòn. Ðể có người trông nom mọi việc ở ngoài Trung, TT Ngô đình Diệm liền cho em mình là Ngô đình Cẩn nắm toàn quyền ở Huế, lúc đó đang ở giữa Vận 5. Nhưng ông Ngô đình Cẩn đã bất tài, lại hống hách, làm nhiều chuyện thất nhân tâm, khiến cho người dân miền Trung vô cùng oán ghét. Ðến khi chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ vào năm 1963 (tức năm cuối cùng của Vận 5) thì ông Cẩn liền bị phe đảo chính lôi ra kết án rồi xử tử hình.
Sau cuộc chính biến 1963, tình hình chính trị của miền Nam mỗi lúc một rối loạn, giữa lúc chiến tranh ngày càng lan rộng và quyết liệt giữa 2 miền Nam-Bắc. Ðầu năm 1968 (thuộc Vận 6), Cộng sản mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chiếm được Huế rồi cho tàn sát hàng ngàn người dân vô tội trong thành phố này. Ðến năm 1972, cũng trong Vận 6, khi Cộng sản phát động cuộc tấn công quy mô khắp miền Nam, Huế lại trở thành một bãi chiến trường đẫm máu và khốc liệt. Rồi năm 1975, trong trận chiến cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Huế lại phải trải qua những giờ phút kinh hoàng, với hàng trăm, hàng ngàn người chết trong cuộc tháo chạy ra biển. Tiếp sau đó là những cuộc bắt bớ, giam cầm, rồi đến vụ đói kém năm 1978 – 1979 khiến cho đời sống của người dân Huế vô cùng lầm than, cơ cực.
Kể từ khi bước sang Vận 7 (1984), cảnh yên ổn, thanh bình lại trở về với Huế. Những lăng tẩm, đền đài của các vua chúa nhà Nguyễn được tu sửa, những khu du lịch mọc lên để thu hút du khách, đời sống của người dân nhờ vậy cũng được thoải mái, dễ chịu phần nào. Nhưng hiện tại đã là cuối Vận 7, sắp sửa bước sang Vận 8 Hạ Nguyên. Chỉ sợ rằng tới lúc đó, sát khí của cửa biển Thuận-an sẽ gây cho Huế nhiều tai họa, mặc dù không thảm khốc như trong Vận 6, nhưng cũng nguy hiểm cho những người dân đang cư trú trong thành phố êm đềm và thơ mộng này.
Tóm lại, vận khí của Huế chỉ tốt đẹp trong Vận 7, còn trong những Vận khác đều xảy ra những cảnh chiến tranh, chém giết. Riêng Vận 2 tuy cũng khá tốt vì được những nhánh núi nơi phía Tây Nam hướng tới, nhưng vì thượng nguồn của sông Hương xuất phát tại đây tức là bị “Phục Ngâm”, nên hay xảy ra việc binh biến. Tuy nhiên, trong cả 2 Vận này, Huế sẽ có được những người lãnh đạo tương đối có tài năng và ý chí, dù rằng sự nghiệp của họ không có gì đáng kể lắm. Các Vận 3 và 8 thì còn hưởng được chút dư khí của Vận 2 và Vận 7, nên lúc đầu còn được những người có năng lực, nhưng sau cũng tàn tạ, suy bại như những Vận khác. Trong các Vận 5, 6, Huế ở trong cái thế có đại long mạch (dãy Trường Sơn) tiến tới nhưng không chầu phục, mà lại vươn mình đi nơi khác. Vì thế nên trong những Vận này, tại Huế có thể xuất hiện nhân tài lỗi lạc, nhưng họ thường mất sớm hoặc bỏ đi nơi khác, những người còn lại thì đều yếu kém, nhu nhược. Riêng Vận 5, Huế bị dãy Trường Sơn lấy hết nguyên khí, nên những người lãnh đạo trong Vận này đều khét tiếng là bất tài, lại sâu dân mọt nước để rồi bị thảm tử. Còn Vận 6 thì bị cái thế long mạch đoạn tuyệt, dứt tình dứt nghĩa nên thường bị những tai họa khủng khiếp giáng xuống cho cả thành phố.
Nhìn chung, Huế có cái đẹp của sông Hương êm đềm, uốn khúc, của những nhánh núi non che chở, bao bọc. Nhưng sông Hương chỉ có thể tạo nên sự phồn thịnh sung túc cho một thành phố nhỏ (thế sông uốn lượn nhưng lại quá ngắn). Những nhánh núi non chỉ đủ vượng khí để xây dựng nhà cửa cho việc làm ăn phát đạt, hoặc đắp mộ để con cháu trở thành những công hầu khanh tướng mai sau (nếu biết cách làm). Còn nếu chọn Huế làm thủ đô của đất nước thì tai họa sẽ ập tới. Bởi vì ngay cả trong lúc hưng thịnh, Huế còn chưa có đủ vượng khí để trấn áp những vùng khác, thì đến lúc suy vi, thù trong giặc ngoài liên tiếp kéo đến, nên tránh sao khỏi cái họa diệt vong, mất nước. Ngoài ra, nếu nói đến vấn đề tìm cách thay đổi địa thế Phong thủy của Huế thì hầu như không có một phương cách hữu hiệu nào cả, vì khu vực này quá chật hẹp, lại bị khống chế bởi dãy Trường Sơn và biển Ðông Hải. Tuy nhiên, khi đã biết được vận khí của Huế như vậy, chúng ta không nên cố công kiến tạo một trung tâm chính trị, kinh tế đồ sộ ở đây. Mà hãy để cho Huế trở về với tính cách tự nhiên của nó: một thành phố nhỏ êm đềm, thơ mộng, một vùng đất của những tao nhân, mặc khách, của những văn, thi sĩ muôn đời lãng mạn. Có như thế thì chẳng những đất nước sẽ tránh được nhiều tai vạﬠmà cuộc sống của những người dân Huế cũng được yên ổn, thư thái hơn
Sàigon
3/ SÀI GÒN:là thành phố nằm ngay bên phải bờ sông Sài Gòn, con sông này bắt nguồn từ tỉnh Tây Ninh ở phía Tây Bắc rồi chảy xuống, đi ngang qua khu vực phía Bắc của Sài Gòn rồi uốn lượn qua phía Ðông của thành phố, sau đó nhập với sông Ðồng Nai từ phía Bắc chảy xuống rồi đổ ra biển nơi phía Nam. Sài Gòn nằm giữa một khoảng bình nguyên (đất bằng) rộng lớn, xa xa nơi phía Bắc và Ðông Bắc, tại các tỉnh Quảng Ðức, Lâm Ðồng là phần cuối của dãy Trường Sơn hướng tới. Rồi nơi phía Tây Bắc tại tỉnh Tây Ninh cũng có dãy núi Bà Ðen, nơi phía Ðông Nam là khu núi Vũng Tàu, cả hai đều là dư khí của dãy Trường Sơn còn sót lại. Nằm ở khu vực phía Nam và Tây Nam Sài Gòn là các sông Vàm Cỏ, xa hơn nữa là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 2 con sông Tiền Giang và Hậu Giang.
Với địa thế núi, sông bao bọc như trên, ta thấy Sài Gòn có nhiều điểm đặc biệt, xứng đáng là một trong những trung tâm kinh tế và chính trị quan trọng bậc nhất trên đất nước ta. Trước hết là mạch Trường Sơn chấm dứt từ tận Quảng Ðức, Lâm Ðồng, tạo ra cái thế Huyền vũ che chở cho sau lưng Sài Gòn, nhưng lại không tiến đến quá gần để trở thành cái thế đe dọa hoặc lấn áp thành phố này, mà chừa cho Sài Gòn một khoảng trống rộng lớn để hấp thu hết vượng khí của toàn bộ miền Nam Việt Nam. Rồi đến núi Bà Ðen ở Tây Ninh và vùng núi ở Vũng Tàu tạo thành thế tả, hữu long, hổ để hộ vệ Sài Gòn. Nhưng một điểm hay là vì núi Bà Ðen (hữu Bạch hổ) lại cao hơn núi Vũng Tàu (tả Thanh long). Nên khi nằm lệch về phía Vũng Tàu, Sài Gòn đã tạo thành thế long-hổ quân bình, khiến cho nền kinh tế của thành phố bao giờ cũng sung túc. Nếu như Sài Gòn nằm lệch về phía núi Bà Ðen nhiều hơn, tình trạng kinh tế sẽ rất nghèo nàn, bi đát, vì sát khí của Bạch hổ sẽ lấn át Thanh long và làm lụn bại thành phố. Phía trước mặt của Sài Gòn là Long-an và vùng đồng bằng sông Cửu Long, một bình nguyên rộng lớn với những con sông hàng hàng, lớp lớp chảy qua, khiến cho vượng khí vô biên, thần lực miên man, bất tận. Ðó là chưa kể thương cảng Sài Gòn còn có mũi Vũng Tàu nằm ở bên ngoài hộ vệ, nên xứng đáng là một trung tâm quyền lực quan trọng về kinh tế và chính trị. Nếu còn được thêm một mũi đất nữa nhô ra ở cửa Ðại (thuộc sông Tiền Giang, trong tỉnh Bến Tre) để tạo thành đầy đủ thế tả, hữu hộ vệ nơi cửa biển thì uy lực của Sài Gòn sẽ còn tăng lên gấp bội. Ngoài ra, con sông Sài Gòn khi đến gần thành phố lại uốn lượn thành nhiều khúc, rồi sau khi đi qua còn quay đầu nhìn lại tới 2 lần (2 khúc sông uốn cong trở lại) rồi mới đổ ra biển. Ðây chẳng những là một cảnh sông nước hữu tình, mà còn tạo cho Sài Gòn một sự phồn thịnh, sung túc đến nỗi không một thành phố nào trên toàn cõi Việt Nam cũng như khắp vùng Ðông Nam Á có thể so sánh được.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên là mặc dù nằm trong một một địa thế “rồng chầu, hổ phục” như vậy, Sài Gòn vẫn chỉ đóng một vai trò rất khiêm nhượng đối với đất nước Việt Nam, cũng như đối với cộng đồng thế giới. Giữa lúc tên của những thành phố như New York, Los Angeles, Paris, Tokyo, thậm chí đến cả Hong Kong, Singapore….đã gắn liền với một nền kinh tế sung túc và thịnh vượng, thì cái tên Sài Gòn vẫn gắn liền với một xứ sở lạc hậu, một quốc gia chậm tiến. Sở dĩ như vậy là vì tuy địa thế chung quanh Sài Gòn vô cùng tốt đẹp, nhưng địa điểm tọa lạc của thành phố lại nằm sai vị trí, khiến cho Sài Gòn không sao trở thành một thành phố giàu mạnh, nổi tiếng trên thế giới được. Thay vì phải nằm ở trong khu vực giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn để chiếm lấy vị trí của “chân long” (chính long mạch), Sài Gòn lại nằm ở phần đất bên ngoài tức chỉ là “hộ sa” (đất hộ vệ) của chân long. Ðối với Phong thủy, chân long mới là nơi kết tụ được nguyên khí của trời, đất để chiếm lấy thế lực lớn lao hay độc tôn về chính trị và kinh tế, đồng thời mới thu hút được những anh hùng kiệt xuất, những lãnh tụ vĩ đại. Còn hộ sa chỉ là phần đất chư hầu, nguyên khí đã bị tản mát hết, nên không bao giờ có thể trở thành một trung tâm kinh tế hoặc chính trị hùng mạnh, đồng thời cũng không dễ có được một lãnh tụ tài ba xuất hiện. Nếu ta nhìn lại giai đoạn Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, có Hoa kỳ là đồng minh đắc lực nhất. Vậy mà trong mọi cuộc đàm phán, thương thuyết, họ chỉ cho chính phủ Sài Gòn đứng ngang hàng với Mặt trận Giải phóng là tay sai của Hà Nội. Ðiều này đủ cho thấy sự tai hại khi thủ đô của một quốc gia mà lại nằm trong vùng đất hộ sa là như thế nào.
Một điểm quan trọng khác là hình dáng uốn lượn rất nhiều lần của con sông Sài Gòn, nên đúng ra sẽ đem lại sự phồn thịnh và sung túc đến cực độ cho thành phố, khó có nơi nào có thể bì kịp. Nhưng muốn được hưởng trọn vẹn điều này, Sài Gòn (và nhất là trung tâm của thành phố) cần phải nằm tại những khu vực được dòng sông ôm lấy, tức là những vùng được dòng sông bao bọc, che chở 2, 3 mặt (như khu Thủ Thiêm chẳng hạn). Chứ còn từ khi được thành lập cho tới nay, Sài Gòn vẫn nằm ở vị trí hiện tại, đã không có sông che chở, bao bọc (còn gọi là thủy hữu tình), mà còn bị khúc sông Sài Gòn ngay đó uốn cong ra chém tới. Ðối với Phong thủy, đây là một địa thế cực kỳ hung hiểm (còn được gọi là thủy bạc tình), nên sẽ khiến cho Sài Gòn không lúc nào được yên ổn. Nếu không có chiến tranh, giặc giã, thì cũng bị bị những tệ trạng xã hội như băng đảng trộm cướp, xì ke, ma túy, đĩ điếm hoành hành khắp nơi, nhất là tại khu vực trung tâm thành phố (là nơi bị thủy chém nặng nhất). Chẳng những thế, sát khí của khúc sông này sẽ làm cho Sài Gòn luôn luôn bị suy yếu, không bao giờ có thể vươn lên thành một trung tâm kinh tế cường thịnh và tiên tiến được.
Cũng vì 2 yếu tố kể trên nên mặc dù được hình thành và phát triển đã lâu, nhưng Sài Gòn vẫn chỉ là một thành phố trung bình, uy lực yếu ớt, chưa đủ để trấn áp hết miền Nam. Còn nói tới việc khuất phục được các nước trong vùng Ðông Nam Á châu và làm cho thế giới phải kiêng nể thì vẫn quá xa vời. Muốn đạt được điều đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tương lai cần thiết lập những đề án xây dựng trong khu vực giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn. Rồi cho dời những cơ quan hành chánh, kinh tế, thương mại quan trọng vào trong vùng Thủ Thiêm, biến nơi đây thành khu vực trung tâm của thành phố. Ðến lúc đó thì Sài Gòn mới có được đầy đủ vượng khí để vươn lên, nếu không phải là kinh đô của một cường quốc hùng mạnh, thì cũng là một trung tâm kinh tế thịnh vượng của thế giới.
Còn về vận khí của Sài Gòn thì đúng ra, Vận 1 là giai đoạn rất tốt đẹp, vì được mạch Trường Sơn ở phía Bắc hướng tới, nên chẳng những sẽ có vĩ nhân xuất hiện, mà còn được hưởng cảnh thanh bình, thịnh vượng. Nhưng chỉ vì thành phố nằm ở trong vùng đất hộ sa, vượng khí không thể tích tụ được nên nhân tài đã không thấy, mà cảnh phồn thịnh, sung túc cũng chỉ là hão huyền, chỉ cầu có được sự yên ổn làm ăn cũng đã là may mắn. Bước qua Vận 2, Sài Gòn bắt đầu đi vào thời kỳ suy yếu, vì khu vực phía Tây Nam đã có sông (Vàm cỏ), phía Ðông Bắc lại có núi tạo thành cách “Phục Ngâm”, “Phản Ngâm”, nên những mần mống rối loạn bắt đầu xuất hiện. Rồi đến các Vận 3, 4 đúng ra đều là những giai đoạn suy yếu của Sài Gòn, vì các mặt phía Ðông và Ðông Nam đều có biển cả bao la tức là bị “Phục Ngâm” rất nặng. Nhưng vì trong đất liền lại được những chi nhánh của mạch Trường Sơn tiến ra che chở, khiến cho sát khí từ ngoài biển không thể vào được tới thành phố, nên trong những Vận này, Sài Gòn lại tương đối yên ổn. Ðến Vận 5 đúng ra cũng là một giai đoạn hưng vượng của Sài Gòn, vì có núi, sông phò tá, hộ vệ ở bên ngoài, chính giữa lại có sông Sài Gòn uốn lượn êm đềm, tích tụ một nguồn sinh khí sung túc không thể diễn tả. Nhưng do không nằm đúng chân long, nguyên khí bị thất tán hết, nên sự hưng vượng cũng tan biến nhanh chóng. Ðã thế lại còn bị những tai họa lớn, vì khúc sông Sài Gòn cong vô chém vào trung tâm thành phố, gây ra những cảnh tượng chiến tranh, chém giết hỗn loạn vô cùng. Bước sang Vận 6, Sài Gòn vẫn tiếp tục bị chiến tranh đe dọa, tàn phá, do khu vực phía Tây Bắc là thượng nguồn của con sông Sài Gòn, tạo thành cách “Phục Ngâm”, đem sát khí đến cho thành phố. Phải đến khi qua tới Vận 7, nhờ cósông Ðồng Nai và sông Sài Gòn ở phía Ðông lúc đó là “Chính Thủy”, đem vượng khí trở lại nên Sài Gòn mới được quay về khung cảnh thái bình, yên ổn làm ăn của một thời thịnh trị. Qua tới Vận 8, khu vực thượng nguồn của sông Ðồng Nai ở phiá Ðông Bắc sẽ biến thành sát khí, gây nên những cuộc loạn lạc, chém giết khác. Ðến Vận 9, chiến tranh lại tiếp tục xảy ra, vì biển và cửa sông Sài Gòn ở phía Nam đều phạm phải cách “Phục Ngâm”, nên tai họa lại đến với thành phố.
Về lịch sử Sài Gòn thì cách đây hơn 300 năm, thành phố này còn nằm dưới quyền cai trị của nước Chân Lạp (tức Cam Bốt bây giờ). Ðến năm 1674, vào khoảng giữa Vận 9 Hạ Nguyên, chúa Nguyễn mới đem quân đánh chiếm khu vực này, rồi bắt đầu cho di dân tới, lập doanh trại và đồn điền để khai thác. Nhờ đất đai màu mỡ, lại nằm gần sông, biển, nên Sài Gòn ngày càng trở thành một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Nam. Vào năm 1773, thành Sài Gòn được xây dựng lại cho thêm rộng lớn và kiên cố, từ đó biến thành một trong những đô thị lớn nhất trên đất nước ta, lúc đó đang ở trong Vận 5 Trung Nguyên. Nhưng công việc xây dựng vừa hoàn tất thì những biến động chính trị trong nước cũng bắt đầu xảy ra, đưa đẩy vùng đất hiền lành, yên tĩnh này vào vòng khói lửa.
Cũng trong năm 1773, anh, em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phát động phong trào nổi dậy ở vùng Tây Sơn (thuộc tỉnh Quy Nhơn), chống phá lại chế độ tham nhũng, thối nát của triều đình chúa Nguyễn. Cùng lúc đó, quân Trịnh ở phía Bắc tràn xuống, đánh chiếm được vùng Thuận Hóa (tức Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ), rồi uy hiếp Phú Xuân. Trước tình hình đó, chúa Nguyễn buộc phải lui về Quảng Nam, rồi sau lại chạy vào Gia Ðịnh (Sài Gòn) để luyện binh, tuyển tướng, mưu đồ khôi phục sự nghiệp.
Vào năm 1775, Nguyễn Lữ đem quân vào đánh Sài Gòn, khiến cho chúa Nguyễn phải chạy về Biên Hòa, nhưng sau nhờ có Ðỗ thành Nhân đem quân đến giúp, chúa Nguyễn lại chiếm được thành phố này.
Năm 1777, cũng trong Vận 5, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem quân vào Nam, bình định được thành Gia Ðịnh, bắt được chúa Nguyễn rồi giết đi, nhưng có người cháu là Nguyễn Ánh trốn thoát được sang Thái Lan. Rồi chờ đến khi Nguyễn Huệ đã bỏ về Quy Nhơn thì lại đem quân về khôi phục đất Gia Ðịnh.
Ðầu năm 1782, Nguyễn Huệ lại trở vào Nam, đánh bại Nguyễn Ánh tại đất Gia Ðịnh và cửa sông Sài Gòn, rồi rượt đuổi ra tới Phú quốc. Nhưng khi Nguyễn Huệ vừa quay về Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh cũng từ Phú quốc trở lại tái chiếm thành Gia Ðịnh.Vào năm 1783, tức năm cuối cùng của Vận 5, Nguyễn Huệ lại mang quân vào, đại phá quân Nguyễn Ánh tại cửa sông Sài Gòn. Sau trận ác chiến này, Nguyễn Ánh đã sức cùng, lực kiệt nên liền sang Thái-lan cầu viện. Nhưng đạo quân cướp nước này vừa đi đến Ðịnh-tường thì bị Nguyễn Huệ chận đánh tan tành, khiến cho Nguyễn Ánh phải chạy sang Thái-lan nương náu.
Mãi đến năm 1787, đầu Vận 6, nhân lúc Nguyễn Huệ đang lo đối phó với tình hình hỗn loạn trên đất Bắc, Nguyễn Ánh mới bí mật trở về Long -xuyên, dần dần phát triển lại thế lực. Cuối năm đó, Nguyễn Ánh dốc toàn lực tấn công thành Gia Ðịnh, nhưng vì tướng Tây Sơn là Phạm văn Tham quyết chiến giữ thành, nên phải sau 10 tháng công phá, thành Gia Ðịnh mới bị hạ.
Kể từ lúc đó, Sài Gòn mới tạm thời không còn nhìn thấy cảnh binh đao, chém giết, nhưng bầu không khí vẫn nặng nề vì cuộc chiến tranh với nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục diễn ra. Cũng may cho Nguyễn Ánh là trong lần đọ sức này, tuy vận khí của Sài Gòn rất xấu (Vận 6), nhưng vận khí của Huế còn tệ hại hơn nhiều. Bởi thế nên sau nhiều chiến dịch hành quân vất vả, cuối cùng Nguyễn Ánh cũng diệt được nhà Tây Sơn và lập ra nhà Nguyễn vào năm 1802, lúc đó đã vào cuối Vận 6.
Sau cuộc chiến tranh này, Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long) chọn kinh đô là Phú Xuân, để Lê văn Duyệt ở lại trấn thủ Sài Gòn. Trong thời gian Lê văn Duyệt cai quản (từ năm 1802 đến 1833, tức là từ cuối Vận 6 đi qua hết Vận 7 sang đến giữa Vận 8), Sài Gòn được yên ổn làm ăn, nên dần dần cũng được trở lên khá sung túc. Nhưng sau khi ông qua đời, triều đình nhà Nguyễn lại khép ông vào tội phản nghịch, rồi cho lùng bắt cả dòng họ, quyến tộc, khiến cho người con nuôi của ông là Lê văn Khôi phải nổi lên chống lại. Cũng trong năm 1833, Khôi nổi lên giết quan Tổng trấn Gia Ðịnh, tự xưng là Ðại Nguyên soái, rồi đem quân đi chiếm trọn Nam kỳ. Sau triều đình phải dốc toàn lực đánh dẹp, Khôi bị yếu thế nên rút về thành Gia Ðịnh (lúc đó đổi tên là Phiên-an) cố thủ, mãi đến năm 1835 thì thành mới bị hạ. Sau khi chiếm được thành, quan quân xông vào chém giết thẳng tay, bất kể đàn bà, con nít, gây nên một cuộc thảm sát dã man hiếm có trong lịch sử dân tộc. Rồi thành Gia Ðịnh bị san thành bình địa, những cuộc truy nã, bắt bớ tiếp tục diễn ra, những luật lệ khắt khe được đem ra áp dụng, khiến cho thành phố Sài Gòn chưa kịp vươn lên đã bị tàn lụi, suy sụp hẳn.
Sau biến cố Lê văn Khôi, tình hình của Sài Gòn tạm thời lắng đọng xuống, tuy rằng những cuộc xung đột với Thái Lan và Cam Bốt vẫn tiếp tục diễn ra. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn ngày một yếu hèn, suy nhược, khiến cho thực dân Pháp bắt đầu dòm ngó nước ta, rồi cuối cùng trắng trợn tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược. Vào năm 1859, khi quân Pháp nổ súng tấn công và đánh chiếm được thành Sài Gòn thì lúc đó cũng đang trong Vận 9 Hạ Nguyên. Liên tiếp trong hơn 2 năm trời, triều đình nhà Nguyễn huy động đại quân vào Nam, cố sức đánh phá để lấy lại Sài Gòn nhưng không có kết quả. Sang năm 1861, cũng vẫn trong Vận 9, Pháp mở cuộc tấn công đánh tan lực lượng quân sự nhà Nguyễn tại đồn Kỳ Hòa (thuộc khu Gia Ðịnh bây giờ), rồi thừa thắng tung quân đánh chiếm toàn thể Nam kỳ. Mặc dù gặp phải những cuộc chống phá rất quyết liệt, nhưng đến năm 1868, khi cuộc khởi nghĩa của Nguyễn trung Trực bị dập tắt, Pháp đã hoàn toàn bình định được miền Nam, lúc đó đã bước sang Vận 1 Thượng Nguyên. Rồi Pháp bắt đầu thiết lập hệ thống hành chánh, cai trị, biến miền Nam thành thuộc địa, thay đổi một số luật lệ, mở mang một vài lãnh vực về kinh tế và thương mại. Kể từ đó, tình hình của Sài Gòn trở nên lắng đọng hẳn, tuy đôi lúc cũng có một vài tổ chức, phong trào chống Pháp nổi lên, nhưng đa số đều có tính cách ôn hòa, và cũng không làm được gì đáng kể. Mãi đến khi bước vào Vận 5 (1944), tinh thần quật khởi của Sài Gòn mới bắt đầu bộc phát trở lại, dẫn đến cao trào cách mạng 1945 lật đổ nền đô hộ của thực dân Pháp. Nhưng liền sau đó, Pháp quay trở lại tái chiếm Sài Gòn, mở màn cho cuộc chiến tranh khốc liệt từ Bắc vào Nam trong suốt 9 năm trời, đến khi bị đại bại ở Ðiện biên Phủ (1954) mới chịu rút chân ra khỏi Việt Nam.
Khi hiệp định Geneve năm 1954 chia cắt đất nước thành 2 miền, Tổng thống Ngô đình Diệm về Sài Gòn thành lập chính phủ tự do để quản trị miền Nam, lúc đó đang là giữa Vận 5 Trung Nguyên. Nhưng ngay từ bước đầu, ông đã gặp phải sự chống đối dữ dội của các phe phái Bình Xuyên, Cao Ðài, khiến cho chiến sự lại xảy ra ngay trong giữa thành phố Sài Gòn. Ðến khi những vụ phiến loạn này vừa được dẹp yên thì lại xảy ra cuộc đàn áp Phật giáo, giữa lúc cuộc chiến tranh với Cộng sản ở miền Nam ngày càng lan rộng, tạo nên một bầu không khí hoang mang, hỗn loạn cho Sài Gòn. Ðến năm 1963, tức là năm cuối cùng của Vận 5 thì Tổng thống Ngô đình Diệm bị các tướng lãnh miền Nam lật đổ rồi hạ sát.
Sau cuộc chính biến này, tình hình ở Sài Gòn (và miền Nam nói chung) vẫn không có gì sáng sủa, trái lại càng rối loạn hơn vì các tướng lãnh tiếp tục tranh giành địa vị, khiến cho những cuộc đảo chánh liên tiếp xảy ra. Phải đến năm 1967, khi quyền hành đã lọt hết vào tay Tổng thống Nguyễn văn Thiệu thì tình hình chính trị của miền Nam mới tạm yên. Nhưng lúc đó cũng đã vào đầu Vận 6, cuộc chiến tranh với Cộng sản lại trở nên ác liệt hơn bao giờ hết, với những chiến dịch và những trận đánh quy mô mỗi lúc một diễn ra nhiều hơn.
Vào năm 1968, Cộng sản mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, đánh phá Sài Gòn và các thành phố trên toàn miền Nam. Phải sau nhiều đợt phản công rất quyết liệt, quân Cộng sản mới bị đẩy lui và nền an ninh của miền Nam (cũng như Sài Gòn) mới được tái lập.
Bốn năm sau, vào năm 1972, Hà Nội lại mở cuộc tổng tấn công đại quy mô suốt từ Quảng Trị vào tới Bình Long, đe dọa nghiêm trọng sự sống còn của thủ đô Sài Gòn. Mặc dù sau những trận chiến vô cùng ác liệt, quân đội miền Bắc lại bị đẩy lui và miền Nam vẫn được giữ vững, nhưng cũng từ đó, chính phủ Sài Gòn ngày một suy yếu. Ðến khi Cộng sản mở cuộc tổng tấn công lần thứ 3 vào đầu năm 1975 thì Sài Gòn cũng như thể chế chính trị của miền Nam liền bị sụp đổ một cách nhanh chóng.
Nhưng khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng vừa chấm dứt, thì cuộc chiến tranh với Cam Bốt, rồi Trung Cộng lại diễn ra, khiến cho bầu không khí của Sài Gòn vẫn tiếp tục căng thẳng, ngột ngạt. Phải đến khi bước sang Vận 7 (1984 – 2003), thì Sài Gòn mới thực sự được quay về với cảnh thanh bình, yên ổn làm ăn, nhưng sự thịnh vượng vẫn chỉ rất hạn hẹp, tương đối, chứ không sao vươn mình lên được với cộng đồng thế giới. Hiện tại (2002) đang là giai đoạn cuối cùng của Vận 7, chỉ sợ rằng khi bước qua vận 8, Sài Gòn sẽ lại gặp phải những cuộc binh đao, chếm giết đổ máu khác.
Tóm lại, sau khi đã nhìn qua địa thế, cũng như lịch sử của thành phố, ta thấy do vị trí tọa lạc sai lệch, Sài Gòn đã bỏ mất nhiều cơ hội để phát triển lên thật hùng mạnh, sung túc. Ðã thế lại còn bị khúc sông Sài Gòn chém tới, khiến cho tai họa thường xảy đến dồn dập, chẳng những trong các Vận xấu mà ngay cả trong các Vận được coi là tốt đẹp. Ðúng ra, nếu nằm trong vị trí của chân long (tức khu vực giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn), Vận 1 sẽ là giai đoạn cực thịnh của thành phố. Vào lúc đó, Sài Gòn sẽ có được những lãnh tụ tài ba (do mạch Trường Sơn ở phía Bắc đâm xuống), đồng thời cũng trở nên thịnh vượng, sung túc không thể diễn tả (do vượng khí từ cửa sông Sài Gòn và vùng biển mênh mông nơi phía Nam đưa tới). Ðàng này vì nằm trong vùng đất hộ sa, nên chỉ được mấy ông quan Pháp tới, thay đổi được một vài luật lệ và chính sách quá lỗi thời và khắc nghiệt. Bước sang Vận 2, mặc dù Sài Gòn bị thế “Phục Ngâm” của sông Vàm Cỏ và sông Cửu Long ở phía Tây Nam, nên mức độ thịnh đạt không còn được như trước. Nhưng con sông Ðồng Nai bắt nguồn từ phía Ðông Bắc lại là “Chính Thủy” vẫn sẽ đem vượng khí đến cho Sài Gòn, nên những nền tảng kinh tế, thương mại của thành phố vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển. Qua các Vận 3 và 4, thế “Phục Ngâm” của biển Ðông ở phía Ðông và Ðông Nam đã bị những nhánh núi của mạch Trường Sơn tiến ra ngăn cản nhiều, không còn gây ra những tai họa lớn. Chẳng những thế, nếu Sài Gòn nằm tại chân long, thì con sông Sài Gòn lại thuộc về phía Tây và Tây Bắc của thành phố, nên sẽ tiếp tục đem vượng khí đến. Nhất là trong Vận 3, khúc sông Sài Gòn uốn lượn, ôm ấp lấy khu vực Thủ Thiêm, nguyên khí tích tụ vô cùng sung mãn, nên sẽ đem lại cho thành phố một giai đoạn hưng vượng đến cực độ lần thứ hai. Còn đối với vị trí hiện tại, thì 2 con sông Ðồng Nai lẫn Sài Gòn đều nằm tại phía Ðông của thành phố, rồi khúc sông Sài Gòn cũng từ phía Ðông chém tới. Bởi thế cho nên vận khí của Sài Gòn trong những giai đoạn này đều quá suy nhược, không sao có thể vươn lên mạnh mẽ được, lại còn dễ xảy ra những vụ xung đột, chém giết làm náo loạn cả thành phố.
Riêng Vận 5 là một giai đoạn đặc biệt, vì đây là lúc Sài Gòn đắc cách Long-Hổ hộ vệ, Huyền vũ che chở, vượng khí của cả miền Nam đều hội tụ về đây. Ðúng ra phải là một giai đoạn cực thịnh không thể diễn tả, với đầy đủ chúa thánh, tôi hiền để cai trị, dẫn dắt muôn dân. Tiếc rằng chỉ vì Sài Gòn nằm trong vùng đất hộ sa, không phải là nơi có thể kết tụ được nguyên khí, nên chỉ như ngọn lửa bùng lên giữa đêm đông rồi chợt tắt. Ðã thế lại còn bị khúc sông Sài Gòn ở ngay bên chém tới là một điều tối nguy hiểm, vì nó không những thường xuyên gây ra nhiều tai họa cho thành phố, mà trong Vận 5, mức độ độc hại của nó lại càng tăng thêm gấp bội. Bởi thế nên trong giai đoạn này, Sài Gòn chẳng những sẽ gặp cảnh chiến tranh, loạn lạc, mà ngay cả những người lãnh đạo nơi đây cũng dễ bị hung tử. Ngược lại, nếu như thành phố Sài Gòn nằm tại chân long, thì chẳng những sẽ tránh được họa chiến tranh, mà còn trở nên một thành phố hùng cường và thịnh vượng bậc nhất trong khu vực Ðông Nam Á Châu cũng như trên thế giới.
Bước qua Vận 6, vì khu vực phía Tây Bắc là thượng nguồn của con sông Sài Gòn, nên dù nằm ở vị trí nào thì Sài Gòn cũng sẽ bị chiến tranh rất lâu dài đe dọa. Nhưng nếu nằm ở vị trí hiện tại thì do nguyên khí của thành phố quá yếu, nên nếu không may gặp phải một quốc gia đối địch có nguyên khí của thủ đô mạnh hơn thì Sài Gòn sẽ dễ lãnh lấy phần chiến bại. Còn nếu nằm trong khu vực của chân long thì khó có quốc gia nào có thể đánh bại được Sài Gòn, vì nguyên khí ở đây đã quá đầy đủ, sung mãn, nên dù gặp sát khí chiếu đến cũng khó lòng mà bị suy sụp hoàn toàn được.
Rồi đến Vận 7 là thời gian hòa bình, an cư lạc nghiệp của Sài Gòn, nhưng nếu nằm ở vị trí hiện tại thì tuy được cả 2 con sông Ðồng Nai và Sài Gòn cùng nằm ở phía Ðông chiếu tới (tức là được “Chính Thủy”). Nhưng vì bị khúc sông Sài Gòn chém vào nên mặc dù cũng được yên ổn làm ăn, nhưng những tệ nạn xã hội như trộm cắp, đĩ điếm thường lan tràn. Ngoài ra, cũng vì lý do đó, cộng với vấn đề nằm trong vùng hộ sa, nên dù có được một giai đoạn hòa bình khá lâu dài, Sài Gòn vẫn không sao trở thành một trung tâm kinh tế và mậu định tiên tiến cũng như hùng cường được. Còn nếu như nằm trong khu vực của chân long, thì mặc dù sẽ bị một số biến động (như chiến tranh hoặc trì trệ kinh tế…), do con sông Sài Gòn lúc đó lại nằm ở phía Tây tức bị Phục Ngâm, đem sát khí đến cho thành phố. Nhưng vì con sông Ðồng Nai vẫn nằm ở phía Ðông, đem vượng khí đến với Sài Gòn, nên rồi thành phố sẽ vượt qua được mọi khó khăn để tiếp tục phát triển, vươn lên.
Qua Vận 8, thượng nguồn của sông Ðồng Nai ở phía Ðông Bắc là sát khí, nên dù nằm ở vị trí nào Sài Gòn cũng sẽ có chiến tranh, loạn lạc. Nhưng nếu nằm ở khu vực hiện tại thì còn bị thêm con sông Sài Gòn cũng đi qua khu vực phía Ðông Bắc nữa, khiến cho sát khí trùng trùng, nên mới bị đại họa thê thảm như sau vụ khởi nghĩa của Lê văn Khôi trước đây. Còn nếu dời vào khu vực giữa 2 con sông thì chỉ còn sát khí của sông Ðồng Nai, nên tuy vẫn bị chiến tranh, nhưng do nguyên khí còn vượng, nên dù gặp nhiều cơn sóng gió Sài Gòn vẫn chưa bị suy tàn hẳn.
Ðến Vận 9 mới là thời kỳ tàn tạ, vì cửa sông Sài Gòn và vùng biển nơi phía Nam lúc đó sẽ đem đến sát khí quá nặng, nên dù tọa lạc ở khu vực nào, Sài Gòn cũng đều bị thảm họa chiến tranh. Nhưng nếu nằm ở khu vực hiện tại, Sài gòn còn bị khúc sông chém vào, vận khí của thành phố sẽ quá kiệt quệ, nên việc suy vong, mất nước, phải làm nô lệ cho người là điều chắc chắn. Nếu đọc kỹ lịch sử, chúng ta sẽ thấy khi chúa Nguyễn chiếm Sài Gòn, hay khi Pháp hạ thành Gia Ðịnh đều xảy ra trong Vận 9. Ngược lại, nếu được dời vào khu vực của chân long, thì mặc dù lúc đó Sài gòn cũng rất yếu ớt, lại không có được lãnh tụ tài ba nên khi có chiến tranh sẽ không thể cản được bước tiến của giặc thù. Nhưng rồi chẳng bao lâu, tinh thần quật khởi của Sài Gòn lại bộc phát, để đến khi bước vào Vận 1 Thượng Nguyên thì sẽ có vĩ nhân xuất hiện đem lại cảnh thanh bình và vinh quang đến cho thành phố
TỔNG KẾT
như vậy, sau khi đã nhìn qua vận khí, cũng như lịch sử của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài Gòn, chúng ta đều thấy mỗi thành phố có những nét đặc thù riêng biệt. Hà Nội với thế núi, sông quá lớn, quá hùng vĩ, dài hàng mấy trăm dậm tiến tới, tất cả đều như muốn hướng về phủ phục, triều bái, nên thật quả là thế đất quân vương, có thể điều khiển, sai khiến được chư hầu. Bởi thế nên từ trước khi Hà Nội (tức Thăng Long) được chọn làm thủ đô, nước ta chỉ là một quốc gia nhỏ, sánh ngang hàng với những nước nhược tiểu như Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp, Lão Qua (tức Ai Lao) …. đã vậy lại còn bị Trung Hoa đô hộ suốt gần 10 thế kỷ. Phải đến khi vua Lý thái Tổ dời thủ đô về đây, đất nước ta mới dần dần trở nên hùng mạnh, rồi tiến vào diệt Chiêm Thành, Phù Nam (tức Thủy Chân Lạp), khống chế Ai Lao và Cam Bốt, đe dọa cả Thái Lan và Miến Ðiện. Chẳng những thế, tổ tiên ta còn nhiều lần đánh bại những cuộc xâm lăng rất quy mô và khốc liệt của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Rồi đôi còn có ý định dòm ngó và xâm chiếm đất đai của họ, như dưới thời của Lý thường Kiệt hoặc vua Quang Trung. Tiếc rằng vào thời Lý thường Kiệt, tiềm lực của nước ta còn quá nhỏ (chỉ từ Nghệ An ra Bắc) nên chưa thực hiện nổi giấc mộng đó. Ðến thời vua Quang Trung thì Ngài lại dời về đóng đô ở Phú Xuân, để rồi lại mất quá sớm trước khi thi hành được ý định.
Một điểm đáng chú ý khác là kể từ khi Hà Nội được chọn làm thủ đô, nước ta không bao giờ bị ngoại bang đô hộ. Ngay cả trong những giai đoạn tàn tạ, đen tối nhất như những thời mạt vận của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh – Nguyễn. Vào những thời điểm đó, giữa lúc những nhà lãnh đạo đất nước đều bất tài, hèn kém, nhu nhược, nhân dân thì đói khổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi, nhưng nền độc lập của dân tộc vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Chỉ đến khi nhà Hồ dời đô về Thanh Hóa, hoặc như sau này nhà Nguyễn lập kinh đô tại Phú Xuân, nước ta mới bị các thế lực ngoại bang hùng mạnh thôn tính, cai trị. Ðó chính là do địa thế đặc biệt của Hà Nội, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, được những dẫy núi hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp từ xa tiến tới, phủ phục triều bái ở bên ngoài. Với địa thế đặc biệt như vậy, nên không một thế lực nào trên thế giới có thể khuất phục được Hà Nội, mà ngược lại, tất cả mọi quốc gia lân cận với Việt Nam đều sẽ bị Hà Nội chi phối. Vấn đề nhiều hay ít chỉ còn tùy thuộc vào những giai đoạn thịnh, suy của Hà Nội mà thôi. Ngoài ra, vì con sông Hồng Hà khi đi ngang qua Hà Nội tuy có hơi cong một chút, nhưng thế nước vẫn chảy nhanh và mạnh, làm tiêu tán đi rất nhiều nguyên khí của thành phố. Nếu như khúc sông này được sửa lại để thành thế uốn lượn êm đềm như sông Hương hay sông Sài Gòn, thì thần lực của những dãy núi hùng vĩ chung quanh mới được tích tụ đầy đủ, tràn trề ở Hà Nội. Khi đó, chẳng những đất nước ta sẽ trở nên giàu có, thịnh vượng khó có quốc gia nào sánh kịp, mà thế lực của Hà Nội cũng áp đảo luôn cả Trung Hoa, chứ đừng nói tới các nước trong vùng Ðông Nam Á Châu và trên thế giới.
Riêng Huế chỉ là một thành phố nhỏ, thế núi, sông quá ngắn, nên chẳng những đã không phát sinh được nhiều vượng khí, mà dải đất bình nguyên nơi đó cũng chật hẹp, không đủ chỗ cho nguyên khí tích tụ. Do đó, mặc dù cũng đầy đủ những yếu tố Phong thủy như sông Hương uốn lượn êm đềm vây bọc, những nhánh núi hướng tới chầu phục, nhưng thế nhỏ bé vẫn hoàn nhỏ bé. Nói cho đúng ra, Huế chỉ có thể là một thành phố trung bình, cai quản địa hạt của một vài tỉnh, chứ không thể trở thành một đô hội lớn hay kinh đô của một quốc gia hùng mạnh. Nếu bị bắt buộc phải đảm nhiệm trách vụ này, Huế sẽ dần dần làm cho đất nước trở nên suy yếu, dẫn đến cái họa diệt vong, mất nước. Bởi vì dòng sông Hương quá nhỏ, quá ngắn, nên mặc dù uốn lượn hữu tình, nhưng vượng khí chỉ đủ cho một thành phố nhỏ, chứ không sao có thể làm cho Huế trở nên một đô hội sầm uất, giàu mạnh được. Còn nói tới chuyện kiến tạo một đất nước cường thịnh, sung túc lại là điều không thể có được.
Còn Sài Gòn là một thành phố nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, chung quanh được núi non hộ vệ, che chở, lại có sông ngòi uốn khúc chảy tới, nên tiềm năng phát triển kinh tế thật vô hạn. Nhưng trong suốt hơn 300 năm qua, Sài Gòn vẫn không sao tiến lên được thành một trung tâm kinh tế quan trọng của thế giới, mà trái lại vẫn chỉ đóng một vai trò phụ thuộc rất khiêm tốn. Sở dĩ như vậy là vì Sài Gòn đã nằm vào vị trí phụ thuộc đối với Phong thủy (hộ sa), nên không sao có thể vươn lên để nắm lấy những vị trí quan trọng hàng đầu được.
Do đó, vấn đề cần thiết là phải dời trung tâm thành phố vào Thủ Thiêm, vì nơi đây chẳng những nằm trong khu vực của chân long, lại còn được khúc sông Sài Gòn ngay đó uốn lượn bao bọc chung quanh. Khác với sông Hương ở Huế chỉ uốn cong một vòng rồi chảy đi, sông Sài Gòn lại uốn lượn rất nhiều vòng, tạo thành thế Cửu (9) khúc, khiến cho vượng khí tích tụ tràn trề, thần lực vô cùng sung mãn. Có thể nói nếu dải đất giữa sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn là nơi thu hút hết vượng khí của cả miền Nam, thì khu Thủ Thiêm chính là nơi hội tụ hầu hết vượng khí của dải đất này vậy. Bởi thế cho nên nếu được dời về đây, Sài Gòn sẽ nhanh chóng biến thành một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới, vượt qua những Hongkong, Singapore, Taiwan … trong khu vực.
Hiện tại, nếu đem so sánh giữa 3 thành phố thì Huế và Sài Gòn không thể sánh được với Hà Nội, vì một đàng thì quá nhỏ, một đàng thì lại nằm ở một khu vực bất an (hộ sa). Nhưng nếu như sau này, khi được dời vào Thủ Thiêm, Sài Gòn sẽ đón nhận được vượng khí của cả miền Nam, rồi phát triển lên thật hùng mạnh thì mới đủ sức để cạnh tranh ngang ngửa với Hà Nội. Lúc đó, một đàng được thế sông nên giàu có, sung túc; một đàng được thế núi, nên khí phách quật cường không ai có thể khuất phục được. Ðất Sài Gòn nằm giữa 2 con sông quá hiền hòa, uốn lượn êm đềm, nên nếu được chọn làm thủ đô sẽ đem đến cảnh thái bình, thịnh trị cho cả nước. Ðồng thời thường sử dụng sức mạnh kinh tế và đường lối ngoại giao mềm mỏng, khéo léo để phát triển thế lực sang các nước láng giềng cũng như trên thế giới. Còn Hà Nội nằm giữa những dãy núi quá hùng vĩ, nên sẽ chú tâm phát triển sức mạnh quân sự, đồng thời thường sử dụng vũ lực để khuất phục các nước láng giềng. Do thế núi chầu phục, Hà Nội sẽ luôn luôn tìm cách biến các nước lân cận thành chư hầu, lệ thuộc vào mình, đồng thời cũng thường ôm mộng đế quốc, hay tính đến chuyện bành trướng lãnh thổ, nhất là trong những giai đoạn vận khí thịnh vượng.
Nếu giữa Hà Nội và Sài Gòn có sự khác biệt như vậy, thì nên chọn thành phố nào làm thủ đô của đất nước trong tương lai Người viết nghĩ vẫn nên chọn Hà Nội, vì tuy Sài Gòn có thể sẽ làm cho đất nước được an lành, thịnh vượng hơn, nhưng Hà Nội mới có thể bảo đảm được sự trường tồn và nền độc lập của dân tộc. Nhất là khi đất nước ta lại nằm bên cạnh một đế quốc khổng lồ ở phía Bắc. Nếu không phải là một vùng đất có núi sông hùng vĩ, khí phách quật cường như Hà Nội thì làm sao có thể chận đứng được bước đường Nam tiến của Hán tộc trong suốt bao nhiêu thời đại Còn Sài Gòn nếu sau này trở nên một trung tâm kinh tế phồn thịnh nhất Á Châu, làm thế hậu thuẫn, trợ lực cho Hà Nội thì ta đâu còn phải e dè, lo ngại một nước Trung Hoa lúc nào cũng nuôi mộng bành trướng. Trái lại, lúc đó chính họ mới phải lo lắng tới sức mạnh, cũng như việc phát triển thế lực của nước ta ra khắp vùng Ðông Nam Á Châu. Chẳng những thế mà ngay cả mảnh đất đại lục của họ cũng sẽ có ngày bị thế liên kết Hà Nội – Sài Gòn đe dọa.
Cuối cùng, một vấn đề quan trọng khác có liên quan đến sự sống còn của dân tộc ta, đó là vận khí của thành phố Bắc Kinh. Như đã nói ở phần đầu, Bắc Kinh được hưng vượng vào các Vận 5, 6, và 7. Do đó, trong những giai đoạn này, họ thường hay yêu sách, can thiệp vào nội tình Việt Nam, hoặc xua quân sang xâm lăng một cách trắng trợn. Tuy nhiên, trong các Vận 5, 6, khí thế của Hà Nội cũng bừng lên mãnh liệt không kém, nên họ sẽ không làm gì nổi, chỉ chuốc lấy những thất bại chua cay, nhục nhã. Tuy nhiên, trong Vận 7, khí thế của Hà Nội bị suy giảm (do các con sông Ðà, sông Mã ở phía Tây tạo thành cách “Phục Ngâm”), nên chúng ta cần cẩn thận trong vấn đề xây dựng, thay đổi môi trường thiên nhiên. Ðiều quan trọng là phải tránh làm động sát khí ở phía Tây, để cho Hà nội còn có chút vượng khí, hầu có thể đương đầu nổi với Bắc Kinh, còn nếu không thì chúng ta sẽ dễ bị lôi cuốn vào vòng ảnh hưởng của họ. Trong Vận 7, nước ta thường không có chiến tranh lớn, nên sẽ không có những cuộc xâm lược từ Trung Hoa, chỉ có điều nếu nguyên khí của Hà Nội quá yếu thì sẽ dễ bị lệ thuộc vào họ mà thôi. Nhưng từ Vận 8 trở đi, nguyên khí của thành Bắc Kinh sẽ bắt đầu suy yếu, nên kể từ đó trở đi, họ không còn đủ sức để gây ảnh hưởng được với HàNội nữa. Do đó, trong các Vận 8, 9, nếu chúng ta có thể xây dựng nên một nước Việt Nam thịnh vượng và hùng mạnh, thì đất nước ta sẽ là đệ nhất cường quốc trong vùng Ðông Á (vì Nhật Bản lúc đó cũng tiêu điều, tàn tạ). Rồi qua tới các Vận 1, 2, 3, 4, vận khí của Bắc Kinh mỗi lúc một suy đồi, muốn giữ được trọn vẹn lãnh thổ Trung Hoa cũng còn khó khăn, thì làm sao có thể uy hiếp nổi đất nước ta được. Bởi thế nên trong những Vận này, tuy HàNội cũng càng ngày càng suy yếu, nhưng vẫn không bị lệ thuộc hoặc mất nước vào tay kẻ thù phương Bắc. Ðó cũng là cái may cho dân tộc Việt Nam chúng ta, vì vận khí của Hà Nội và Bắc Kinh cũng gần như tương tự trong những giai đoạn hưng-phế, nên nước Trung Hoa mặc dù rộng lớn, nhưng vẫn không bao giờ có thể khuất phục ta được
Filed under: Văn hóa | Leave a Comment »
Nguyễn Bặc
Cách đây mấy tuần tôi có được đọc một bài viết rất ý nhị của ông Nguyễn Hưng Quốc về chữ “phản biện”. Ông có nhiều bài viết rất hay trong Blog của mình trên trang nhà của đài VOA. Trong bài nói trên, Nguyễn Hưng Quốc đã định nghĩa rất chi tiết chữ phản biện. Theo ông, “phản biện là dùng lí lẽ để chống lại một cái gì đó…”. “Cái gì đó” trong định nghĩa trên không phải bao hàm con người hay sản phẩm (bất kể loại gì) của con người… Phản biện chủ yếu là chống lại một luận điểm, bằng cách đề xuất một cách nhìn hay một góc nhìn khác để, thứ nhất, người bị phản biện phải cố gắng chứng minh quan điểm của mình là đúng đắn nhất, và thứ hai, để mọi người có thể lựa chọn… Như vậy, phản biện được xây dựng trên tinh thần đối thoại, và do đó, có tính tích cực và xây dựng”. Là một nhà phê bình văn học, đương nhiên Nguyễn Hưng Quốc rất thích chữ “phản biện” này. Người CS thì khác. Họ không thích chữ “phản biện”. Họ không muốn, không cần và cũng không thèm phản biện. Người CS đã chứng tỏ sự không thích của mình đối với các tiếng nói phản biện ôn hoà, như trên mấy trang Talawas, Bô xít VN, Thông Luận, Mạng Ý Kiến… hoặc trên các blog của Điếu Cày, Ba Sàm, Mẹ Nấm, Đinh Tấn Lực, X-Café,… cho nên các trang này đã bị cho hacker đánh phá tơi tả (càng gần đến ngày Đại hội đảng thì có vẻ càng bị đánh phá dữ tợn hơn), nhiều nhà phản biện trong nước được đặc cách cho đi nghỉ mát dài hạn trong… nhà đá, mà gần đây nhất là TS Cù Huy Hà Vũ. Khi gặp ai đang muốn “phản biện trên tinh thần đối thoại, có tính tích cực và xây dựng“ một cách nghiêm túc theo định nghĩa của ông Nguyễn Hưng Quốc, thì họ chỉ ngay vào cái mồm của mình và đưa ra một luận điểm chắc nịch, không tài nào phản biện tiếp tục được nữa: “Mồm tao là luật”! Một sĩ quan cấp tá công an CSVN đã cúp lời của LS Lê Chí Quang như thế trước khi bắt bỏ tù anh năm 2002. Đôi khi, thô bỉ hơn, nhưng nhanh gọn hơn, họ không thèm dùng lí luận cùn nào cả, mà chỉ cần đứng sau lưng người phản biện, thò tay bịt miệng cái rụp là xong chuyện. Từ khi bị vố này đến nay, có lẽ LM Nguyễn Văn Lý cũng không còn hứng thú phản biện nữa.
Thật ra, nói rằng người CS không thích phản biện là không chính xác lắm. Những ông tổ CS Karl Marx và Friedrich Engels chính là những ông vua về phản biện. Các-Mác và Phri-đrich Ăng-ghen – như cách viết trong nước – đã dành suốt cả cuộc đời mình để phản biện chủ nghĩa Tư Bản trong hàng ngàn lá thư và bài báo, cũng như trong cả mấy chục tập sách dày cộm về Tư bản và Học thuyết về giá trị thặng dư.
Nhưng hơn một thế kỉ rưỡi sau, truyền đến đời chắt chít con rơi con rớt của những Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết, thì truyền thống phản biện này đã thực sự thất truyền toàn bộ, duy còn lại pháp môn “Mồm tao là luật”! Rất tiếc. Tuy không thích chữ “phản biện”, nhưng đảng và nhà nước CSVN lại rất thích chữ “phản động”. Ai không tin thì cứ giở những trang báo lề phải trên mạng ra xem: Nào là “Mặc áo tu hành, nhận tiền phản động” (nói về Đại lão Hoà Thượng Quảng Độ), nào là “Những kẻ phản động trong số du học sinh” (nói về người trẻ yêu nước Nguyễn Tiến Trung), “Bắc Giang: 300 tên phản động” (nói về cuộc biểu tình bộc phát của dân chúng Bắc Giang khi họ kéo về trụ sở UBND tỉnh phản đối việc Công an CSVN hạ sát một thanh niên vì đi xe gắn máy mà không đội mũ bảo hiểm),… Trên 600-700 tờ báo của đảng, người ta có thể đọc mệt nghỉ về các tổ chức phản động, đối tượng phản động, tài liệu phản động, nội dung phản động, lập trường phản động,… Và không khỏi phải tự hỏi, sao nhiều phản động thế?
Vậy phản động là gì? Khác với chữ phản biện, được dùng chưa lâu lắm ở VN, thì chữ phản động trong lãnh vực chính trị đã được nghe tại nước ta khoảng 100 năm trở lại đây, mà người sử dụng từ này một cách lạm phát, như đã nói trên, chính là đảng CSVN. Cán bộ lớn bé rất thường dùng từ này để hăm he, doạ nạt và quy chụp cho người khác một cách rất tuỳ tiện. Những ai có thái độ, lời nói, bài viết không phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước, thậm chí chỉ cần làm trái ý một cán bộ thấp lè tè như chú công an xã hay anh cảnh sát đứng đường, đều bị chụp cho cái mũ phản động rất dễ dàng. Nhưng có lẽ nhiều cán bộ CS từng sử dụng từ phản động này một cách vung vít, cũng không hề biết rằng trước khi từ này du nhập vào nước ta, nó đã cần đến hơn 150 năm và phải đi cả nửa vòng trái đất.
Trong lãnh vực chính trị, chữ phản động(1) được phổ biến rộng rãi hồi cuối thế kỉ thứ 18, thời Cách mạng Pháp 1789, để chỉ những thế lực chống cưỡng lại các lí tưởng và những thay đổi về chính trị, xã hội, kinh tế và đạo đức của cuộc cách mạng tư sản này, nhằm tái lập chế độ cũ mà họ cho là ổn định hơn, tốt đẹp hơn. Trong bối cảnh lịch sử đó, phản động đồng nghĩa với phản cách mạng và đối nghĩa với tiến bộ. Khi nói rằng phản động là trái nghĩa với cách mạng và tiến bộ, thì người ta đã công nhiên bao hàm tư duy về tiến bộ, mà một tiền đề triết học lịch sử của nó quy định rằng lịch sử phát triển đi lên theo đường thẳng(2). Sau đó hơn nửa thế kỉ, trong Bản Tuyên ngôn của đảng Cộng sản được công bố vào tháng 2 năm 1848 tại Luân Đôn, chữ phản động được Karl Marx gắn liền vào ý niệm giai cấp: Ông này cho rằng trong một cuộc cách mạng vô sản, ngoài giai cấp công nhân ra, các giai cấp khác đều là phản động cả: Giai cấp tư sản thì đã đành, mà ngay cả giai cấp trung lưu, tiểu tư sản cũng muốn xoay lại bánh xe lịch sử. Từ đó đến nay hàng loạt cuộc cách mạng đã xảy ra từ Âu sang Á, vô sản hay tư sản thì không biết, nhưng các lãnh tụ mập mạp hồng hào của chúng đều thích đeo huy hiệu cờ đỏ và búa liềm trên túi áo, hồ hởi phấn khởi hát bài Quốc tế ca và nhất là rất sẵn sàng đóng dấu lên trán bất cứ người nào dám khác chính kiến với họ một cái mác „phản động”(3). Các đồng chí Stalin, Mao hay Castro đều làm một sách như thế cả, tất nhiên người học trò tiên tiến của nước ta là Hồ Chí Minh cũng không chịu thua kém ai. Suốt 65 năm nắm quyền của đảng CSVN, trước là tại miền Bắc, sau trên cả nước, biết bao triệu người dân vô tội đã bị chụp cho cái mũ phản động và bị đấu tố, tù đày, tra tấn, hành quyết hay thủ tiêu chết tức tưởi. Chỉ riêng trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất 1953-1956 mà đường lối của đảng là “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, và chỉ dựa vào các số liệu thống kê chính thức của họ mà thôi, thì đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, trong đó có 123.266 người bị quy sai, tức là hơn 70% bị oan (4)! Sau đó trong phong trào Nhân văn Giai phẩm 1955-1958, lại biết bao người đã bị quy chụp về tội phản động. Chúng ta phải đọc lại những lời lẽ buộc tội hung hăng con bọ xít, côn đồ và hạ cấp của Tố Hữu, Uỷ viên Bộ Chính Trị thời đó (5), rồi nhớ lại rằng vào tháng 2 năm 2007, tức là 50 năm sau, Chủ tịch nước Công hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyễn Minh Triết đã phải ký quyết định tặng thưởng giải thưởng Nhà nước cho 4 nhà văn thuộc Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm (gồm Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần và Phùng Quán), để thấy tất cả sự tắc trách của những quy chụp phản động trước đây. Vậy mà mãi cho đến thời Mạnh-Dũng-Triết hôm nay thì chứng nào vẫn tật nấy (6)! Tuy vậy, ngày nay, từ phản động ít khi được các nhà lý thuyết CSVN định nghĩa là phản cách mạng (phản ngược lại phong trào cách mạng và lí tưởng cách mạng) như ý nghĩa nguyên thuỷ của nó. Lí do cũng dễ hiểu thôi: Trước những vụ tham ô nhũng nhiễu từ trên xuống dưới, trước những “Pờ-Mu 18”, thối đến độ phải đợi chính phủ Nhật ra tay cúp viện trợ làm áp lực trong một buổi họp công khai mới chịu đem ra xét xử (lúc ban đầu rất qua loa), trước những con bạc triệu đô đem tiền hối lộ đi sát phạt đỏ đen và trước sự kiện đương kim Thủ tướng (“Anh Ba Dũng”) xây nhà thờ họ hơn một triệu đô tại Kiên Giang (7), hay vụ một quan tỉnh trưởng thông đồng với hiệu trưởng trung học để mua dâm nữ sinh rồi bị tung hình loã lồ trên mạng,… thì người CS thật khó mà đem chiêu bài cách mạng và đạo đức cách mạng của phe ta ra mà phản biện với “bọn phản động”! Đó là chúng ta chưa muốn nói dài dòng đến việc các quan đầu tỉnh cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn, hay “dự án lớn” Bauxite tại Tây Nguyên và “quả đấm sắt” Vinashin đang te tua vỡ nợ, v.v. Khi dùng từ phản động để quy chụp những người khác chính kiến với họ, người CS cố ý lập lờ ngữ nghĩa chính xác của nó. Tỉnh từ “Phản động” bị dùng như tỉnh từ “xấu”: Đối tượng phản động, trang Web phản động, nội dung phản động là có ý nói đối tượng xấu, trang Web xấu, nội dung xấu, v.v. Ai tiến bộ, ai phản động, cái gì gọi là tốt, cái gì là xấu? Tại VN tất cả đều do đảng ấn định. Đảng nói ai phản động thì người đó là phản động, đảng nói ai tiến bộ thì người đó là tiến bộ. Hiếm khi, phải bị đối chất (ví dụ trong một phiên toà), thì người CS thường đánh đồng từ “phản động” với chống Đảng, chống nhà nước, chống nhân dân, chống tổ quốc (phản quốc). Cách giải thích này thật sự không ổn và không lương thiện. Nó là một nguỵ biện. Vì chống đảng CS của một ông Nông Đức Mạnh nào đó và chống nhà nước CS của một ông Nguyễn Tấn Dũng nào đó, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc chống nhân dân VN và chống tổ quốc VN. Đảng CS chỉ là một tập thể chính trị và nhà nước CS chỉ là một bộ máy hành chính, chứ đó không phải là nhân dân VN và tổ quốc VN.
Vỗ ngực nhập nhoạng đảng mình và nhà nước CS thành ra nhân dân và tổ quốc VN, đó là một chiêu bài đánh lận con đen tương đối rẻ tiền. Đó còn là một sự mạo nhận cực kì phản động!
Filed under: Chính Trị | 1 Comment »
Lịch sử là những cái hay, cái dở mà người xưa để lại cho đời sau. Lịch sử quan trọng với những ai còn đang muốn làm một cái gì đó cho dân tộc Việt Nam (VN) hiện vẫn đang chìm đắm trong đêm dài tăm tối. Đặc biệt những ai muốn làm chính trị cho tới nơi tới chốn để đem lại lợi ích thực sự cho dân tộc thì càng phải hiểu thấu đáo và càng phải biết được cái “dụng “ của lịch sử. Vì hiểu được lịch sử là một chuyện, biết đem những hiểu biết quý báu này ứng dụng vào từng giai đoạn, từng tình hình của đất nước phù hợp với từng biến chuyển của thế giới mới thật là quan trọng.
Điểm qua lịch sử dân tộc trong vài thế kỷ qua, chúng ta cần khách quan và thẳng thắn để nhìn nhận rằng:
Trong suốt gần 300 năm qua, mặc dù dân tộc ta có đạt được một số thành quả, nhưng về mặt khác, dân tộc ta đã liên tục đi từ thất bại này sang thất bại khác.
I) Thành Quả:
1) Thành quả phát triển lãnh thổ: Đó là thành quả nổi bật nhất. Suốt 200 năm nội chiến dưới thời Hậu Lê, lãnh thổ Việt Nam đã phát triển gấp đôi so với các triều đại trước. Thực ra, đây là đáp ứng tất yếu trước áp lực liên tục của Hán tộc ở phương Bắc, luôn đè nặng lên trên dòng Bách Việt tại phương Nam. Cho nên nếu nói rằng:
” Chiến lược phát triển về phương Nam của dòng Bách Việt trong chừng mực nào đó cũng thể hiện một hình thái nào đó của sự chạy trốn trước áp lực của nòi Hán ” thì nhận định ấy cũng không phải là không có cơ sở.
2) Thành quả thứ hai về mặt văn hóa: Chúng ta đã mau chóng thích nghi với làn sóng văn minh phương Tây tràn tới phương Đông qua hai ngả Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương khi biết hình thành chữ Quốc ngữ dựa vào mẫu tự La Tinh (mà cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha) nhằm thay thế chữ Nho trong việc mở mang dân trí cho quảng đại quần chúng. Trước đây, để thông suốt chữ Nho, người ta phải bỏ ra hàng chục năm trời, nay với chữ Quốc Ngữ, chỉ cần chuyên cần cả năm là có thể đọc, viết một cách dễ dàng.
Những thương buôn và giáo sĩ người Bồ Đào Nhà là người Âu châu đầu tiên đến VN từ giữa thế kỷ 16. Thực ra, nếu ta tiếp xúc sớm với Anh hay Pháp thì chúng ta không thể phát kiến ra chữ Quốc ngữ được vì cách phát âm 24 mẫu tự La Tinh thuộc hai nền văn hóa này có sự khác biệt so với tiếng Bồ Đào Nha. Cho nên, khách quan mà đánh giá: Dù Bồ Đào Nha bị hai thế lực Anh, Pháp chèn ép đến nỗi phải từ bỏ tham vọng thống trị Ấn Độ Dương và một phần Thái Bình Dương, có lẽ, thành quả lớn nhất của Bồ Đào Nha ở Á châu chính là việc các Cố đạo Bồ Đào Nha đã có những đóng góp khá lớn vào việc hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam vậy.
Dân tộc ta vốn là dân tộc hiếu hòa, trọng nhân nghĩa, nhưng rõ ràng là qua việc hình thành chữ Quốc ngữ, chúng ta vẫn chưa làm đủ để vinh danh những người có công đầu trong việc hình thành chữ Quốc ngữ trong buổi ban sơ vào các thế kỷ 17, 18 và 19 như các giáo sĩ Francisco de Pina (Bồ Đào Nha), Gaspar de Amaral (Bồ Đào Nha), Antonio de Fontes (Bồ Đào Nha), Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes – người Pháp gốc Do Thái), Giám mục Bá Đa Lộc (Pháp), học giả Petrus Trương Vĩnh Ký, học giả Huỳnh Tịnh Của, v.v…
3) Thành quả thứ ba là về mặt quân sự: Chúng ta có một nhu cầu rất lớn và rất cấp bách sau khi bờ cõi đã phát triển đến vùng cực nam của đất nước. Đó là nhu cầu: Thống nhất đất nước để quy về một mối, nhằm hình thành một nhà nước trung ương tập quyền để thống nhất lực lượng dân tộc hầu đủ sức đương cự lại nhà Thanh cũng rất đang mạnh tại phương Bắc và vẫn không từ bỏ mộng thôn tính phương Nam.
Vua Quang Trung là một thiên tài quân sự đã xuất hiện rất đúng lúc để kết hợp lực toàn dân chống lại quân Thanh. Sự vĩ đại của vua Quang Trung nằm ở chỗ biết kết hợp tình báo trong dân với việc tổng hợp sức mạnh của Việt Nam và các thế lực chống nhà Thanh bên Tàu để hình thành một đạo quân có tính năng động rất cao nhằm đánh tan trên 200.000 quân Thanh khi chúng đã vô bờ cõi nước ta đến độ Tôn Sĩ Nghị, tổng chỉ huy quân Thanh thất kinh hồn vía phải bỏ cả ấn tín, kiếm đường trốn chạy về Tàu.
II) Thất Bại:
Nhưng bên cạnh các thành quả ấy, ta phải khách quan nhìn nhận những thất bại của dân tộc nói chung trong suốt 300 năm qua với thái độ không tự ti, mặc cảm, mà là với thái độ của một người trưởng thành, một dân tộc trưởng thành. Từ đó, chúng ta biết rút ra những bài học lịch sử bổ ích để thống nhất dân tộc, để xây dựng lại nước nhà sao cho tươi đẹp thực sự chứ không phải chỉ bằng những lời nói suông, bằng những khẩu hiệu được dương cao trong khi thực tế chỉ là những lời lừa phỉnh dân tộc nhằm biện minh cho những hành động đàn áp, bức hại, bóc lột dân, tàn phá đất nước, nhân danh những lý tưởng hão huyền.
Khủng hoảng lãnh đạo trong lòng dân tộc ta suốt hơn 300 năm qua là một vấn nạn trầm kha làm cho hầu hết các sĩ phu Việt Nam bất luận Bắc -Trung -Nam phải đau đầu kinh niên. Khủng hoảng lãnh đạo cũng làm cho dân ta – một dân tộc rất mực thống nhất về lịch sử, văn hóa, chủng tộc, v.v… ngày nay lại là một dân tộc mất niềm tin ở chính dân tộc mình nhiều nhất so với các dân tộc khác ở chung quanh ta.
Khủng hoảng lãnh đạo làm cho dân ta trở nên bạc nhược về mọi mặt, làm nô lệ cho các dân tộc chung quanh. Mặc cảm tự ti bao phủ trên mọi khía cạnh của cuộc sống của dân tộc ta, làm cho dân ta không dám tính những chuyện xa, chẳng dám bàn những chuyện lớn lao, lâu dài đến nơi đến chốn. Thay vào đó lại lấy những chuyện tranh dành quyền bính nhất thời, lấy khôn vặt, đả kích, lừa bịp nhau, thậm chí cả chém giết nhau làm thành tích nhằm thỏa mãn hay biện minh cho các toan tính cá nhân, dòng họ hay bè nhóm đầy thấp hèn.
Tất cả những chuyện này đều có tiền căn của nó, chúng ta chỉ nêu ra ở đây ít điều căn bản:
1) Thời Lê Mạt:
Nhà Lê tuy cai trị đất nước lâu dài nhất lịch sử dân tộc, nhưng ta cần lưu ý rằng trong 200 năm cuối của nhà Lê (mà sử gia gọi là Lê Mạt) là thời kỳ đầy sóng gío nhất khi vua Lê mất dần quyền cai trị để từng bước hình thành hai Phó vương Trịnh – Nguyễn, là hai người cai trị thực sự ở hai vùng Nam Bắc của đất nước mà các cố đạo Phương Tây thường gọi là Đàng Trong, Đàng Ngoài.
Cả hai vị Phó vương này đều rất thực tế. Họ cần thực quyền chứ không cần hư danh cho nên họ đã chấp nhận cho vua Lê giữ hư danh tại kinh đô Thăng Long nhưng quyền cai trị thực sự lại nằm trong tay chúa Trịnh, chúa Nguyễn và chúa Nguyễn tiếp tục con đường Nam Tiến của dân tộc nhằm củng cố lãnh địa đã chiếm được và có phương tiện chống lại chúa Trịnh khi cần thiết.
Tình hình tế nhị này từ từ dẫn đến việc chúa Trịnh phải củng cố thế lực của mình nhằm chống lại nhóm trí thức miền Bắc vốn được gọi là ” sĩ phu Bắc Hà ” bằng nhóm cấm binh Thanh Nghệ để làm chỗ dựa cho quyền uy của mình, một quyền cai trị mà bị sĩ phu Bắc Hà (những người vẫn còn tưởng nhớ tới nhà Lê) dị nghị.
Sĩ phu Bắc Hà bị gạt ra khỏi chính trường từ đó và cũng từ đây, một nửa đất nước không được lãnh đạo trong thực tế bởi giới sĩ phu nữa mà do nhóm cấm binh Thanh Nghệ thao túng, điều hành.
Ta cần lưu ý:
Chế độ phong kiến ở Việt Nam khác hẳn với các chế độ phong kiến khác trên thế giới, khác cả với nước Hán ở phương Bắc. Các vua chúa VN hầu hết đều xuất thân từ giai tầng nghèo khổ trong xã hội hay có thuở ấu thơ cực khổ. Thí dụ: Đinh Bộ Lĩnh tuy cha là tướng nhưng mất sớm, nên phải về sống với chú và đi chăn trâu, Lê Hoàn hồi nhỏ nhà nghèo, lại mồ côi cha mẹ nên làm con nuôi cho người khác, Lý Công Uẩn không có cha, làm con nuôi của sư Lý Khánh Vân, nhà Trần gốc gác từ dân đánh cá bao đời, Trịnh Kiểm hồi nhỏ vì nghèo khó, phải đi ăn cắp gà nuôi mẹ, vua Quang Trung cũng là ” áo vải dấy đế nghiệp “. Vì thế, chế độ quân chủ ở Việt Nam thực ra là chế độ quân chủ bình dân, trong đó, tuy vua cai trị nhưng tính tự trị của địa phương rất cao và thậm chí trở nên quá mạnh. Do tập quán hàng nhiều nghìn năm để lại, nên các chế độ quân chủ ở Việt Nam đã không dám hay không muốn huy động tài nguyên của cả nước vào các công trình lớn lao, lâu dài – trừ các công trình thực sự liên hệ sinh tử tới sự tồn vong của đất nước như đắp đê sông Hồng (chỉ có triều Nguyễn Gia Long là triều duy nhất của VN mà các nhà vua cho xây lăng tẩm của mình, kế tiếp chỉ có triều đại CS VN mới xây lăng tẩm và ướp xác cho lãnh tụ cao nhất của mình). Ngoài ra, tất cả đều tập trung nhân tài lực vào việc chống giặc Hán tộc. Việc này làm cho đất nước ta thiếu hẳn những công trình đồ sộ, xa hoa, có tầm vóc thế giới như Đế Thiên – Đế Thích của Campuchia chẳng hạn. Nhưng mặt khác, chế độ quân chủ bình dân ấy lại tạo điều kiện để củng cố quyền lãnh đạo trong thực tế cho các sĩ phu ẩn mình trong dân tộc (hội nghị Diên Hồng toàn dân chống Mông cổ thời nhà Trần là một thí dụ rõ rệt). Điều này làm cho kẻ thù không thấy được sức mạnh thực sự của dân tộc ta ở đâu cho đến khi chúng bị đánh cho đại bại bởi sức chiến đấu oanh liệt, kiên cường của cả dân tộc VN.
Vai trò này làm cho sĩ phu đất Bắc lúc đó cảm nhận được sứ mệnh cao cả của mình nhưng đồng thời cũng tạo cho họ cái cá tính của người anh cả, nắm giường cột gia đình (câu “ quyền huynh thế phụ “ là thế), nên phải có tiếng nói trong mọi vấn đề quan trọng của đất nước. Cho nên, ta không ngạc nhiên khi dưới thời chúa Trịnh mới xuất hiện nhiều vị trạng dân gian ở đất Bắc (Trạng Quỳnh là một trong những người tiêu biểu) hay châm chọc vua chúa vì sĩ phu đất Bắc không mấy tôn phục những triều đại “ không được coi là chính thống hay có công lớn với đất nước “ là vậy.
Sự tranh dành ảnh hưởng giữa chúa Trịnh – chúa Nguyễn này cho thấy: Trật tự cũ đang bị phá hủy nhưng trật tự mới lại chưa hình thành. Do vậy, cuộc đấu tranh trong lòng dân tộc VN nhằm tìm một trật tự mới thực sự đã bắt nguồn từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.
2) Thời Vua Quang Trung:
Thiên tài quân sự Quang Trung sau khi thất bại trong giải pháp chia ba cả nước cho ba anh em (việc này được coi như là một cách tái tổ chức xã hội trong điều kiện đất nước đã trải dài 2000 km từ bắc xuống nam. Nhưng Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc không đủ tài trí để cai trị vùng đất được phân công) nên vua Quang Trung đành phải thống nhất đất nước về một mối. Việc này khiến vua Quang Trung gặp phải thái độ bất hợp tác nhất thời của sĩ phu Bắc Hà đồng thời lại không thể kiểm soát được tình hình cả nước do các tàn dư của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ cũng như Nguyễn Ánh vẫn tìm cách khôi phục lại quyền cai trị của dòng chuá Nguyễn (từ miền Nam sông Danh trở vào Nam).
Cả đời vua Quang Trung là cả đời xông pha nơi trận mạc, đánh đông, dẹp bắc nhiều phen mà chiến công oanh liệt nhất là đánh bại quân Thanh dưới thời Càn Long (là ông vua văn võ song toàn của nhà Thanh). Chỉ trong một trận, vua Quang Trung đã làm quan quân nhà Thanh và Càn Long thất kinh, mất viá. Nhưng vua Quang Trung mặc dù vĩ đại trong chinh chiến và có nhiều sáng kiến độc đáo trong việc cải tổ lại đất nước, nhưng lại thiếu nhân sự và thời gian hòa bình để thi hành các kế hoạch sâu rộng ấy. Vì vậy:
Vua Quang Trung tuy chiến thắng trong chiến tranh nhưng thất bại trong hoà bình.
3) Nhà Nguyễn Gia Long:
Bài học quan trọng mà thế hệ sau học được ở vua Gia Long là: Sự kiên trì trong việc dành lấy chính quyền từ nhà Nguyễn Quang Trung. Nhưng sau khi thành công rồi, Gia Long và các vua kế tiếp đã phạm nhiều sai lầm lớn lao, nghiêm trọng mà hệ lụy còn kéo dài cho tới bây giờ mà dân tộc VN vẫn chưa giải quyết tới nơi tới chốn được. Ta cần liệt kê một số điều này:
a) Nghi kỵ sĩ phu Bắc Hà và có đầu óc trả thù nhỏ nhen: Sau khi chiếm trọn vương quyền, thống nhất cả nước, vua Gia Long thi hành chiến dịch trả thù nhà Tây Sơn khốc liệt như: Đào mồ vua Quang Trung và giam xương vào lao thất, bắt nữ tướng Bùi Thị Xuân cho voi dày trước mặt con gái nữ tướng này sau đó cũng giết luôn đứa bé, lại truy diệt tàn khốc con cháu vua Quang Trung và những người liên hệ tới Tây Sơn.
Dưới thời các vua nhà Nguyễn, thái độ nghi kỵ sĩ phu đất Bắc được nâng cao tới tột đỉnh. Điều này thể hiện rất rõ qua việc tuyển chọn trong thi cử và qua việc hàng loạt sĩ phu Bắc Hà đầy tài năng bị đưa vào triều đình Huế làm việc nhưng thực sự là để an trí, bằng cách trao cho họ một chức vụ nào đó để che lấp thái độ nghi kỵ của triều đình nhà Nguyễn mà thôi (cụ Phạm Quang Tuyên là một thí dụ điển hình). Trong khi đó, các chức vụ cai trị quan trọng ở miền Bắc và tại triều đình đều do nhóm thân tín Thanh Nghệ hoặc tại miền Trung đảm nhiệm (nên nhớ, dưới triều nhà Nguyễn, sĩ phu Bắc Hà không bao giờ được phong Tứ phẩm trở lên). Hãy lấy thí dụ về thi cử: Miền Bắc xưa nay nổi tiếng văn học vì là cái nôi phát tích cội nguồn và văn hóa của dân tộc (kinh thành Thăng Long được gọi là đất Ngàn Năm Văn Vật là thế), là nơi cả hàng ngàn năm luôn phải trực diện chiến đấu với kẻ thù Hán tộc để duy trì nòi giống, giữ yên bờ cõi. Miền này đất rộng, người đông, nhiều sĩ tử. Vậy mà trong việc mở các trường thi hương trên toàn quốc, miền Bắc chỉ có 2 trường. Riêng miền Nam còn đang trong giai đoạn khai hoang lập ấp nhưng cũng có 2 trường thi như miền Bắc Trong khi đó, miền Trung đất hẹp, dân ít, nhất là miền Trung từ vùng Thuận – Quảng tới Phan Thiết mới thiết lập sau này, thế mà lại có đến 4 trường thi. Trong thời các vua nhà Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, triều đình có mở 27 khoa thi hội tại Huế, tuyển chọn hàng trăm người, nhưng trong số trúng tuyển ấy, chỉ có 4 người miền Bắc. Việc nghi kỵ sĩ phu Bắc Hà thể hiện rõ nét trong việc chấm thi. Sĩ tử Bắc Hà khi thi hương và đỗ được cử nhân, lúc vào triều đình Huế để thi hội, nhiều khi bài thi hay hơn mọi người mà vẫn bị dìm xuống. Thí dụ, trong một khoa thi hội đời Minh Mệnh, có Phạm Văn Nghị, sĩ tử Bắc Hà được điểm cao nhất, nhưng bị đưa xuống hạng hai để cho Nguyễn Cửu Trường, là người tỉnh Thanh Hoá, quê hương nhà Nguyễn, lên đứng hạng nhất. Cách thức thi tuyển này hơi giống màn “ học tài thi lý lịch “ hay “ thêm vài điểm ưu tiên cho con cái liệt sĩ hay cách mạ ng “ dưới chế độ cộng sản sau này.
Như thế, nhà Nguyễn trong thực tế đã để mất vùng đất được coi là yếu huyệt của đất nước vì vùng này là cái nôi của Bách Việt còn sót lại và kế cận với kẻ thù của dân tộc là Hán tộc. Giặc giã nổ ra liên tục tại miền Bắc dưới triều Nguyễn chính yếu là vì lý do này.
b) Chủ Trương Tống Nho: Trong khi xã hội VN lúc đó dựa vào nền tảng là Tam giáo: Lão – Nho – Phật, chứ không phải chỉ có Nho giáo thôi, vậy mà nhà Nguyễn lại chủ trương theo Tống Nho thủ cựu và chống lại văn minh phương Tây (dựa trên nền tảng Thiên Chúa Giáo) đang phát triển về phương Đông. Đây là một hành động chính trị rất thiếu khôn ngoan của triều đình nhà Nguyễn. Ta cần lưu ý:
Vua Gia Long thống nhất đất nước là nhờ vào sức dân miền Nam là chính nhưng cũng có sự góp sức tích cực của nhóm Hoa kiều Minh Hương (vì nhóm này chống vua Quang Trung) cùng với một số người Âu châu (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp) tại Đàng Trong. Khi nhóm Âu châu bị mất thế trong triều đình Nguyễn thì vai trò của nhóm Hoa kiều lại tăng tiến lên. Tác động của nhóm Hoa kiều này không phải là nhỏ trong triều đình nhà Nguyễn. Cho nên, với triều Nguyễn, văn sách, khoa học không học mà chỉ coi trọng thi phú là vậy, quân cơ không lo, chỉ lo mất ghế là thế! Ngoài ra, ảnh hưởng của nhóm Hoa kiều này còn thể hiện rõ rệt trong việc tranh chấp quyền lực giữa Hoàng tử Cảnh (con đầu của vua Gia Long, người có cái nhìn phóng khóang về Tây phương vì đã từng sang Âu châu và giao tiếp nhiều với người Tây phương) và Minh Mạng (có đầu óc bảo thủ, không ưa Tây phương và coi Tàu là nhất). Kết quả nhóm quan lại thân Tây Phương yểm trợ Hoàng tử Cảnh đã thua nhóm quan lại thân Tàu đang yểm trợ cho Minh Mạng. Từ đó, lịch sử VN đã rẽ sang một bước lùi tiêu cực còn kéo dài mãi cho tới ngày nay.
Thống nhất lòng dân cả nước là chuyện vô cùng hệ trọng, nhưng sau khi thống nhất đất nước rồi, triều Nguyễn chỉ lo trấn áp miền Bắc, lo trả thù những ai liên hệ tới nhà Tây Sơn, lo hưởng thụ, xây lăng tẩm mà không để ý đến việc canh tân đất nước cho hợp thời đại.
Tới khi đảng CSVN chiếm được miền Nam, họ cũng lập lại lỗi lầm to lớn này của nhà Nguyễn. Họ đã thù ghét, nghi kỵ và lo trả thù dân chúng miền Nam rồi tìm cách trấn áp, tiêu diệt những giới trí thức, tinh hoa của miền Nam để đến ngày nay đất nước đi vào con đường mạt lộ, chia cắt lòng người. Không học thuộc lòng và không biết áp dụng những bài học lịch sử quý báu nên đã tạo ra những tai nạn to lớn, thảm khốc cho dân tộc là vậy!
Sự thiếu khôn ngoan trong chính trị này đã gây nguy hại không ít cho tiềm lực dân tộc. Thực ra, sự trấn áp này đúng về mặt tâm lý vì sau hàng trăm năm chiến tranh với chúa Trịnh ở miền Bắc, rồi mấy chục năm chinh chiến với nhà Nguyễn Quang Trung (vua Quang Trung được lòng dân Bắc Hà khi dẹp tan quân Thanh xâm chiếm miền Bắc), thì sau khi nắm được quyền lực, trong đầu óc của Gia Long và các vua sau này như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đều có lòng nghi kỵ, không tin tưởng, không trọng dụng dân chúng sống trong vùng đất (Bắc Hà) của kẻ thũ cũ (chúa Trịnh) và kẻ thù mới đây của mình (vua Quang Trung). Ngoài ra, vì phải gian khổ, hy sinh thật nhiều mới nắm được ngai vàng, cho nên khi có chính quyền trong tay thì triều đình nhà Nguyễn lo hưởng thụ, lấy thi phú làm phương cách tỏ sự thanh cao đồng thời là cách để thị uy trí tuệ với sĩ phu Bắc Hà. Chủ trương này dẫn ngay đến một hệ lụy nguy hiểm khôn lường cho triều Nguyễn. Đó là bịnh: Xa Rời Thực Tế. Căn bịnh này đã hủy diệt nhà Nguyễn và vùi dập dân tộc trong suốt thời gian dài đã qua.
Vì thế, nhà Nguyễn đã thất bại ở miền Bắc, để rồi cuối cùng cũng thất bại trên quy mô cả nước.
Đó là tất yếu của lịch sử.
Như vậy, khi đánh giá về nhà Nguyễn, chúng ta đi đến ngay một kết luận rất thực tế là :
Nhà Nguyễn có công trong việc mở mang thêm bờ cõi, nhưng nhà Nguyễn vẫn không tìm được lối thoát cho dân tộc trong tình hình mới. Đặc biệt, nhà Nguyễn đã không nhìn thấy họa ngoại xâm mới, đó là chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn cầu. Với chủ trương theo Tống Nho, chống lại văn minh Tây phương, nhà Nguyễn coi tổ chức xã hội đời nhà Tống bên Tàu là mẫu mực trong việc trị dân, vẫn coi Tàu là khuôn mẫu để noi theo (cung điện ở Huế cũng dập khuôn theo kiến trúc của nhà Thanh bên Tàu), yên chí hưởng nhàn (vua Tự Đức thích thi phú), dung túng cho nhóm Tàu Minh Hương để nhóm này tạo ảnh hưởng kinh tế khá mạnh, nhất là ở miền Nam, mặc cho tham nhũng, đói khổ lan tràn khắp nước.
Nhà Nguyễn chỉ bình yên vỏn vẹn 56 năm, kể từ khi vua Gia Long lên ngôi vì từ năm 1858 thì Pháp đã bắn đại bác vào cảng Đà Nẵng để từng bước, từng bước mở đầu cho Pháp đặt ách thống trị trên khắp VN vào năm 1885. Có một trớ trêu của lịch sử là:
Nếu tính tròn thì nhà Nguyễn cũng chỉ giữ được độc lập mang tính hình thức vỏn vẹn khoảng 60 năm và người Pháp cũng chỉ cai trị trọn VN vỏn vẹn khoảng 60 năm mà thôi.
III) Thời Kỳ Tranh Đấu Dành Độc Lập:
Khi quân Pháp xâm chiếm VN thì các chống đối của sỹ phu Bắc Hà với triều đình Nguyễn có lắng xuống vì cuộc chiến chống ngoại xâm này mang tính chất cấp bách hơn. Trước nạn ngoại xâm, vua quân cùng nhau chống giặc. Nhưng chống bằng cái gì đây ?
Về mặt nhận thức, vua quan nhà Nguyễn chỉ nhìn thấy nước Tàu ở Bắc Kinh như là chỗ dựa vững chắc nhất cho triều đình (mà triều đình và dân tộc theo cái nhìn của vua quan nhà Nguyễn chỉ là Một) mà không hề mảy may nhìn thấy rằng: Với vài trăm quân Pháp, với vài chiến hạm bằng sắt, với đại bác bắn mạnh hơn, xa hơn, chính xác hơn thì hàng loạt thành trì của ta sẽ rơi vào tay Pháp dễ dàng.
Điều đáng trách nhất của triều đình nhà Nguyễn là:
Cho dù Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha không phải là quốc gia văn minh nhất ở Âu Châu vào lúc đó và Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đang bị Anh – Pháp hất cẳng ra khỏi vùng Ấn Độ Dương, tiếp theo cuộc hải chiến giữa Liên hạm đội Pháp (Napoleon) – Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1805 với hạm đội Anh do đề đốc Nelson chỉ huy, nhưng qua các thương nhân, giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha này, chúng ta vẫn có thể học hỏi được nhiều cái hay từ nền văn minh Tây Phương để mà cải cách đất nước cho hợp thời. Vả lại, dưới triều Gia Long rồi ngay cả triều Minh Mạng, cũng có một số người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, rồi Pháp làm quan trong triều. Ít ra, điều này cũng đủ để nhà Nguyễn có cơ hội tìm hiểu về văn minh cơ khí phương Tây hầu tìm kế chống đỡ nạn thực dân này, nhằm giảm bớt tối đa các thiệt hại cho dân tộc. Khốn thay, triều đình nhà Nguyễn chỉ lo hưởng nhàn, thi phú, lại có tinh thần tự mãn, ” coi Tàu là nhất sau đó đến Ta ” (lãnh đạo CS VN sau chiến thắng 1975, cũng huênh hoang tự mãn khoe mình là “ đỉnh cao trí tuệ loài người “, coi “ Liên Xô là nhất rồi đến Ta “) nên đã không chịu học hỏi khi tiếp xúc với các người Tây Phương này.
Những nhà cải cách, có lòng với dân tộc, có dịp đi ngoại quốc nên có viễn kiến thời đại như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, v.v….dâng sớ điều trần, trình bày cái hay, các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật Tây phương để vua quan nhà Nguyễn sớm thức tỉnh hầu canh cải đất nước cho kịp thời đại thì bị dèm pha, thất sủng. Trong khi đó vua tôi “ bế môn tỏa cảng “ để cùng nhau vịnh nguyệt thưởng hoa, rồi khen thơ nhau hay, văn sách giỏi, mặc cho dân tình đói khổ, đất nước chậm lụt với thiên ha.
Từ đấy, cuộc khủng hoảng trong lòng dân tộc ngày càng lan rộng đối với mọi tầng lớp xã hội suốt từ năm 1885 đến nay.
Chúng ta không so sánh VN với Nhật Bản vì Nhật Bản ở một vị trí quan yếu hơn để Anh – Pháp kể cả Mỹ phải giúp đỡ Nhật Bản trở nên cường thịnh nhằm cản chân Nga ở vùng Đông Bắc Á theo sách lược đế quốc Anh đề ra là ” Cân bình sức mạnh “. Nhưng nếu các vua nhà Nguyễn có cái nhìn khôn ngoan, thoáng đạt hơn về nền văn minh Tây phương thì
VN lúc đó không rơi vào vòng thảm hại.
Trớ trêu thay! Khi quyền lãnh đạo đất nước vuột khỏi tay các sĩ phu để đặt trọn trong tay nhà vua, đến khi triều đình bị tan rã thì giới sĩ phu (theo đúng truyền thống lâu đời của Bách Việt ta) đã không còn phát huy được tác dụng của mình nữa. Sĩ phu mạnh ai lấy làm, mạnh ai nấy tìm đường cứu nước theo quan niệm riêng mình hay phe nhóm. Thế là rất nhiều người sĩ phu lên đường để tìm cách canh tân, cứu nước nhưng không ai, nhóm nào thành công trọn vẹn cả. Để rồi, cuối cùng với sự can thiệp của đủ mọi thế lực ngoại bang, chúng ta thay vì cứu được nước, thống nhất được lòng dân, chúng ta làm cho dân tộc ngày càng phân hoá hơn.
Ta hãy đan cử một quốc gia khác có tình hình phức tạp hơn ta gấp bội. Đó là Ấn Độ. Ấn Độ chưa bao giờ là một quốc gia hoàn tòan thống nhất cho đến khi người Anh lập chế độ cai trị ở đấy. Họ chỉ còn có một con đường duy nhất để chống ách cai trị của người Anh là: Chủ trương ” Bất bao động của Gandhi “. Kết quả, Ấn Độ đã đạt được thành qủa với ít thiệt hại nhất.
Đối với VN, các cao trào đấu tranh dành độc lập tỏ ra rất sinh động nhưng hoàn toàn không theo một chủ trương nào thống nhất trên qui mô cả nước để làm cho đối phương phải kiêng nể (cũng cần phải kể thêm là: Người Pháp đã tỏ ra không thực tế và tham lam với các nước thuộc địa nhiều hơn so với người Anh). Các cao trào tranh đấu ấy không hề mang nặng sắc thái VN theo cách thức rất VN mà tổ tiên ta đã đã biết vận dụng rất thành công trong việc chống ngọai xâm. Trong tình thế ấy của đất nước sau năm 1885 khi triều đình Huế bị tan rã (triều đình Huế đã thực sự tan rã sau khi Pháp chiếm VN một thời gian vì triều đình Huế chỉ còn làm vì mà thôi) thì đúng ra, mọi hoạt động tranh đấu phải đi vào bí mật tuyệt đối để chỉ đạo quần chúng đến 98% là nông dân, nhưng hầu như các tổ chức tranh đấu dành độc lập của ta đều đua nhau xuất hiện công khai hoặc bán công khai.
Thế là ta thua giặc một bước dài rồi. Ta thất bại là rất đúng với tương quan lực lượng vào lúc ấy với Pháp.
Mỗi chủ trương trong hàng loạt chủ trương mà các nhà cách mạng VN đã tiến hành cũng chỉ mới thể hiện một trong rất nhiều đường lối trong khi công cuộc tranh đấu dành độc lập ngày càng trở nên phức tạp và tế nhị. Nhưng tiếc thay các nhà lãnh tụ cách mạng VN chưa nhìn thấy sự phức tạp và tế nhị ấy, nên đã đặt nặng việc tìm hậu thuẫn từ các quốc gia ở Á châu mà đã tạo được một vị trí nào đó trên trường quốc tế (thí dụ là Nhật Bản) với hy vọng rằng qua các thế lực ấy, chúng ta sẽ hất cẳng người Pháp ra khoải bờ cõi và thu hồi nền độc lập cho dân tộc.
Chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận rằng trong số các bậc tiền bối cách mạng chân chính ấy, không một ai mảy may suy nghĩ về cục diện thế giới, về chiều hướng mà thế giới sẽ đi, về các mâu thuẫn giữa các quốc gia phương Tây là gì ? Và để tìm một lối thoát cho dân tộc, ta phải làm gì trong một thế giới bây giờ không chỉ có Ta và Tàu không thôi mà là một thế giới trong đó vai trò của các quốc gia thực dân cũng đang bị thử thách nghiêm trọng. Các vị này cũng không nhìn thấy sự tan rã của chủ nghĩa thực dân đang gần kề, không thấy thế giới đang chuyển hướng sang một giai đoạn mới mẻ khác (ngay cả tại một số quốc gia Âu châu, giới trí thức và lãnh đạo cũng chưa thể mường tượng được nên cũng không thể chuẩn bị tinh thần cho dân họ nhằm đáp ứng với tình hình mới ấy).
Cho nên, vì thiếu trí tuệ, ta cứ thấy một ai đó ở Á châu có một cái gì mới (mới với ta nhưng cũ với các nước phương Tây) hoặc đạt được một thành quả trước mắt nào đó thì ta vồ ngay lấy, đem về áp dụng như là một phương cách nhằm đạt cho được một hậu thuẫn quốc tế và coi đó như là lẽ sinh tử cho cuộc tranh đấu dành độc lập của dân tộc. Khi làm như vậy, chúng ta đã vì quá nóng lòng đối với công cuộc đấu tranh dành độc lập nên đã không thấy đâu là kẻ thù chính, đâu là kẻ thù phụ, đâu là Tối Hậu Địch Nhân, đâu là kẻ thù tạm thời.
Thập niên 30 vừa qua của thế kỷ trước đã đánh dấu một bước rẽ quan trọng đối với vận mệnh đất nước khi Quốc Dân Đảng VN và đảng CS Đông Dương được hình thành.
Sau các thất bại của phong trào Cần Vương, Đông Du, các nhà đấu tranh VN bắt đầu nhìn thấy thực tế khó khăn và phức tạp của tình hình thế giới, về thái độ của Nhật và Quốc Dân Đảng Tàu. Nước Nhật chỉ mạnh nếu so với các nước bị trị chứ chưa hùng mạnh nếu so với các nước phương Tây. Ngoài ra, vì quyền lợi, người Nhật cũng sẵn sàng đi theo con đường thực dân sắt máu của Anh, Pháp (việc Nhật chiếm Đại Hàn, Đài Loan là thí dụ rõ rệt). Cho nên, Nhật sẵn sàng bán đứng các phong trào dành độc lập của các quốc gia Á châu khác cho phương Tây nếu Nhật được phương Tây tương nhượng chút gì đó hay vì quyền lợi của Nhật bị đe dọa ở nơi khác (việc chiếm Đại Hàn năm 1910 tiếp theo sau việc đánh tan hạm đội Nga ở Đối Hải là một bằng chứng). Còn Quốc Dân Đảng Tầu thì hoàn toàn không đủ mạnh so với lực lượng Tây phương và họ cũng sẵn sàng hy sinh quyền lợi dân tộc VN nếu có lợi cho họ.
Nhưng các nhà cách mạng tiên phong VN lúc ấy không có sự chọn lựa nào khác nên vẫn phải thúc thủ tìm cách luồn lách để sinh tồn một cách bí mật tại Nhật Bản lẫn Tàu hầu củng cố thế lực và tìm cơ hội hành động khi tình hình thay đổi có lợi hơn cho phong trào dành độc lập.
Đầu thế kỷ 20 có hai biến cố quan trọng ảnh hưởng nhiều đến cao trào tranh đấu dành độc lập ở VN. Đó là:
Việc hình thành một nhà nước Cộng sản đầu tiên trên thế giới ở Liên Xô và việc hình thành Quốc Dân Đảng Tầu.
Không một ai hiểu rõ là Lenin, Trotsky, Bukharin, Stalin nghĩ gì về một nhà nước cộng sản ở Nga sau cuộc cách mạng năm 1917 ấy ngoài các chiêu bài được quảng bá rộng rãi bởi Quốc Tế III như là một cao trào toàn thế giới để giải phóng người lao động khỏi sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản, thực dân, đồng thời giải phóng các quốc gia bị trị hiện đang sống dưới chủ nghĩa thực dân tại Á châu, Phi châu. Sau các xáo trộn ở Liên Xô (nạn đói, các cuộc chống đối của nhóm Bạch Nga,.v.v…) thì mãi đến cuối thập niên 20 Liên Xô mới bắt đầu tiến hành việc hình thành các phong trào cộng sản tại các quốc gia bị trị (họ cần thời gian để tuyển người, huấn luyện, v.v…).
Với Quốc Dân Đảng Tầu, bản thân Tam Dân chủ nghĩa đã là một mớ hổ lốn. Nó là chủ nghĩa bành trướng Hán tộc mặc chiếc áo Tây phương nhằm lật đổ nhà Thanh (mà người Tầu lúc đó coi là ngoại nhân thống trị) đang hồi suy tàn. Nhà Thanh tuy suy tàn nhưng cả nước Tầu không bị đô hộ bởi thực dân mà chỉ phải nhượng bộ một số tô giới mà thôi cho nên chủ quyền nước Tầu còn khá nguyên vẹn. Cùng với các diễn biến của thời cuộc (phe Trục được hình thành dẫn đến Thế chiến II, Nhật xâm lăng Mãn Châu năm 1935, Liên Xô đang ra sức tạo dựng lực lượng tại các quốc gia bị trị với hai mũi tiến công là đảng CS Tầu và CS Đông Dương). Khi Thế chiến II đang đi giai đoạn chín mùi cho các vụ nổ lớn, thì vị trí của Quốc Dân Đảng Tầu được nâng cao vì Hoa Kỳ cần bí mật bảo vệ nước Tầu khỏi đà xâm lăng của Nhật ở Á châu. Cũng trong tình hình này nên Liên Xô cũng được Hoa Kỳ gấp rút giúp đỡ hết sức để hình thành mặt trận phía Đông (Á châu được gọi là phía Đông theo cách nhìn của Tây phương) sau khi Hitler đã không thành công trong chiến dịch xâm chiếm Anh quốc.
Chính trong điều kiện tổng quát này của thế giới, các tổ chức đấu tranh dành độc lập của dân tộc VN nay đi vào hai khúc rẽ khác nhau để từng bước đi vào cuộc chiến tương tàn, trong khi thế giới đi vào cuộc chiến tranh lạnh, ít đổ máu.
Về mặt nhận thức mà nói, các nhà đấu tranh VN kể từ thập niên 30 chia ra làm hai khuynh hướng rõ rệt và ngày càng đi vào chỗ đối đầu nhau về mọi mặt.
Khuynh hướng thứ nhất chủ trương: Đành rằng cần sự hậu thuẫn quốc tế, nhưng nền độc lập dân tộc là không thể tương nhượng được cho nên không thể trở thành tay sai cho bất cứ thế lực ngoại bang nào.
Khuynh hướng thứ hai chủ trương: Cần sự hậu thuẫn quốc tế đủ mạnh để đập tan chủ nghĩa tư bản thực dân để hình thành một thế giới đại đồng và qua đó, VN ta sau này sẽ trở thành người anh cả của khu vực Đông Nam Á. Vì thế, cần chấp nhận hy sinh cho mục tiêu lớn lao ấy. Những ai chống lại đường lối ấy đều là “phản cách mạng”, là Việt gian, là tay sai trá hình cho ngoại bang.
Cần thẳng thắn nhìn nhận rằng: Thành lập đảng chính trị chỉ có ý nghĩa trong điều kiện đất nước có độc lập, trong khuôn khổ một hiến pháp hẳn hoi, thì đảng chính trị ấy mới phát huy được tác dụng. Ngoài ra, đảng chính trị ấy còn phải dựa trên một cương lĩnh, một đường lối rõ rệt nhằm mục tiêu là phục vụ dân tộc, đồng thời đảng ấy phải hình thành được mội đội ngũ đảng viên nòng cốt, có đầy đủ ý thức, trí tuệ và trung thành với những nguyên tắc được coi là đúng nhằm thuyết phục dân chúng rằng: Con đường mà đảng ấy chọn lựa sẽ là con đường tốt nhất dẫn đến hạnh phúc, ấm no cho tuyệt đại đa số dân chúng. Trong điều kiện nước ta vào thập niên 1930, thế chiến II đang gần kề, thực dân vẫn còn mạnh và không có gì bảo đảm rằng: Khi thực dân này bị đánh đuổi thì thực dân khác lại không xâm lăng, mà đôi khi thực dân tới sau còn hung hiểm hơn thực dân trước rất nhiều. Các nhà cách mạng VN hồi thập niên 1930 và ngay cả 1940 vẫn chưa xách định được đâu là bạn, đâu là thù, chưa thấy hướng đi của nhân loại, cho nên nóng ruột muốn làm bất cứ điều gì, miễn sao lật đổ được thực dân Pháp mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao.
Các đảng cánh hữu được hình thành trước và sau Thế chiến II đều tỏ lộ khuynh hướng dân tộc. Ta có thể gọi các chính đảng đó là các đảng Dân Tộc, cho dù mang tên là gì đi nữa như: Quốc Dân Đảng, Đại Việt hay Dân Tộc Đảng. Các đảng Dân Tộc này có một phương châm bất di bất dịch là:
Không chịu làm tay sai cho ngoại bang, dù ngoại bang ấy là ai đi nữa.
Với tinh thần dân tộc này, với tình hình thế giới khá phức tạp sau Thế chiến II, thì các đảng Dân Tộc này ngày càng bị cô lập và hoàn toàn không phát huy được nhiều tác dụng trong tình hình thế giới ngày càng đổi thay mau chóng.
Với họ Hồ và đảng CSVN thì lại khác. Họ Hồ tự nguyện làm tay sai cho Quốc Tế CS với hy vọng hão huyền là họ Hồ sẽ làm chủ Đông Dương và cả Đông Nam Á sau này.
Nếu chính trị cứ đơn giản như họ Hồ nghĩ thì ai chả làm chính trị được. Cho nên, khi đem chủ nghĩa CS vào VN, họ Hồ và đàn em đã gieo rắc thảm họa khôn lường cho dân tộc trong suốt thời gian dài đã qua cho tới ngày nay. Họ Hồ và Đảng CS VN đã và đang giúp kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta là Hán tộc từng bước một tiến hành xâm lăng VN một cách âm thầm, ít tiếng súng, làm cho dân tộc ta (kể cả nhiều người trí thức) không nhìn thấy dã tâm nham hiểm này của lãnh đạo Hán tộc.
Hơn 60 năm qua, kể từ khi cướp được chính quyền hồi 1945, đảng CS VN đã đạt được một số chiến thắng (theo cái nhìn của đảng CS VN) không phải vì có chính nghĩa dân tộc, mà là do sự lừa bịp dân chúng khéo léo, quỷ quyệt, nhất là được sự hậu thuẫn tối đa của cộng sản quốc tế do Nga Tầu lãnh đạo, quan trọng hơn nữa là vì chiến thắng tạm thời này nằm trong chiến lược của Hoa Kỳ là:
Để Thắng Cuộc Chiến Toàn Diện Trong Đường Dài, Phải Sẵn Sàng Hy Sinh Mặt Trận Nhỏ Trong Ngắn Hạn, nhằm đẩy Liên Xô và nước Hán từng bước đi vào tan rã để Hoa Kỳ giữ được vai trò lãnh đạo, đưa thế giới đi vào nền văn minh mới.
Cho nên, nắm vững chính nghĩa dân tộc, biết rõ thế giới này đi về đâu, nhưng chúng ta vẫn chưa dẹp tan cái đảng CS phản dân, hại nước ấy đi được là vậy.
Tuy vậy, thời điểm quan trọng của lịch sử dân tộc, ngày đảng CS VN tan rã đang đến gần, rất gần.
IV) Sự Xuất Hiện Của Cao Trào Duy Dân Nhân Chủ:
Ông Gandhi mà người Ấn gọ là thánh đã đề ra chủ trương ” Bất bạo động “, tẩy chay hàng hóa của Anh, thực ra không đem lại cái gì mới nhằm cứu vớt tuyệt đại đa số dân Ấn khốn khó, cùng đinh. Cái nhìn của ông Gandhi và người kế vị là Nehru về thế giới là rất sơ sài và phiếm diện. Thuyết ” Tam Dân ” của Tôn Dật Tiên cũng chỉ là một thứ hổ lốn, bình mới rượu cũ mà thôi. Ngay cả đối với dân chúng, kể cả trí thức tại nhiều quốc gia Âu châu, thì thế giới ngày mai ra sao, chẳng mấy ai quan tâm. Âu châu vào thời điểm giữa thế kỷ 20 vẫn là Âu châu cổ là vậy. Với Hoa Kỳ thì khác, họ biết một điều: Chỉ có tự do thương mại trên phạm vi toàn cầu thì thị trường kinh tế mới mở rộng ra, dân chủ mới có cơ hội phát triển khắp nơi, nền kinh tế Mỹ mới bớt các bất trắc. Khái niệm về một thế giới hài hòa hơn đã được đề cao dưới thời Tổng thống Woodrow Wilson, nhưng nó vẫn còn mù mờ trong giới học giả Mỹ vào thời kỳ sau Thế chiến II.
Giới lãnh đạo Mỹ thì khác, họ thấy cần lợi dụng thời cơ để làm tan rã chủ nghĩa thực dân Âu châu, thống nhất Âu châu, rồi làm tan rã chủ nghĩa CS ở Liên Xô và Đông Âu, trước khi đẩy nước Hán đi vào chỗ tan rã.
Kế hoạch rộng lớn này chỉ có Hoa Kỳ mới làm được và Hoa Kỳ ở trong thế bắt buộc phải làm. Nếu không cả thế giới sẽ lâm nguy, như thế Hoa Kỳ cũng tiêu vong.
Nhưng lấy gì để Hoa Kỳ giải thích tính chính danh của mình ? Lấy gì để Hoa Kỳ biện minh cho những hành động đơn phương của mình trong việc ổn định thế giới và xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn cho nhân loại ?
Hoa Kỳ cũng có bế tắc về mặt chính danh này, dù với sức mạnh vật chất (kinh tế, khoa học, kỹ thuật, v.v…), Hoa Kỳ dư sức làm việc ấy trong đường dài.
Âu châu thực dân chẳng thể làm việc giải thích tính chính danh ấy vì quá khứ thực dân của mình.
Do Thái chẳng thể làm việc ấy vì các mâu thuẫn tôn giáo, chủng tộc với thế giới Ả Rập
Ấn Độ chẳng có thể làm việc ấy.
Nước Hán chẳng thể làm việc ấy vì tham vọng bành trướng nằm trong máu của họ
Đất nước duy nhất có thể làm việc ấy là Việt Nam. Vì rất nhiều lý do như lịch sử, phong thủy, văn minh của VN theo đúng tiến trình chuyển dịch của trung tâm văn minh.
Trong nửa thế kỷ đấu tranh dành độc lập, chúng ta nhận thấy thật rõ là:
Dựa hoàn toàn vào ngoại bang là tự sát, nhưng không biết lợi dụng thế quốc tế là thất bại.
Các đảng theo chủ trương dân tộc không phải là một đáp ứng lâu dài, nhưng các đảng phái chủ trương dựa vào thế lực ngoại bang cũng không mang những kết quả tốt đẹp cho dân tộc vì các thế lực ngoại bang thì bấp bênh và các thế lực này luôn thay đổi sự yểm trợ cho chúng ta một khi quyền lợi của họ bị đụng chạm.
Như vậy, ta cần một học thuyết cho Việt Nam, rất Việt Nam mới được.
Khi Cụ Lý Đông A mới 16 tuổi, một lần, do sự sắp xếp của Quốc Dân Đảng VN, Cụ đã đến gặp Cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan nói gì với Cụ Lý thì thực ra, ít người được biết, ngoài câu nói để đời của Cụ Phan là:
Dân Ta Chẳng Duy Vật, Dân Ta Chẳng Duy Tâm, Dân Ta Chỉ Duy Dân.
Từ ngữ Duy Dân mà Cụ Phan nói tới ở đây là thể hiện đúng truyền thống văn hóa dân tộc VN từ ngàn xưa để lại và cũng mang tính trực quan nữa. Ý Cụ Phan muối nói:
Hãy lấy dân làm gốc, làm gì cũng phải lấy việc phục vụ dân tộc làm đầu!
Không đầy 10 năm sau, kể từ khi gặp Cụ Phan ở Huế, Cụ Lý nhìn thấy thấy rất rõ các vấn nạn của dân tộc và toàn cầu một cách toàn diện trong chiều sâu thẳm nhất của lịch sử nhân loại đến hàng nhiều trăm năm.
Cụ Lý đã nói:
Năm Trăm Năm Nữa Gió Đông Phong
Chớ Bảo Rằng Ta Hàng Trăm Tuổi
Từ đó Cụ đưa ra những lời phát thệ cho những ai còn quan tâm tới dân tộc, tới nhân loại
Đó là:
Cứu vớt con người nói chung, khỏi các sai lầm quá khứ của lịch sử nhân loại.
Cứu vớt các dân tộc nhỏ yếu trong đó có cả Việt Nam đang bị đàn áp, linh lạc.
Hòa đồng với thiên nhiên (Bảo tồn môi trường thiên nhiên).
Từ trước tới nay, chưa một ai tiến hành việc thẩm định lịch sử nhân loại một cách toàn diện, rốt ráo, sâu thẳm rồi đưa ra được một học thuyết có khả năng thi hành trong thực tế, nhằm cứu vớt nhân loại ra khỏi các ràng buộc tiêu cực do lịch sử con người để lại, hầu thống nhất nhân loại lại để thiết lập một nền văn minh mới, thực sự nhân bản trên quy mô toàn cầu.
Như thế, giữa khái niệm Duy Dân mà Cụ Phan nói tới với Duy Nhân mà Cụ Lý đã phát triển thâm sâu và toàn diện là cả một bước tiến rất xa về phía trước với một trí tuệ rất cao siêu, đầy viễn kiến, nhìn thấu suốt về tương lai của loài người. Thực tế mà nói, Cụ Lý mới là nhà tương lai vĩ đại của cả nhân lọai vào thời kỳ đầy bất trắc này. Như thế, khi chủ trương cứu vớt loài người yếu, Cụ Lý hẳn nhiên đã thấy là:
Cuộc chiến đấu giữa cái Thiện và cái Ác trên qui mô toàn cầu cũng như trong phạm vi VN là con đường dài, đầy gian khổ. Sự giải tán đảng Duy Dân do Cụ Lý đưa ra sau biến cố đồi Nga Mi và Hoà Bình càng xác nhận tầm nhìn siêu việt ấy.
Điều quan trọng nhất ít ai biết là:
Học thuyết Duy Nhân đã đóng góp chủ yếu cho cho việc giải thích tính chính danh của Hoa Kỳ và cả Âu châu lẫn Nhật Bản trong việc bình định thế giới hôm nay, xóa nhòa mặc cảm tội lỗi do chủ nghĩa thực dân để lại. Đồng thời, nó tạo cơ hội để Hoa Kỳ tôn trọng một nước một nước VN Hải Ngọai đã âm thầm xây dựng trong suốt 60 năm qua để làm tiền đề cho việc xây dựng lại một VN tự do, ấm no, cường thịnh và độc lập thực sự sau khi chủ nghĩa CS hoàn toàn tan rã tại VN cũng như tại các nước CS còn sót lại.
V) Tình Hình Thế Giới Hiện Nay:
Thật sự nhầm lẫn khi nghĩ rằng: Hoa Kỳ đang sa lầy ở Iraq, Afghanistan và sẽ bỏ các nơi đó vào một lúc nào đó vào năm 2008 theo yêu cầu của đảng dân chủ hiện đang chiếm đa số tại quốc hội Mỹ. Cuộc chiến hiện nay cần được coi là cuộc chiến tối hậu cuối cùng trước khi nền văn minh mới của nhân loại được hình thành thật sự. Nó mới đi được 1/3 đoạn đường mà thôi. Hai phần ba đoạn đường còn lại tuy đầy cam go nhưng không phải là không giải quyết được.
Ta hãy thử nghĩ như thế này: Hoa Kỳ đâu có xa lạ gì với những thái độ và toan tính của Bắc Kinh trước nhiều vấn đề của thế giới. Hãy lấy kinh nghiệm Hoa Kỳ đối đầu với Nhật Bản làm thí dụ. Trước Thế Chiến II, Nhật Bản cũng đã trải qua một tình huống khá giống với Bắc Kinh bây giờ. Tức là cũng bán phá giá hàng hóa, cũng chiếm thuộc địa (Đại Hàn và Đài Loan) nhằm khai thác tài nguyên và bảo đảm về an ninh, cũng thiếu dầu hỏa vốn là vấn đề sinh tử đối với bất cứ quốc gia kỹ nghệ nào, rồi cũng liên kết với Đức, Ý mà lập thành phe Trục để tiến hành Thế Chiến II.
Giống như Nhật ngày xưa, Bắc Kinh hôm nay cũng điên cuồng kết hợp với Iran – Iraq (thời Saddam Hussein), Taliban, Al-Qaeda, các nhóm Hồi giáo quá khích khác và các nước độc tài, quân phiệt để hình thành một trận tuyến chống lại ý đồ của Hoa Kỳ và đồng minh là: Thiết lập một thế giới mới hài hoà, tốt đẹp, nhân bản hơn cho nhân loại.
Iraq trong thời gian qua đầy xáo trộn, Afghanistan trong thời gian tới sẽ gia tăng bất ổn, thực ra chỉ là hình thành các chuyện về Iran cũng như vì cần thời gian để các nhóm Shia và Sunni lộ rõ chân tướng của mình thế thôi. Khi Iran của nhóm giáo sĩ cực đoan bị xóa sổ thì Bắc Kinh sẽ có hành động như Hitler đã làm khi xua quân xâm lăng Liên Xô hồi Thế Chiến II hay không ? Hay Bắc Kinh sẽ xua quân ra khắp các mặt trận phía bắc và tây bắc nhắm vào các Cộng Hoà Hồi Giáo thuộc Liên Xô cũ, phía đông nhắm vào Đài Loan, phía tây nam nhắm vào Ấn Độ, phía nam nhắm vào Đông Dương ?
Ta nhận thấy:
- Mua được thêm thời gian là việc sinh tử với BK.
- Hoa Kỳ cũng chưa vội vã gì nhưng lúc nào cũng sẵn sàng cho biến cố lớn.
- Bắc Kinh là anh khổng lồ với đôi chân bằng đất sét.
- Chiến tranh là con đường duy nhất để giải quyết các bế tắc của thế giới hôm nay.
Như thế, Hoa Kỳ phải tiếp tục con đường đã vạch ra (con đường đã làm hao tốn nhiều sinh mạng, tiền của dân Mỹ trong suốt thế kỷ 20) để thực hiện việc thống nhất nhân loại trên phạm vi toàn cầu đúng như lời Cụ Lý đã tiên liệu trên 60 năm trước.
Trên điễn đàn Exodus mới đây xuất hiện một bài dịch và nhận định của ông Nguyễn Hùng với nhan đề: “ Khi Cowboys không bắn thẳng (When Cowboys don’t shoot straight) ” của tác giả William Engdahl. Mặc dù bài này mang hơi hám chủ hoà, nhưng hoàn toàn để lộ cho thấy Hoa Kỳ quyết tâm bình định thế giới, bất chấp mọi hiểm nguy, đúng như Cụ Lý đã tiên liệu. Các tài liệu trong bài viết này cũng cho thấy kế hoạch toàn diện gọi là “ Conplan 8022 “ được sọan thảo bởi ông Dick Cheney và Rumsfeld nhằm chuẩn bị cho quân lực Hoa Kỳ hoàn thành trách nhiệm này, mặc cho các phản đối từ phiá Nga, Bắc Kinh hay bất cứ quốc gia nào khác.
VI) Những Bài Học:
Qua những vị VN mà Cụ Lý đã âm thầm gởi đến Mỹ trên 60 năm trước, và qua các phong trào Đông Du lần thứ II (tức là sau biến cố 30-4-1975), nước Việt Hải Ngọai trên thực tế đã hình thành, bao gồm rất nhiều trí thức đích thực, am hiểu về thế giới. Qua sách vở của Cụ Lý cùng với sự đóng góp của nhiều trí thức VN sau này, chúng ta, hôm nay hiểu rất rõ về chiến lược toàn cầu, về hướng đi của nhân loại sắp tới.
Tuy nhiên, Chúng ta học được gì nơi thế giới cũng như trong hoàn cảnh của VN trong suốt một thế kỷ đấu tranh chống ngọai xâm ?
Xin thưa! Chúng ta học được một số bài học căn bản sau đây:
1) Chúng ta chưa thích nghi được với một đất nước VN mà bờ cõi đã mở rộng từ biên giới phía Bắc tới mũi Cà Mâu. Nơi hẹp nhất chỉ có 40 km chiều ngang. Trung tâm quyền lực từ từ di chuyển về phiá Nam nên sỹ phu miền Bắc không có cơ hội nhiều để đóng góp công sức vào việc điều hành đất nước. Cả ba miền đất nước tuy bằng mặt nhưng chưa thực sự bằng lòng vì các âm mưu thâm độc của kẻ thù trong ngắn hạn hay lâu dài trong các cuộc tranh chấp quốc tế đã và đang khởi diễn. Việc trung tâm quyền lực di chuyển xuống Nam thực ra không làm cho miền Bắc mất đi vị trí chiến lược mà về mặt phong thủy vẫn còn khả năng trấn áp cả vùng Hoa Nam. Nên bất cứ tổ chức nào cũng phải nhìn thấy vị trí quan trọng của miền Bắc cũng như của các sĩ phu Bắc Hà. Mất miền Bắc, thì nửa phần đất còn lại ở miền Nam sẽ rơi vào tay Hán tộc trong một ngày không xa.
2) Các triều đại VN trong hơn 2 thế kỷ qua, dù nhiều hay ít đều lộ cho thấy, vua nhà Nguyễn Quang Trung hay Nguyễn Gia Long tuy chiến thắng trong chiến tranh nhưng thực ra thất bại trong hoà bình.
3) Chúng ta đang ở trong một cuộc tranh đấu cách mạng đối với đảng CS VN (mà đảng CS VN đang là công cụ phục vụ cho chủ nghĩa bành trướng Hán tộc), nhưng đồng thời, chúng ta cũng đang trong giai đọan tranh thủ, thuyết phục đồng bào về một chiều hướng mới phù hợp với hướng đi của nhân loại cũng như với thực trạng của đất nước đang bị tàn phá tan hoang về mọi mặt do đảng CS VN đã và đang gây ra cho dân tộc. Như thế, trong khi đấu tranh cách mạng theo cách của mình (mà số người tham gia trực tiếp không nhiều), chúng ta dứt khoát cần chuẩn bị mọi thứ để bảo đảm rằng:
Chúng ta – dân tộc VN – sẽ chiến thắng trong chiến tranh và chiến thắng vẻ vang trong hoà bình.
Lúc này, chúng ta không thể lầm lẫn trong hai mục tiêu vô cùng quan trọng này được.
VII) Kết:
Lịch sử VN và nhân loại đã chứng minh: Không có một chế độ nào, đi ngược lại đạo lý và nhân phẩm con người, phi dân tộc, làm tay sai cho ngọai bang (Hán tộc), bán dân, bán nước, dựa trên bạo lực để sinh tồn, coi đàn áp dân chúng là chính, lại có thể tồn tại mãi được. Cho nên, ngày tàn của đảng CS VN đã gần kề.
Sau khi chế độ CS tại VN sụp đổ, chúng ta có rất nhiều chuyện phải làm. Một trong những chuyện quan trọng cần phải thực hiện cho bằng được để đưa đất nước VN đang tụt hậu, tan nát về tinh thần lẫn vật chất, sớm vươn lên nhanh chóng, bắt kịp sự phát triển với các nước tiên tiến trong vùng và thế giới để hoà mình với sự phát triển ngày càng nhân bản của nhân loại, đó là việc:
Ổn định tình hình chính trị!
Muốn vậy, ta cần thống nhất về mặt nhận thức, lấy học thuyết Nhân Chủ (trong đó, ta phải đặt tất cả hạnh phúc của dân tộc là ưu tiên hàng đầu, trên mọi quyền lợi đảng phái, địa phương, tôn giáo, v.v…) của Cụ Lý làm kim chỉ nam cho các hoạt động của mình, dù trong bất cứ cương vị nào trong hiện tại và trong tương lai. Đồng thời, chúng ta cần sẵn sàng đáp ứng ngay với chiều hướng mới của xã hội nhân lọai trong việc điều hành đất nước. Tức là: Trong hệ thống chính trị VN sắp tới, chỉ có 2 liên minh chính trị cốt lõi mà thôi (theo đúng chiều hướng lãnh đạo chính trị đã được chứng minh là có hiệu qủa nhất tại các nước phát triển ổn định trên thế giới và cũng đúng theo tinh thần Dịch Lý Âm – Dương của Bách Việt). Đó là:
Liên Minh Dân Chủ Tự Do, bao gồm tuyệt đại đa số những người chủ trương tự do, trong đó, con người có quyền phát triển về mọi mặt theo khả năng của mình, trong phạm vi luật pháp.
Liên Minh Dân Chủ Xã Hội, bao gồm những ai còn mang nặng tinh thần xã hội,muốn tranh đấu cho những người kém may mắn hơn trong xã hội.
Cả hai liên minh này sẽ phải ra sức thuyết phục đồng bào thông qua các chủ trương, đường lối cụ thể của mình.
Xã hội con người cũng như chính trị phải có những lực cân bằng để giải tỏa những bất đồng chính kiến, để tránh tình trạng độc tôn, thái quá hầu tạo sự ổn định lâu dài, nhất là tránh để giới lãnh đạo cầm quyền trở thành độc tài. Do vậy, hai liên minh chính trị chính yếu này sẽ thay nhau điều hành đất nước, cùng nhau hợp tác, cũng như kiểm soát lẫn nhau sao cho hài hoà để đưa đất nước, dân tộc VN phát triển trong trật tự, ấm no, hạnh phúc, phú cường và thực sự độc lập.
Lê Văn Xương
Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.
Minh Công

Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, việc học hỏi các quốc gia tiến bộ là xu hướng thức thời. Nhật Bản, xứ sở hoa anh đào, là một ví dụ điển hình mà chúng ta nên học hỏi và trân trọng. Nước Nhật với các khu công nghiệp, thương mại sầm uất gần như bị tàn phá hoàn toàn sau Thế Chiến Thứ II. Tuy nhiên, chỉ trong vòng nữa thế kỷ thôi, Nhật Bản đã vươn lên thành một trong những cường quốc kinh tế lớn nhất với tổng giá trị xuất nhập cảng đứng hàng thứ ba trên thế giới. Vậy đâu là bí quyết đã đưa nước Nhật phát triển một cách thần tốc như thế?
1. Tôn trọng danh thiếp
Mỗi cuộc gặp bàn thảo công việc hoặc giao tiếp kinh doanh tại Nhật Bản đều bắt đầu với việc trao cho nhau danh thiếp theo một cách rất trang trọng. Khi nhận danh thiếp, người nhận sẽ trân trọng nhận bằng cả hai tay, cuối người thấp xuống để bày tỏ sự tôn trọng và đọc nội dung danh thiếp một cách cẩn thận. Tiếp đến họ sẽ đặt danh thiếp vào một chiếc hộp danh thiếp hoặc đặt lên bàn trước mặt họ và luôn giữ danh thiếp sạch sẽ. Họ không bao giờ làm nhăn danh thiếp hay bỏ trực tiếp vào túi áo vì hành động đó được coi là thiếu tôn trọng lẫn nhau.
Bài học chúng ta có thể rút ra:
Trao đổi danh thiếp là một cách bày tỏ sự tôn trọng lẫn nhau. Nó thể hiện rằng bạn đánh giá cao cuộc gặp gỡ hiện tại cũng như các cuộc gặp trong tương lai. Vì vậy, khi nhận danh thiếp, hãy dành một chút thời gian đọc thông tin trên đó mà nhờ đó bạn có thể nhớ tên và hoạt động kinh doanh của một đối tác tiềm năng. Và bạn sẽ bị cho là thô lỗ và không có thiện chí nếu thuận tay nhét tấm danh thiếp vào túi áo gần nhất.
2. Tôn kính “cây cao bóng cả”
Trong một cuộc họp hay hội nghị ở Nhật Bản, người ta thường đưa ra trước những lời bình luận hay nhận xét của người cấp cao nhất hiện diện ở đó. Không ai bày tỏ sự bất đồng với người này trong khi lắng nghe. Sau đó, những người có chức vụ thấp hơn sẽ phát biểu dựa vào quan điểm hay điều kiện phù hợp với nội dung của cuộc họp.

Người Nhật luôn cúi đầu chào khi gặp những người lớn tuổi hay có chức vụ cao hơn. Khi cúi đầu – một hình thức chào hỏi truyền thống của người Nhật – họ luôn luôn cúi xuống thấp nhất trước người lớn tuổi có địa vị cao nhất.
Bài học chúng ta có thể rút ra:
Văn hóa công sở của Nhật Bản luôn thể hiện sự tôn kính và coi trọng những người có địa vị cao bởi sự thông thái và từng trải và những đóng góp quan trọng của họ cho công ty. Luôn biết lắng nghe những người có thâm niên hoặc có địa vị cao hơn bạn trong công ty. Nếu bạn bất đồng với người quản lý, hãy thể hiện điều đó với họ khi chỉ có hai người. Không bao giờ được tỏ ra nghi ngờ vai trò hay quyền lực của họ trước mặt các nhân viên khác.
3. Thấm nhuần động lực qua các khẩu hiệu
Nhiều công ty Nhật Bản bắt đầu ngày làm việc bằng một cuộc họp vào buổi sáng. Tại đó, nhân viên sẽ xếp hàng và hô to các khẩu hiệu của công ty như một cách để truyền cảm hứng, động lực làm việc và sự trung thành. Và đó cũng là một hình thức làm tươi mới các mục tiêu của công ty trong tâm trí từng nhân viên.
Bài học chúng ta có thể rút ra:
Mỗi lần ngồi vào bàn làm việc, bạn hãy tự nhắc nhở mình về công việc sẽ phải làm. Luôn làm tươi mới các mục tiêu lâu dài trong tâm trí bạn. Bạn nên ghi mục tiêu của công ty vào một quyển sổ tay để theo dõi xem những gì mình làm có phù hợp với mục tiêu ấy không. Nếu không, chắc chắn rằng những công việc lặt vặt hàng ngày sẽ xóa nhòa hoặc làm lu mờ những mục tiêu ấy.
4. Làm việc nghiêm túc
Người Nhật rất coi trọng công việc của họ. Họ nổi tiếng là những người làm việc rất hăng say, chăm chỉ, và thường rời văn phòng rất muộn. Người Nhật còn nổi tiếng là những người thể hiện tình cảm rất chừng mực. Ngoại trừ đôi lúc cười đùa, nhân viên xứ hoa anh đào không thể hiện tình cảm ra ngoài, đặc biệt là trong các cuộc họp. Hầu như không có chuyện va chạm cơ thể giữa các đồng nghiệp. Họ nói chuyện bằng giọng thấp, có chừng mực và thường nhắm mắt lại khi thể hiện sự chú ý tới người nói – một thói quen mà nhiều người nhầm lẫn là dấu hiệu của sự chán nản.
Bài học chúng ta có thể rút ra:
Tất nhiên bạn không nên coi văn phòng của mình như chiến trường, vì một không khí làm việc quá nghiêm túc, căng thẳng sẽ gây cảm giác ngột ngạt. Nhưng cũng tuyệt đối không cư xử như thể đó là nhà của mình. Bạn nên duy trì một tư thế làm việc chuyên nghiệp nơi công sở. Nghiêm túc trong công việc còn giúp tăng năng suất công việc của bạn.
5. Sống vì tập thể
Xã hội Nhật Bản rất coi trọng giá trị tập thể. Họ không đánh giá cao vai trò cá nhân như người Mỹ, mà luôn hướng đến sự đồng tâm hợp lực để đạt được kết quả cao nhất. Không có cái “tôi” trong công ty mà chỉ có “chúng ta” trong sự thành công hay thất bại của công việc. Nhiều nhà quản lý Âu-Mỹ khi đến Nhật Bản làm việc đã thất bại vì áp dụng cách quản lý chú trọng vai trò cá nhân mà quên đi tầm quan trọng giá trị tập thể.
Bài học chúng ta có thể rút ra:
Tinh thần đồng đội là yếu tố tiên quyết đối với thành công của một công ty. Nếu quá chú trọng đến vai trò cá nhân, một công ty sẽ thất bại vì mọi người chỉ quan tâm đến thành quả hoặc lợi ích cho riêng mình và tỵ nạnh với những người xung quanh. Ai ai cũng muốn trở thành “sao” mà không quan tâm đến việc mình sẽ đóng góp như thế nào cho thành công chung của tập thể. Thế nhưng quan niệm xem trọng vai trò tập thể có thể làm lu mờ những cá nhân có tiềm năng vượt trội. Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách cân bằng hai khái niệm “tập thể” và “cá nhân”.
6. Làm hết sức, chơi hết mình

Sau một ngày làm việc cật lực, các nhân viên Nhật Bản không ngại tìm cách giải tỏa sự căng thẳng “stress”. Họ thường đến các quầy bar để trút bầu tâm sự. Một điểm đến được ưa thích khác là các quán karaoke. Tại đây mọi người được thoải mái hát hò. Những quán bar, karaoke ở đây đều là những nơi rất nghiêm túc và lành mạnh chứ không mang khái niệm “trá hình” như nhiều người Việt chúng ta thường gán ghép cho nó. Việc ca hát thỏa thuê này ngoài việc giúp họ lấy lại cân bằng sau một ngày làm việc vất vả còn là dịp để họ cùng chia sẻ thông tin, thắt chặt tình bạn hay củng cố tinh thần đồng đội.
Bài học chúng ta có thể rút ra:
Giải trí là một phần quan trọng không kém trong một ngày làm việc, giúp giải tỏa căng thẳng và giữ thăng bằng trong công việc. Bạn hãy nhớ, khi đi chơi hoặc làm bất kỳ việc gì với đồng nghiệp, bạn hãy luôn là một phần không tách rời của nhóm.
Minh Công
Filed under: Chính Trị | Leave a Comment »
Sự tham gia hoạt động xã hội
Công dân không bắt buộc phải tham gia vào các hoạt động chính trị và họ cũng được tự do thể hiện sự bất bình bằng cách không tham gia vào các hoạt động chính trị. Nhưng nếu không có sự tham gia tích cực của công dân thì nền dân chủ sẽ bị yếu đi. Công dân trong các xã hội dân chủ có cơ hội được tham gia vào rất nhiều các tổ chức tư nhân, các hiệp hội, các nhóm tình nguyện. Phần lớn hoạt động của các tổ chức liên quan tới các chính sách công và chỉ có một số là do chính phủ tài trợ và kiểm soát. Một quyền cơ bản để tạo nên nền dân chủ là mọi cá nhân có quyền tự do hội họp, tự do tổ chức và thành lập các hội dưới nhiều dạng khác nhau của tổ chức phi chính phủ. Khi những người có cùng lợi ích tập hợp nhau lại, khi đó tiếng nói của họ sẽ được lắng nghe và cơ hội để gây ảnh hưởng đối với các cuộc tranh luận về chính trị sẽ được tăng lên. Như Alexis de Tocqueville, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng thế kỷ 19 đã viết: “Không có một đất nước nào mà sự đòi hỏi cấp thiết phải có các hiệp hội để chống lại sự chuyên chế bè cánh và sự độc đoán lãnh đạo như một đất nước được xây dựng theo kiểu dân chủ”.
Các tổ chức, hiệp hội trong các xã hội dân chủ có số lượng rất lớn và được phân loại theo nhiều cách. Các tổ chức mà chức năng chính của nó là gây áp lực đối với chính phủ về một vấn đề đặc biệt nào đó thì được xếp vào các nhóm hoạt động vì lợi ích hay các nhóm vận động hậu trường. Các nhóm vì lợi ích tư nhân như các hiệp hội kinh doanh, các tổ chức nghề nghiệp hoặc liên đoàn lao động, thường có các lợi ích kinh tế trong các chính sách mà họ ủng hộ, mặc dù cũng có thể họ đề cập tới lợi ích công cộng trong các vấn đề khá xa so với lĩnh vực chuyên môn của họ.
Giống như các tổ chức môi trường và các tổ chức phúc lợi xã hội, các nhóm được gọi là nhóm lợi ích công theo đuổi điều mà họ cho là tốt cho công chúng . Điều này không làm cho các nhóm lợi ích công cộng trở nên tốt hơn hay đạo đức hơn các nhóm lợi ích tư nhân. Hơn nữa, lợi ích của bản thân cá nhân bao giờ cũng được đặt ngay tiếp theo lợi ích công cộng.
Cả hai dạng tổ chức vì lợi ích này đều hoạt động rất mạnh tại các xã hội dân chủ. Cả hai đều rất quan tâm tới dư luận, cùng cố gắng để mở rộng sự ủng hộ như tìm cách giáo dục công chúng và đồng thời ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ cùng một lúc.
Các nhóm vì lợi ích đóng vai trò như một sức mạnh trung gian giữa các cá nhân đơn độc và chính phủ có quy mô lớn và cách xa dân chúng. Chính thông qua các hoạt động của các tổ chức đó và thông qua các cuộc tranh luận công khai, cởi mở, các tranh cãi gay gắt, các quyết định thỏa hiệp và các nhất trí đồng thuận giữa các bên mà xã hội dân chủ mới đưa ra được các quyết định liên quan tới hạnh phúc của các thành viên trong xã hội đó.
Bầu cử
Trong các nền dân chủ hiện đại, hoạt động bỏ phiếu bầu các công chức nhà nước là một dạng hoạt động thường thấy nhất và cũng là cơ bản nhất nói lên sự tham gia của công dân vào việc tổ chức xã hội. Khả năng thực hiện các cuộc bầu cử tự do và công bằng là vấn đề cốt lõi để một xã hội được gọi là dân chủ.
Động cơ bỏ phiếu của cử tri cũng nhiều và đa dạng như các tổ chức và quyền lợi mà các tổ chức đó đại diện trong xã hội dân chủ. Đương nhiên là các cử tri sẽ bỏ phiếu cho các ứng cử viên đại diện cho quyền lợi của họ, nhưng cũng có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới sự lựa chọn đó. Ví dụ sự liên quan tới đảng chính trị: các cử tri có cảm tình mạnh mẽ với một đảng chính trị nào đó sẽ có nhiều khả năng bỏ phiếu cho đảng đó hơn các cử tri có tính chất độc lập và không thuộc đảng phái nào. Trong các hệ thống bầu cử theo đại diện tỷ lệ, các cử tri chỉ có thể bỏ phiếu cho một đảng nào đó chứ không bỏ cho các ứng cử viên cá nhân.
Các nhà nghiên cứu chính trị đã xác định được rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới sự quyết định của cử tri và tổng số lá phiếu bầu. Ví dụ, ở các quốc gia theo hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ, khi mà mỗi lá phiếu đều được tính vào tỷ lệ đại diện trong cơ quan lập pháp, luôn có tổng số lá phiếu cao hơn các nước theo hệ thống đa số tuyết đối hoặc đa số tương đối. Tình trạng kinh tế, xã hội, đăng ký bầu cử dễ dàng, sức mạnh của hệ thống đảng, hình ảnh ứng cử viên trong công chúng, khoảng cách giữa các cuộc bầu cử – tất cả các yếu tố này đều tác động tới số lượng và tần số đi bầu của các cử tri. Trong các cuộc bầu cử dân chủ, vấn đề chính không phải là xác định được ứng cử viên nào kêu gọi được nhiều ủng hộ nhất từ công chúng mà là xác định được ứng cử viên nào có khả năng làm cho những người ủng hộ mình chuyển các mong muốn của họ thành lá phiếu một cách hiệu quả nhất. Sự thờ ơ của công chúng vẫn là một lo lắng trong bầu cử dân chủ, ở chỗ là những người nắm quyền lãnh đạo sẽ được bầu bởi một số lượng cử tri ngày càng ít đi so với tổng số lượng cử tri hợp pháp, chứ không phải là lo ngại không tìm ra được người lãnh đạo.
Các đảng chính trị
Các đảng chính trị tuyển chọn, chỉ định ứng cử viên và tổ chức các chiến dịch bầu ra quan chức nhà nước. Nếu là đảng chiếm đa số, họ sẽ xây dựng các chương trình chính sách cho chính phủ, còn nếu là phía đối lập họ sẽ đưa ra các phê phán, chỉ trích và đề nghị các giải pháp khác. Các đảng huy động sự ủng hộ từ các nhóm lợi ích cho các chính sách chung; giáo dục công chúng về các vấn đề công cộng; xây dựng các nguyên tắc và cấu trúc cho các tranh luận chính trị. Trong một số hệ thống, ý thức hệ có thể đóng một vai trò quan trọng khi tuyển chọn và là động cơ thúc đẩy các đảng viên; còn ở những hệ thống khác, các quan tâm về kinh tế hoặc các quan điểm về xã hội lại có thể đóng vai trò quan trọng hơn ý thức hệ.
Cách thức tổ chức và hoạt động của các đảng rất khác nhau. Có hai kiểu đặc trưng. Một thái cực theo hệ thống nghị viện đa đảng tại châu Âu, các đảng chính trị có thể được tổ chức rất chặt chẽ và hoạt động gần như chỉ do những đảng viên chuyên nghiệp trọn thời gian. Một thái cực khác là ở Hoa Kỳ, có hai đảng chính là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ, là các đảng được tổ chức phi tập trung, hoạt động rộng khắp ở cả Quốc hội và các bang. Tình hình cứ bốn năm lại thay đổi khi các tổ chức của đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ hợp lại với nhau để tổ chức các chiến dịch cho bầu cử tổng thống, với sự giúp đỡ chủ yếu là từ những người tình nguyện.
Các đảng chính trị cũng khác nhau tùy theo xã hội mà nó hoạt động. Các chiến dịch bầu cử thường được tổ chức rất công phu và tốn kém thời gian và đôi khi kỳ cục. Nhưng chức năng của các chiến dịch lại hết sức nghiêm túc: đảm bảo cho các công dân của xã hội dân chủ có thể lựa chọn các vị lãnh đạo và tự mình xác định cho số phận của riêng họ theo một cách thức hòa bình và công bằng.
Sự phản đối
Trong xã hội dân chủ các công dân có quyền tập hợp nhau một cách ôn hòa và phản đối các chính sách của chính phủ hoặc hành động của các tổ chức khác bằng các hình thức biểu tình, tuần hành, gửi kháng nghị, tẩy chay, bãi công và nhiều hình thức hành động trực tiếp khác.
Mọi người trong xã hội dân chủ được phép sử dụng biện pháp mạnh (bãi công, biểu tình, phá hoại) để đạt được yêu sách của mình, nhưng hình thức này thường được sử dụng bởi các tổ chức đối lập, các nhóm thiểu số hoặc nhóm bị thiệt thòi về quyền lợi khi những nhóm đó cảm thấy không còn các phương tiện nào khác để gây ảnh hưởng tới chính sách của chính phủ. Các loại phản đối như thế luôn luôn là một phần tất yếu của xã hội dân chủ. Ngày nay, các hình thức phản đối phi bạo lực thường được tổ chức để lôi kéo sự chú ý của giới truyền thông về nhiều vấn đề rộng lớn từ ô nhiễm môi trường tới vũ khí hạt nhân, các chính sách đối ngoại, các vấn đề phân biệt chủng tộc và sắc tộc. Một dạng hành động trực tiếp đặc biệt khác là quyền của các công đoàn lao động được tổ chức các cuộc bãi công phản đối những người sử dụng lao động khi các mâu thuẫn không giải quyết được trên bàn đàm phán.
HÌnh thức phản đối là một cơ sở để đánh giá một nền dân chủ. Các lý tưởng của sự tự do thể hiện và tham gia tổ chức xã hội của công dân sẽ dễ dàng đạt được khi mọi người đều giữ được cách cư xử lịch sự và cùng thỏa thuận về các vấn đề cơ bản. Nhưng khi những người phản đối và bị phản đối không thống nhất được về các vấn đề cơ bản, thì sự bất đồng có thể trở thành sự cáu giận và manh động. Lúc đó, một trong những vấn đề cần phải cân bằng là vừa bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp của công dân, vừa duy trì được trật tự của xã hội và tránh mọi ý đồ hăm dọa hay bạo lực. Nếu triệt tiêu các phản đối ôn hòa với lý do đảm bảo trật tự xã hội sẽ tạo nên sự dồn nén, ức chế. Ngược lại, nếu để các phản đối bằng bạo lực xảy ra một cách không kiểm soát được thì lại dẫn tới tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ.
Không có một công thức kỳ diệu nào để đạt được sự cân bằng, điều đó phụ thuộc vào cam kết của đa số người dân là cần phải duy trì các định chế của dân chủ và các quy tắc của quyền cá nhân. Các xã hội dân chủ có khả năng chấp nhận mọi bất đồng sâu sắc nhất giữa các công dân chỉ trừ một bất đồng đó là tính hợp pháp của bản thân nền dân chủ.
Các phương tiện truyền thông đại chúng
Lãnh đạo là sự trao đổi thông tin. Do các xã hội hiện đại đã phát triển rất mạnh về quy mô và tính phức tạp, lĩnh vực truyền thông và các thảo luận công cộng đang ngày càng bị chi phối bởi các phương tiện thông tin: đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, sách và cả các cơ sở dữ liệu trên máy tính.
Trong xã hội dân chủ có rất nhiều phương tiện thông tin giống nhau, nhưng các chức năng của chúng đặc biệt khác nhau. Một trong số những chức năng đó là thông tin và giáo dục. Để có được quyết định khôn ngoan cho các chính sách công, công chúng cần phải có các thông tin chính xác, kịp thời và không bị thiên lệch. Do có nhiều ý kiến khác nhau, công chúng cũng cần phải được tiếp cận với tất cả các quan điểm. Điều này đặc biệt quan trọng trong các chiến dịch bầu cử, khi chỉ có một số ít cử tri có được cơ hội gặp ứng cử viên và số được nói chuyện với ứng cử viên còn ít hơn nữa, do đó các cử tri buộc phải trông cậy vào báo chí và truyền hình để hiểu các vấn đề và biết được đặc điểm, cũng như luận điểm của các ứng cử viên và đảng của họ.
Chức năng thứ hai của các phương tiện thông tin là giữ vai trò kiểm soát chính phủ và các định chế quyền lực khác trong xã hội. Do giữ một vai trò độc lập và khách quan, dĩ nhiên không tuyệt đối, các phương tiện thông tin có thể lật tẩy sự thật đằng sau các tuyên bố của chính phủ và buộc các công chức nhà nước phải có trách nhiệm với các hành động của họ.
Nếu họ muốn, các phương tiện thông tin cũng có thể có vai trò tích cực hơn nữa trong các cuộc tranh luận công khai. Bằng các bài xã luận hoặc các phóng sự điều tra, phương tiện thông tin có thể tạo nên một cuộc vận động cho các chính sách cụ thể hoặc cho các cải cách mà họ thấy cần được thực hiện. Các phương tiện thông tin cũng có thể đóng vai trò như một diễn đàn cho các tổ chức và các cá nhân thể hiện ý kiến, quan điểm bằng cách gửi thư cho ban biên tập và đăng các bài báo với các quan điểm khác nhau.
Các bình luận viên lại mang tới cho các phương tiện thông tin một vai trò ngày càng quan trọng: “tạo nên các chương trình nghị sự”. Do không thể đề cập mọi vấn đề, các phương tiện thông tin buộc phải lựa chọn vấn đề nào cần đề cập, vấn đề nào nên bỏ qua. Tóm lại họ cần phải xác định đâu là tin, đâu không phải là tin. Do đó, các quyết định về thông tin đó sẽ ảnh hưởng tới nhận thức của công chúng đâu là vấn đề quan trọng nhất. Tuy nhiên, không giống như các nước mà hệ thống thông tin bị kiểm soát bởi chính phủ, trong một xã hội dân chủ, các phương tiện thông tin không thể đơn giản chỉ vận động, lôi kéo hay tảng lờ theo ý mình, vì các đối thủ khác hoặc ngay cả chính phủ cũng được tự do lôi kéo sự chú ý của công chúng vào các vấn đề quan trọng của họ.
Ít người cho rằng các phương tiện thông tin luôn thực hiện các chức năng đó một cách có trách nhiệm. Các phóng viên báo chí và truyền hình có thể mong muốn đạt được tiêu chuẩn khách quan trong công việc của họ, nhưng các tin tức không thể tránh được sự ảnh hưởng bởi sự nhạy cảm và thiên lệch của chính các cá nhân đó hoặc của cơ quan báo chí mà họ cộng tác. Họ có thể là những người dễ xúc động, hời hợt, chủ quan, không chính xác và dễ bị khích động. Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề này không phải là ban hành luật pháp để quy trách nhiệm một cách tùy ý hoặc quản lý chặt chẽ các nhà báo mà phải mở rộng sự tranh luận và trao đổi của công chúng để công chúng có thể sàng lọc tốt hơn trong bạt ngàn thông tin và các từ ngữ hùng biện của báo chí để tìm thấy cho mình các yếu tố cơ bản của sự thật. Oliver Wendell Holmes Jr., thẩm phán nổi tiếng của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, đã phát biểu vào năm 1919 như sau: “Thử nghiệm tốt nhất của chân lý là sức mạnh của tư duy làm cho nó được chấp nhận trong sự cạnh tranh của thị trường”.
Dân chủ và kinh tế học
Thể chế dân chủ không áp đặt bất kỳ một học thuyết kinh tế nào. Các chính phủ dân chủ chấp nhận cả học thuyết của các nhà xã hội chủ nghĩa và những thương nhân tự do. Thực tế, trong các xã hội dân chủ hiện đại có rất nhiều tranh luận, bàn cãi đề cập tới vai trò thích hợp của chính phủ về kinh tế. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng những người chủ trương thể chế dân chủ thường nhìn nhận vấn đề tự do kinh tế như một yếu tố căn bản của dân chủ. Điều này không loại trừ các vấn đề kinh tế có thể trở thành phương diện để phân chia và xác định đảng phái chính trị thuộc về phe “tả, hữu” như chúng ta đang biết.
Ví dụ, các nhà dân chủ xã hội nhấn mạnh tới nhu cầu về quyền bình đẳng và phúc lợi xã hội như là vấn đề then chốt trong các chính sách kinh tế của chính phủ. Trước đây, chính đòi hỏi đó đã mang lại cho chính phủ quyền sở hữu các bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia như viễn thông, giao thông và một số ngành công nghiệp nặng. Các nhà dân chủ xã hội cũng kêu gọi chính phủ phải quan tâm đến các vấn đề y tế, thất nghiệp và các phúc lợi xã hội khác. Ngược lại, các đảng bảo thủ và ôn hòa thường nhấn mạnh nhiều hơn tới nền kinh tế thị trường tự do, không bị can thiệp hoặc kiểm soát bởi chính phủ như là một phương tiện hiệu quả nhất để đạt được tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghệ và gia tăng của cải.
Tuy nhiên, trên thực tế, tất cả mọi cá nhân và tổ chức tham gia trong các tranh luận về kinh tế thường dễ thống nhất với nhau hơn trong các cuộc tranh luận về chính trị. Ví dụ, cả hai phe tả và hữu đều cùng thừa nhận vai trò quan trọng của các phong trào lao động tự do, độc lập với chính phủ. Những người lao động trong một xã hội tự do có quyền thành lập hoặc tham gia vào các tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ để thương lượng với những người sử dụng lao động về vấn đề tiền lương, sức khỏe, chế độ hưu trí, điều kiện làm việc và thủ tục hòa giải.
Không có nhà nước dân chủ hiện đại nào lại có nền kinh tế hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà nước hoặc hoàn toàn tự do không có sự điều tiết của nhà nước. Tất cả các nền kinh tế đều là sự kết hợp giữa các hãng tư nhân và các cơ sở của nhà nước. Hoạt động của nền kinh tế dân chủ chủ yếu dựa trên các quy luật của thị trường tự do: giá cả không do nhà nước quy định mà do sự quyết định độc lập trong mối quan hệ tương tác giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất.
Các đảng chính trị cánh tả, thường theo định hướng chủ nghĩa dân chủ xã hội, thừa nhận là thị trường tự do hoạt động đúng theo các nguyên tắc cung-cầu sẽ là động lực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế và giàu mạnh. Tương tự như vậy, các đảng trung hữu thường phản đối sự can thiệp hay sở hữu của nhà nước trong khu vực sản xuất, chấp nhận trách nhiệm của chính phủ trong việc điều chỉnh một số lĩnh vực kinh tế: chi trả trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế, các phúc lợi xã hội, sử dụng chính sách thuế để phát triển kinh tế. Do đó, các nền kinh tế theo thể chế dân chủ mặc dù đa dạng về chi tiết nhưng đều giống nhau về các đặc tính cơ bản.
Gần đây, sự sụp đổ của một loạt các nền kinh tế kế hoạch tập trung trên khắp thế giới càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của các thị trường tự do. Điều đó cho thấy dù là trong vấn đề kinh tế hay chính trị thì tự do vẫn là một yếu tố không thể thiếu. Như Morris Abram, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Ủy ban Nhân quyền của Liên Hợp Quốc và hiện là chủ tịch Ủy ban Quan sát của Liên Hợp Quốc tại Giơ-ne-vơ đã phát biểu: “Chỉ riêng tự do không thể đảm bảo cho thành công về kinh tế, nhưng sự cưỡng ép chắc chắn sẽ mang lại thất bại”. Thậm chí điều đó đúng ngay cả với một số ít chế độ độc tài, họ đã tiến được các bước dài về kinh tế khi họ mang lại tự do cho lĩnh vực kinh tế nhưng lại từ chối tự do trong lĩnh vực chính trị. Tuy nhiên, các thành công đó của họ thường không đảm bảo cho sự mạnh mẽ của chế độ về lâu dài mà nó góp phần làm tăng thêm các đòi hỏi của dân chúng về tự do chính trị phải tương xứng với tự do về kinh tế như trường hợp của Chilê hay Đài Loan.
Các nền dân chủ vẫn sẽ tiếp tục các tranh luận về kinh tế một cách gay gắt như đã có trong quá khứ. Nhưng càng ngày các cuộc tranh luận đó không chỉ nhấn mạnh vào các nền kinh tế do nhà nước chỉ đạo đã bị thất bại mà còn đảm bảo sao cho các lợi ích của thị trường tự do đến được với mọi người trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau.
Tiếng nói
Các nền dân chủ đưa ra rất nhiều các giả định về con người. Một giả định là nếu có cơ hội thì người dân nói chung đều có khả năng tự lãnh đạo mình theo cách tự do và công bằng. Một giả định khác là bất cứ xã hội dân chủ nào cũng đều chứa đựng sự đa dạng vô tận về các sở thích, và các cá nhân là những người xứng đáng được hưởng quyền lợi là lời nói của họ được người khác lắng nghe và quan điểm của họ được người khác tôn trọng. Do đó, một điểm hết sức hiển nhiên của mọi nền dân chủ lành mạnh là sự ồn ào và sôi nổi.
Cựu Tổng thống Hoa Kỳ George Bush đã mô tả hệ thống rộng lớn của các tổ chức tình nguyện tại Hoa Kỳ như “hàng ngàn ngọn đèn” với ý nghĩa ẩn dụ về sự đa dạng hay đa nguyên của các xã hội dân chủ ở khắp nơi. Các tiếng nói trong xã hội dân chủ bao gồm tiếng nói của chính phủ, của những người ủng hộ đảng cầm quyền và chắc chắn có tiếng nói của cả các bên đối lập. Nhưng các tiếng nói đó được tăng cường thêm bởi các tiếng nói của các liên đoàn lao động, các nhóm lợi ích có tổ chức, các hiệp hội cộng đồng, các phương tiện thông tin, các nhà nghiên cứu và phê bình, các lãnh tụ tôn giáo và nhà văn, các doanh nghiệp nhỏ cho tới các tập đoàn kinh tế lớn, các nhà thờ và trường học.
Tất cả các nhóm này đều được tự do phát biểu và tham dự vào hoạt động chính trị dân chủ ở cả cấp địa phương lẫn trung ương. Theo cách đó, các hoạt động chính trị dân chủ sẽ là một tấm lọc cho mọi đòi hỏi, yêu cầu của công chúng đa dạng để trở thành các chính sách chung cho xã hội. Như cựu tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter một lần đã phát biểu: “Kinh nghiệm của dân chủ cũng như kinh nghiệm của chính bản thân cuộc sống – luôn thay đổi, vô tận về sự đa dạng, đôi khi hỗn loạn và điều giá trị hơn cả là được thử thách qua những khó khăn”.
Tự bản thân dân chủ không đảm bảo cho bất kỳ điều gì. Dân chủ mang lại cơ hội thành công cũng như nguy cơ thất bại. Theo như cách nói mạnh mẽ và sắc sảo của Thomas Jefferson thì lời hứa của dân chủ là “được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
Dân chủ vì vậy vừa là lời hứa đồng thời cũng là thách thức. Lời hứa rằng con người được tự do, cùng làm việc với nhau, có thể tự quản lý mình để đạt được khát vọng về tự do cá nhân, cơ hội kinh tế và xã hội công lý. Đó cũng là thách thức vì thành công của thể chế dân chủ chỉ dựa trên chính đôi vai của những công dân trong thể chế đó chứ không ai khác.
Chính phủ của dân và do dân có nghĩa là các công dân của xã hội dân chủ cùng chia sẻ với nhau các thành quả cũng như các khó khăn. Do lĩnh trách nhiệm tự quản lý mình nên mỗi thế hệ đều tìm cách duy trì những thành quả vất vả mới có được về tự do cá nhân, quyền con người và nguyên tắc sống theo luật pháp cho thế hệ kế tiếp. Mỗi xã hội và mỗi thế hệ đều phải biết cách thực hiện dân chủ một cách sáng tạo: áp dụng các nguyên tắc trong quá khứ vào tình hình thực tế đang đổi thay của thời đại mới và xã hội mới.
Nhà thơ quá cố Josef Brodsky, gốc Nga, đoạt giải Nobel đã từng viết: “Con người tự do sẽ chẳng trách cứ ai khi thất bại” và điều này cũng giống như các công dân trong một thể chế dân chủ, những người tự nhận trách nhiệm đối với số phận xã hội mà họ đã tự chọn để sống.
Và cuối cùng chúng ta sẽ có được chính phủ mà chúng ta xứng đáng được có.
Filed under: Chính Trị, Kinh tế | Leave a Comment »
Dân chủ và quyền lực
Những người theo chủ nghĩa độc tài và một số nhà phê bình thường có chung một nhận thức sai lầm là chế độ dân chủ sẽ không đủ sức mạnh để trấn áp và không đủ quyền lực cho chính phủ để lãnh đạo. Quan điểm này sai lầm về cơ bản: các thể chế dân chủ chỉ yêu cầu về giới hạn đối với chính phủ chứ không yêu cầu chính phủ phải yếu đi. Xem lại dòng lịch sử, thực tế khi mới xuất hiện các nền dân chủ đều yếu ớt và lẻ tẻ, thậm chí ngay cả vào thời điểm thuận lợi trong thập kỷ trỗi dậy của dân chủ. Các nền dân chủ cũng không thể chống lại được quy luật của lịch sử, nó cũng bị suy sụp do các thất bại về chính trị, bị thua cuộc do các chia rẽ nội bộ hay bị phá hủy do nạn ngoại xâm. Tuy nhiên, qua thời gian các nền dân chủ cũng đã chứng tỏ được sự hồi sinh kỳ diệu của nó và chứng minh rằng: với sự cam kết và ủng hộ của các công dân, nó có thể vượt qua được các khó khăn khắc nghiệt về kinh tế, hòa giải được các chia rẽ dân tộc và xã hội và khi cần thiết, thể chế dân chủ cũng chiến thắng trong các cuộc chiến.
Chính những khía cạnh thường xuyên bị chỉ trích của dân chủ lại là những khía cạnh khiến cho dân chủ có sức sống mãnh liệt. Các quá trình tranh luận, bất đồng và thỏa hiệp mà một số người cho là điểm yếu thì thực tế lại chính là sức mạnh cơ bản của dân chủ. Đương nhiên, chưa có ai kết tội dân chủ vì đã đạt được hiệu quả đặc biệt khi cân nhắc các vấn đề trong tranh luận: quá trình ra quyết định theo cách dân chủ trong một xã hội lớn và phức tạp có thể diễn ra hỗn độn, mệt mỏi và tiêu tốn nhiều thời gian. Nhưng cuối cùng, chính phủ được thành lập dựa trên sự nhất trí của nhân dân có thể phát ngôn và hành động với sự tự tin và quyền lực mà những điều này không có trong một chế độ mà sức mạnh của nó được đặt bấp bênh trên sức mạnh quân sự hoặc trên một bộ máy của đảng không do dân bầu.
Cơ chế kỉểm soát và đối trọng
Một trong những đóng góp quan trọng nhất cho việc thực hiện dân chủ là việc phát triển cơ chế kiểm soát và đối trọng nhằm đảm bảo quyền lực chính trị được phân tán, phi tập trung. Đó là hệ thống được thiết lập trên niềm tin sâu sắc là chính phủ ưu việt nhất khi các khả năng lạm dụng quyền hạn của nó bị khống chế và khi nó càng gần gũi dân chúng.
Theo thuật ngữ thông thường thì cơ chế kiểm soát và đối trọng có hai nghĩa: chế độ liên bang và tam quyền phân lập.
Chế độ liên bang là sự phân chia các cấp chính quyền theo các cấp quốc gia, bang và tỉnh. Ví dụ như Hoa Kỳ là một nước cộng hòa liên bang bao gồm nhiều bang, mỗi bang đều có luật pháp riêng và quyền lực độc lập với chính phủ liên bang. Không giống như kiểu phân chia quyền lực chính trị ở các quốc gia như Anh và Pháp theo kiểu cấu trúc chính trị nhất thể, các bang của Hoa Kỳ không thể bị xóa bỏ hoặc thay đổi bởi chính phủ liên bang. Mặc dù sức mạnh ở cấp quốc gia tại Hoa Kỳ tăng lên rất nhiều so với quyền lực của các bang trong thế kỷ 20, các bang vẫn lĩnh các trách nhiệm lớn trong các lĩnh vực như giáo dục, sức khỏe, giao thông và thực thi pháp luật. Trong các hệ thống chính trị tập trung hoặc nhất thể thì các lĩnh vực đó do chính phủ quốc gia quản lý. Về phần mình, mỗi bang của Hoa Kỳ thường phải tuân theo kiểu mẫu của liên bang bằng cách ủy quyền nhiều chức năng như quản lý trường học và sở cảnh sát cho các cộng đồng địa phương. Sự phân chia sức mạnh và quyền lực trong một hệ thống liên bang chưa bao giờ diễn ra một cách suôn sẻ, trật tự. Ví dụ, các cơ quan liên bang, bang và địa phương có thể có các kế hoạch trùng nhau hoặc mâu thuẫn với nhau. Nhưng chính quyền liên bang vẫn muốn tăng tối đa các cơ hội cho công dân của mình tham gia tích cực vào các hoạt động của xã hội dân chủ.
Ở nghĩa thứ hai, cơ chế kiểm soát và đối trọng nhằm nói đến tam quyền phân lập mà các nhà xây dựng hiến pháp Hoa Kỳ năm 1789 đã dày công dựng lên để đảm bảo sức mạnh chính trị sẽ không bị tập trung vào trong một ngành của chính phủ quốc gia. James Madison, người có lẽ được coi là giữ vai trò chính trong việc soạn thảo bản Hiến pháp Hoa Kỳ, sau này là Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, đã viết: “Sự tập trung tất cả quyền lực, quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vào trong cùng một bàn tay có thể chính thức được gọi là sự bất công và bạo tàn”.
Tam quyền phân lập là một thuật ngữ đôi lúc bị hiểu sai vì hệ thống theo cách phân chia của Madison và những người soạn thảo Hiến pháp có ý nghĩa là quyền lực bị chia sẻ chứ không phải là quyền lực bị tách biệt. Ví dụ, quyền lập pháp là thuộc Quốc hội, nhưng các luật đã được Quốc hội thông qua có thể bị tổng thống phủ quyết. Ngược lại, để bãi bỏ phủ quyết của tổng thống, Quốc hội buộc phải có được 2/3 đa số phiếu tán thành ở cả hai Viện. Tổng thống chỉ định các đại sứ, các thành viên chính phủ và chịu trách nhiệm đàm phán các hiệp ước quốc tế, nhưng tất cả các quyết định đó phải có sự phê chuẩn của Thượng nghị viện. Việc chọn các thẩm phán liên bang cũng tương tự như thế. Với một ví dụ khác, hiến pháp quy định chỉ có Quốc hội mới có quyền tuyên bố chiến tranh, mặc dù tổng thống là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Đây cũng chính là nguồn gốc của sự căng thẳng giữa hai ngành hành pháp và lập pháp trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam những năm 1960 và đầu những năm 1970 và trong cuộc xung đột ngắn ngày tại vùng Vịnh năm 1990-1991. Do sự cần thiết phải có phê chuẩn của Quốc hội thì các chương trình chính trị mới có hiệu lực nên nhà nghiên cứu chính trị Richard Neustadt đã mô tả quyền lực của tổng thống Hoa Kỳ “không phải là quyền lực ra lệnh mà là quyền lực thuyết phục”.
Hiến pháp không quy định cụ thể mọi cơ chế kiểm soát và đối trọng đối với Chính phủ Liên bang. Một số quy định được rút ra trong quá trình thực hiện và qua các tiền lệ. Có thể coi một quy định quan trọng nhất cho cơ chế kiểm soát và đối trọng là học thuyết về kiểm định tư pháp được thiết lập trong một vụ án năm 1803, học thuyết này cho phép Tòa án Tối cao Hoa Kỳ có quyền tuyên bố các đạo luật do Quốc hội ban hành là vi hiến.
Tam quyền phân lập trong hệ thống Hoa Kỳ thường không hiệu quả, nhưng nó mang lại một sự bảo vệ quan trọng để chống lại khả năng lạm dụng quyền lực của chính phủ – một vấn đề mà mọi nền dân chủ phải đối mặt.
Thủ tướng và tổng thống
Một trong các quyết định quan trọng nhất của một nền dân chủ là phương pháp bầu ra các vị lãnh đạo và các vị đại diện cho nền dân chủ đó. Nói chung, có hai cách lựa chọn. Một cách theo hệ thống nghị viện trong đó đảng chiếm đa số trong cơ quan lập pháp hoặc liên minh các đảng sẽ thành lập chính phủ, đứng đầu là thủ tướng. Hệ thống chính phủ nghị viện đầu tiên được thực hiện ở Anh, ngày nay được áp dụng tại phần lớn các nước châu Âu, vùng Caribê, Canađa, Ấn Độ và nhiều nước tại châu Phi, châu Á (thường là thuộc địa cũ của Anh). Một cách thường gặp khác là bầu trực tiếp tổng thống độc lập với cơ quan lập pháp. Hệ thống tổng thống này được áp dụng rất nhiều tại châu Mỹ Latinh, Philipin, Pháp, Ba-lan và Hoa Kỳ.
Điểm khác biệt chính giữa hai hệ thống nghị viện và tổng thống là quan hệ giữa cơ quan lập pháp và hành pháp. Trong hệ thống nghị viện, lập pháp và hành pháp nói chung là một và cùng như nhau, thủ tướng và các thành viên của chính phủ đều lấy từ nghị viện. Nhiệm kỳ của chính phủ được quy định rõ ràng ví dụ 4 hoặc 5 năm, trừ khi thủ tướng bị đa số trong nghị viện phản đối. Khi đó chính phủ phải giải tán và tổ chức bầu cử lại, hoặc người đứng đầu nhà nước là tổng thống hoặc quốc vương lập hiến (có vai trò lãnh đạo tượng trưng) cho phép chủ tịch một đảng khác đứng ra lập chính phủ mới.
Tam quyền phân lập theo kiểu hệ thống tổng thống Hoa Kỳ là không có vì nghị viện là định chế lãnh đạo tối cao. Đổi lại, để đảm bảo có cơ chế kiểm soát và đối trọng đối với quyền lực của chính phủ, hệ thống nghị viện phụ thuộc rất nhiều vào các động lực chính trị trong nội bộ nghị viện. Điều đó thường tạo nên dạng đảng đối lập có tổ chức đơn độc như “cái bóng” của chính phủ hoặc dạng cạnh tranh giữa rất nhiều các đảng đối lập.
Trong hệ thống tổng thống thì cả hai vị trí đứng đầu nhà nước và chính phủ đều thuộc văn phòng tổng thống. Tổng thống được bầu trực tiếp từ dân chúng cho một nhiệm kỳ nhất định. Các nghị sỹ cũng được bầu tương tự. Theo nguyên tắc tam quyền phân lập, các thành viên nội các của tổng thống thường không phải là các nghị sỹ. Tổng thống thường chỉ bị phế truất trước nhiệm kỳ khi phạm những tội nghiêm trọng hoặc có những hành động nguy hiểm đối với nhà nước. Phần đa số trong cơ quan lập pháp ủng hộ cho đảng của tổng thống có thể tạo thuận lợi cho việc chấp thuận các chương trình chính trị, nhưng không như các thủ tướng, các tổng thống không phụ thuộc vào đa số phiếu ở Quốc hội để được tại vị.
Những người đại diện
Một quyết định quan trọng khác của nền dân chủ là tiến hành bầu cử như thế nào. Chúng ta lại có hai cách lựa chọn: bầu cử theo kiểu đa số tương đối hoặc bầu cử theo kiểu đại diện theo tỷ lệ. Bầu cử theo đa số tương đối, đôi khi còn được gọi là kiểu “người thắng được tất”, có nghĩa là ứng cử viên chiếm đa số phiếu trong một khu vực xác định sẽ là người chiến thắng cho dù là đa số tương đối (dưới 50% nhưng lớn hơn các đối thủ khác) hay là đa số tuyệt đối (trên 50%). Tổng thống cũng được bầu theo cách đó, nhưng ở cấp độ quốc gia. Một số hệ thống cho phép bầu vòng hai giữa hai ứng cử viên có số phiếu lớn nhất nếu không có ai chiếm được đa số tuyệt đối trong vòng đầu. Bầu cử theo đa số tương đối có xu hướng khuyến khích hai đảng chính trị lớn có khả năng chi phối toàn bộ tình hình chính trị.
Ngược lại, các cử tri trong hệ thống bầu cử theo kiểu đại diện theo tỷ lệ, như thường thấy ở các nước châu Âu, bỏ phiếu bầu cho các đảng chứ không cho các cử tri cá nhân. Đại diện của các đảng trong cơ quan lập pháp phụ thuộc vào số phần trăm hay tỷ lệ số phiếu đảng đó thu được trong bầu cử. Trong hệ thống nghị viện, người đứng đầu đảng chiếm đa số tuyệt đối sẽ trở thành thủ tướng và có quyền lựa chọn các thành viên chính phủ từ số các nghị sỹ. Nếu không có đảng nào chiếm đa số tuyệt đối, các đảng phải cùng nhau thương lượng để thành lập một liên minh các đảng cầm quyền. Bầu cử theo kiểu đại diện theo tỷ lệ có xu hướng phù hợp với tình hình có nhiều đảng, thường các đảng phải tự tìm cách thương lượng với nhau để có được vị trí trong chính phủ liên minh, cho dù các đảng đều có một tỷ lệ tương đối nhỏ cử tri trung thành.
Nghị viện và tổng thống
Một trong những tính chất cơ bản của hệ thống nghị viện (hệ thống ngày nay đã trở thành đa số của các nền dân chủ) là sự phản ứng nhanh và linh hoạt. Các chính phủ nghị viện, đặc biệt là các chính phủ được bầu theo kiểu đại diện theo tỷ lệ, có xu hướng tiến tới hệ thống đa đảng trong đó cả những nhóm chính trị tương đối nhỏ cũng được hiện diện trong cơ quan lập pháp. Như vậy là kể cả các nhóm rất thiểu số vẫn có thể tham gia vào quá trình quyết định chính trị ở mức độ cao nhất của chính phủ. Tính đa dạng này tạo điều kiện cho các đảng đối thoại và thỏa hiệp khi phải cùng nhau thành lập liên minh cầm quyền. Do đó, khi liên minh sụp đổ hay đảng mất quyền, thủ tướng từ chức, phải thành lập chính phủ mới hoặc cả khi tiến hành bầu cử lại vẫn không có sự khủng hoảng đe dọa hệ thống dân chủ.
Điểm yếu chính của hệ thống nghị viện nằm ở mặt tối của sự linh hoạt và sự phân chia quyền lực: đó là tính không ổn định. Các liên minh đa đảng có thể mong manh và sụp đổ ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của khủng hoảng chính trị và dẫn tới chính phủ chỉ tồn tại được trong thời gian khá ngắn. Chính phủ có thể cũng phải viện tới sự khoan dung của các đảng cực đoan khi các đảng đó ép chính phủ phải đưa ra các chính sách đặc biệt bằng cách đe dọa rút khỏi liên minh cầm quyền hoặc buộc chính phủ từ chức. Hơn nữa, thủ tướng chỉ là người đứng đầu một đảng chứ không phải là người có quyền do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Một vấn đề nữa là thiếu sự kiểm tra chính thức đối với quyền tối cao của nghị viện. Ví dụ, một đảng chính trị với đa số đủ lớn trong nghị viện có thể ban hành một chương trình chính trị có ảnh hưởng sâu rộng, thậm chí là cả chương trình chính trị đi ngược lại dân chủ mà không có các giới hạn cần thiết đối với các hành động đó, khi đó sẽ tạo ra một viễn cảnh chuyên chế của nhóm đa số.
Ngược lại, đối với hệ thống tổng thống, các tính chất cơ bản là trách nhiệm trực tiếp, tính liên tục và sức mạnh. Các tổng thống do nhân dân bầu cho một nhiệm kỳ nhất định có thể khẳng định quyền lực của mình từ bầu cử trực tiếp mang lại, cho dù vị trí đảng của tổng thống có vị trí nào trong nghị viện. Bằng cách tạo ra sự phân chia quyền lực nhưng về lý thuyết thường thì các ngành của chính phủ có quyền lực ngang nhau, hệ thống tổng thống tìm cách làm cho các định chế lập pháp và hành pháp mạnh mẽ, mỗi định chế đều có khả năng yêu cầu nhân dân cho quyền và mỗi định chế đều có khả năng cơ chế kiểm soát và đối trọng các định chế khác. Những người lo sợ khả năng bất công trong hành pháp sẽ nhờ đến vai trò của Quốc hội, những người lo lắng sự lạm dụng đa số nhất thời trong cơ quan lập pháp sẽ viện tới quyền của tổng thống.
Điểm yếu của việc bầu riêng biệt cơ quan lập pháp và tổng thống là khả năng bế tắc khi cần quyết định. Tổng thống có thể không giành được đủ số phiều bầu của Quốc hội cho các chương trình đề xuất, nhưng tổng thống cũng có thể ngăn cản Quốc hội thay thế các chương trình lập pháp bằng cách sử dụng quyền phủ quyết của mình.
Đương nhiên do được bầu trực tiếp, các tổng thống có thể có nhiều quyền lực hơn các thủ tướng. Tuy nhiên, tổng thống buộc phải đấu tranh với cơ quan lập pháp cho dù cơ quan lập pháp có bị khống chế bởi đảng đối lập hay không vì cơ quan lập pháp được bầu độc lập với tổng thống. Do đó, vấn đề kỷ luật đảng cũng không mạnh như ở hệ thống nghị viện. Chẳng hạn như tổng thống không thể khai trừ hay kỷ luật các thành viên của đảng có ý chống đối như thủ tướng thường làm. Trong khi thủ tướng, với lợi thế đa số chắc chắn trong nghị viện, có thể đảm bảo được chấp thuận cho các chương trình lập pháp đề xuất. Ngược lại, tổng thống thường phải thương lượng kéo dài với cơ quan lập pháp với những nghi ngại về các đặc quyền của họ để đảm bảo đạt được sự chấp thuận cho các dự luật của mình.
Hệ thống nào đáp ứng tốt nhất cho các yêu cầu của nền dân chủ lập hiến: kiểu nghị viện hay kiểu tổng thống? Câu trả lời vẫn là chủ đề của các cuộc tranh luận đang còn tiếp diễn giữa các nhà nghiên cứu chính trị và các chính trị gia, một phần do mỗi hệ thống đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng của nó. Tuy nhiên, chúng ta nên ghi nhận là cả hai hệ thống đó đều phù hợp với nền dân chủ lập hiến, mặc dù không có hệ thống nào đảm bảo là sẽ tạo ra dân chủ.
Filed under: Chính Trị | Leave a Comment »
Giáo dục công dân
Dân chủ không chỉ là một tập hợp các tổ chức hay các định chế của nó. Một nền dân chủ lành mạnh chỉ có được trên cơ sở một nền văn hóa dân chủ của công dân. Văn hóa ở đây, theo Diane Ravitch, không nói đến nghệ thụât, văn học hay âm nhạc mà nên hiểu theo nghĩa là “cách ứng xử, thói quen và các quy phạm nhằm xác định khả năng tự quản của người dân”.
Ravitch viết: “Hệ thống chính trị độc đoán khuyến khích một nền văn hóa thụ động và lãnh cảm. Chế độ đó tìm cách tạo ra một tầng lớp công dân dễ bảo và dễ quy phục. Ngược lại, nền văn hóa công dân của một xã hội dân chủ được xây dựng bởi các hoạt động tự do lựa chọn của các cá nhân và các tổ chức. Các công dân trong một xã hội tự do được tự theo đuổi các ham muốn của họ, được thực hiện các quyền và tự chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của họ. Họ tự quyết định cho mình mọi vấn đề từ nơi làm việc, cái họ muốn làm, nơi sinh sống, có tham gia vào đảng chính trị hay không, cái họ muốn đọc…. Đó là các quyết định mang tính cá nhân chứ không phải là chính trị”.
Văn học, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh – các thể hiện nghệ thuật của một nền văn hóa – cũng tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ. Xã hội dân chủ có thể ủng hộ hoặc khuyến khích các nghệ sĩ, nhà văn, nhưng không đặt ra các tiêu chuẩn nghệ thuật, không quyết định giá trị sáng tác hay kiểm duyệt các tác phẩm nghệ thuật. Các nghệ sỹ không phải là công chức nhà nước hay là người phục vụ cho nhà nước. Sự đóng góp trước tiên của nền dân chủ cho nghệ thuật là sự tự do – tự do sáng tạo, tự do thể nghiệm, tự do khám phá thế giới của tinh thần và trí tuệ của nhân loại.
Dân chủ và giáo dục
Giáo dục là thành phần quan trọng của bất kỳ xã hội nào và càng đặc biệt quan trọng đối với nền dân chủ. Như Thomas Jeffeson đã viết: “nếu một dân tộc nào hy vọng trở nên ngu dốt và tự do trong một kỷ nguyên văn minh tức là dân tộc đó đã mong muốn một điều chưa bao giờ xảy ra và cũng sẽ không bao giờ xảy ra”.
Trái với các xã hội độc đoán luôn tìm cách khắc sâu thái độ chấp nhận thụ động vào dân chúng, mục đích giáo dục trong một xã hội dân chủ là đào tạo nên những công dân có tính cách độc lập, khả năng lập luận, đầu óc phân tích mà hiện nay các tính cách công dân đó đã trở thành các phương châm, tập quán hết sức quen thuộc của thể chế dân chủ. Giáo sư Vanderbilt Chester E. Finn, Jr. đã phát biểu trước các nhà giáo dục ở Nicaragua: “Có thể ngay khi sinh ra con người đã có niềm khát khao tự do cá nhân, nhưng con người ngay từ khi sinh ra không thể có những hiểu biết về chính trị và xã hội cần thiết để giành lấy tự do cho chính họ và con cháu họ… Họ phải học để có được những hiểu biết này”.
Từ quan điểm đó, nhiệm vụ của giáo dục trong một thể chế dân chủ không chỉ để ngăn chặn sự tuyên truyền cho các chế độ độc tài hay chỉ mang lại các giá trị chính trị trung lập. Điều đó là không thể, vì mọi nền giáo dục đều truyền tải được các giá trị, cho dù việc truyền tải này là có chủ đích hoặc không có chủ đích. Trên thực tế, các sinh viên có thể được dạy về các nguyên lý của dân chủ theo một tinh thần tranh luận cởi mở mà bản thân tinh thần này cũng đã là một giá trị dân chủ quan trọng, đồng thời các sinh viên cũng được khuyến khích đả phá lối tư duy cổ điển bằng các lý luận chặt chẽ và các nghiên cứu cẩn trọng. Có thể đó sẽ là các tranh luận gay gắt, nhưng các giáo trình giảng dạy của nền dân chủ không né tránh các sự kiện, hiện tượng có thể gây tranh cãi hoặc không dễ chịu.
Finn cho rằng: “Giáo dục đóng một vai trò độc lập trong các xã hội tự do, trong khi các nền giáo dục của các chế độ khác chỉ là công cụ cho chính chế độ đó. Trong thể chế dân chủ thì chế độ là người phục vụ cho nhân dân – những người có khả năng lập nên, duy trì và cải tổ chế độ đó, khả năng này phụ thuộc phần lớn vào chất lượng và hiệu quả của nền giáo dục mà họ đã tiếp thu. Có thể nói rằng giáo dục trong thể chế dân chủ giúp cho tự do phát triển mãi mãi.
Xung đột, thỏa hiệp và đồng thuận
Con người mang trong mình rất nhiều ham muốn đôi khi trái ngược nhau. Con người vừa muốn an toàn, lại cũng ưa thích mạo hiểm; con người khát vọng tự do cá nhân nhưng lại cũng đòi hỏi sự bình đẳng.
Dân chủ cũng như thế. Rất nhiều các vấn đề căng thẳng, thậm chí nghịch lý, luôn hiện diện trong bất kỳ một xã hội dân chủ nào. Theo Larry Diamond – đồng chủ bút tạp chí Dân chủ (Journal of Democracy) và là nhà nghiên cứu tại Học viện Hoover, giữa xung đột và đồng thuận luôn tồn tại một nghịch lý trung tâm. Theo nhiều cách định nghĩa thì dân chủ không có gì khác là một tập hợp các nguyên tắc nhằm quản lý được các xung đột. Đồng thời, các xung đột cần phải được giải quyết trong khuôn khổ một số nguyên tắc nhất định và phải dẫn tới kết quả là thỏa hiệp, đồng thuận hoặc các thỏa thuận khác mà tất cả các bên đều chấp nhận nó có tính hợp pháp. Bất kể một sự thiên vị cho bên nào cũng có nguy cơ đe dọa sự toàn vẹn của cam kết chung đối với xã hội. Nếu các nhóm, các tổ chức chỉ nhận thức dân chủ không hơn một diễn đàn để áp đặt các yêu cầu của mình thì xã hội có thể tan vỡ ngay trong diễn đàn đó. Nếu chính phủ dùng áp lực thái quá để đạt được sự đồng thuận hoặc đàn áp tiếng nói của dân chúng thì xã hội cũng có thể bị tiêu tan ngay.
Câu trả lời sẽ là không có câu trả lời đơn giản hoặc dễ dàng. Dân chủ không phải là một cỗ máy có thể tự hoạt động với các nguyên tắc và các cơ chế hoạt động thích hợp. Xã hội dân chủ đòi hỏi sự cam kết của các công dân cùng chấp nhận tính chất không tránh khỏi của xung đột cũng như sự cần thiết của dung hòa.
Điều quan trọng là chúng ta phải nhận thức được rằng rất nhiều các xung đột trong một xã hội dân chủ không phải là vấn đề phân biệt rõ ràng “đúng” hay “sai” mà là sự diễn đạt khác nhau về quyền dân chủ và các ưu tiên trong xã hội. Có rất nhiều các tranh luận như thế tại Hoa Kỳ. Ví dụ: liệu có hợp lý không khi phân bổ một tỷ lệ công việc nào đó cho các nhóm thiểu số trước đây đã bị phân biệt đối xử? Nhà nước có quyền lấy nhà của ai để mở một con đường rất cần thiết không? Ai có lợi khi nhà nước tìm cách cấm đốn gỗ với lý do bảo vệ thế giới hoang dã, nhưng lại ảnh hưởng tới việc làm và kinh tế của một số người sống phụ thuộc vào ngành công nghiệp gỗ? Quyền công dân có bị vi phạm không, hoặc quyền lợi của cộng đồng có được bảo vệ không khi cảnh sát có thể bắt ai đó dừng lại một cách ngẫu nhiên để kiểm soát buôn lậu ma túy.
Đó là những vấn đề không đơn giản và những quy tắc rộng lớn của dân chủ chỉ có ý nghĩa như các chỉ dẫn giúp cho việc đề cập và phân tích các vấn đề đó. Trên thực tế thì câu trả lời cũng thay đổi theo thời gian. Đó cũng là lý do mà việc phát triển nền văn hóa dân chủ là rất quan trọng. Tối thiểu thì các cá nhân, các nhóm khác nhau buộc phải có thiện chí dung hòa sự khác nhau của các bên khác, phải thừa nhận mỗi bên đều có quyền và quan điểm hợp pháp. Các bên tham gia tranh cãi, cho dù ở cấp độ địa phương hay nghị viện, sau đó đều có thể gặp nhau trên tinh thần thỏa hiệp để tìm một giải pháp cụ thể để cùng nhau xây dựng trên những nguyên tắc chung của đa số và quyền thiểu số. Trong một số trường hợp có thể phải viện tới hình thức bỏ phiếu, nhưng thường các nhóm có thể đạt được sự đồng thuận thân thiện hoặc sự hòa giải thông qua tranh luận và thỏa hiệp. Các quá trình tranh luận, hòa giải đó sẽ mang lại lợi ích cho việc xây dựng niềm tin cần thiết cho các bên trong việc giải quyết các vấn đề trong tương lai.
Theo Diane Ravitch: “Xây dựng liên minh là yếu tố cốt lõi của hoạt động dân chủ. Việc xây dựng liên minh dạy cho các nhóm lợi ích biết cách thương lượng với nhau, biết cách thỏa hiệp và biết cách hoạt động trong khuôn khổ quy định của hiến pháp. Trong quá trình xây dựng liên minh, các nhóm khác nhau sẽ biết cách tranh luận một cách hòa bình, cách theo đuổi mục đích riêng của mình một cách dân chủ và sau cùng là biết cách sống trong một thế giới của sự đa dạng”.
Dân chủ không phải là các chân lý được khám phá và bất biến, dân chủ là một cơ chế mà qua đó con người có thể đạt được chân lý một cách không hoàn hảo thông qua các va chạm và thỏa hiệp giữa các tư tưởng, giữa các cá nhân và các định chế khác nhau. Dân chủ mang tính thực dụng. Các tư tưởng và các giải pháp cho các vấn đề không phải được dùng để chống lại một ý thức hệ cứng nhắc nào đó mà là được cố gắng thực hiện trong một thế giới thực, nơi mà các tư tưởng, các giải pháp đó được mang ra bàn luận và có thể bị thay đổi, được chấp nhận hay bị loại bỏ.
Sự tự quản cũng không thể tránh được các sai lầm hay chấm dứt được các xung đột về sắc tộc hoặc đảm bảo cho việc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nó cho phép tranh luận và kiểm định lại để có thể thấy rõ sai lầm và giúp cho các nhóm, các tổ chức gặp gỡ nhau để giải quyết các khác biệt và tạo ra các cơ hội cho đổi mới và đầu tư, hai động lực chính cho việc phát triển kinh tế.
Filed under: Văn hóa | Leave a Comment »
Mấu chốt của bầu cử
Bầu cử là một định chế trọng tâm của các chính phủ dân chủ kiểu đại diện. Tại sao lại như vậy? Vì trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân (người bị quản lý). Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng.
Tất cả các nền dân chủ hiện đại đều tổ chức bầu cử, nhưng không phải tất cả các cuộc bầu cử đều là dân chủ. Các chế độ độc tài cánh hữu, các chế độ Mácxít và các chế độ độc đảng cũng tiến hành bầu cử để hợp pháp hóa cho quyền lực của họ. Trong các cuộc bầu cử như thế, có thể chỉ có một ứng cử viên hoặc một nhóm ứng cử viên mà không có sự lựa chọn nào khác. Các cuộc bầu cử đó có thể đề cử nhiều ứng cử viên cho một vị trí, nhưng chỉ có các ứng cử viên được sự chấp thuận của chính phủ mới được đảm bảo chọn lựa với những thủ thuật hoặc sự hăm dọa các ứng cử viên khác. Một số cuộc bầu cử có thể có sự lựa chọn thực sự, nhưng chỉ được thực hiện trong nội bộ đảng cầm quyền. Tất cả các loại bầu cử đó đều không phải dân chủ.
Thế nào là bầu cử dân chủ?
Jaene Kirkpatrick, học giả và cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc, đã đưa ra định nghĩa sau: “Các cuộc bầu cử dân chủ không đơn thuần là biểu tượng cho một thể chế, mà là các hoạt động mang tính chất cạnh tranh, định kỳ, đầy đủ và xác định, trong đó các nhân vật chủ chốt của chính phủ được bầu lên do chính những công dân được hưởng quyền tự do phê phán, chỉ trích chính phủ, công bố các phê phán và đề xuất các lựa chọn khác một cách công khai”.
Nguyên tắc trên đây của Kirkpatrick muốn nói lên điều gì? Đó là các cuộc bầu cử dân chủ mang tính cạnh tranh. Các đảng đối lập và các ứng cử viên phải được hưởng quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp và biểu tình khi cần thiết để thể hiện tiếng nói phê phán chính phủ một cách công khai và giới thiệu các chính sách cũng như các ứng cử viên cho cử tri. Việc đơn giản chấp nhận phe đối lập tham dự bỏ phiếu kín cũng chưa đủ là dân chủ. Bầu cử mà trong đó phe đối lập bị cấm sử dụng các phương tiện thông tin phát sóng (phát thanh, truyền hình) hoặc bị sách nhiễu hoặc các tờ báo của họ bị kiểm duyệt thì cũng không phải là dân chủ. Đảng cầm quyền có thể được hưởng lợi thế trong phân chia vị trí trí cầm quyền, nhưng các nguyên tắc và cách thức bầu cử phải công bằng.
Bầu cử dân chủ phải mang tính định kỳ. Các thể chế dân chủ không bầu các nhà độc tài hay các tổng thống với nhiệm kỳ suốt đời. Các công chức được bầu phải có trách nhiệm với nhân dân và họ phải quay lại gặp các cử tri theo định kỳ để có được sự nhất trí cho họ tiếp tục giữ quyền hay không. Nghĩa là các công chức trong thể chế dân chủ phải chấp nhận rủi ro có thể bị bãi miễn khỏi chức vụ. Chỉ có một ngoại lệ đó là vị trí thẩm phán, để ngăn cách họ khỏi áp lực của công chúng và đảm bảo tính vô tư trong công việc, các thẩm phán có thể được bầu hoặc chỉ định suốt đời và chỉ bị phế truất khi mắc các sai lầm nghiêm trọng.
Bầu cử dân chủ phải mang tính đầy đủ. Việc xác định các công dân và cử tri phải đủ rộng để bao gồm một tỷ lệ lớn các công dân trưởng thành. Một chính phủ do một nhóm nhỏ và độc quyền lựa chọn không phải là dân chủ, cho dù cách thể hiện hoạt động của nó là dân chủ. Một trong những đấu tranh vĩ đại của dân chủ trong lịch sử là cuộc đấu tranh của những nhóm bị khai trừ (sắc tộc, tôn giáo, phụ nữ) đòi quyền công dân đầy đủ để có quyền bầu cử và đề cử vào các vị trí lãnh đạo. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, khi Hiến pháp được ký vào năm 1787 thì chỉ những người da trắng sở hữu tài sản mới có quyền bầu cử và đề cử. Tiêu chuẩn sở hữu này chấm dứt vào đầu thế kỷ 19 và tới năm 1920 phụ nữ mới giành được quyền bầu cử. Đối với người Mỹ da đen thì mãi tới phong trào đòi quyền dân chủ diễn ra vào những năm 1960 mới giành được quyền bầu cử đầy đủ tại phía nam Hoa Kỳ. Và cuối cùng, tới năm 1971 các công dân trẻ tuổi mới được trao quyền bầu cử khi Hoa Kỳ hạ tuổi bầu cử từ 21 xuống 18 tuổi.
Bầu cử dân chủ phải mang tính xác định. Bầu cử dân chủ để xác định sự lãnh đạo cho chính phủ. Những vị đại diện cho dân chúng được bầu thông qua hình thức phổ thông để nắm quyền lực mà quyền lực này sẽ bị luật pháp và hiến pháp chi phối, điều chỉnh. Họ không phải là những nhà lãnh đạo bù nhìn hay tượng trưng.
Sau cùng, các cuộc bầu cử dân chủ không bị hạn chế trong việc lựa chọn các ứng cử viên. Các cử tri cũng có thể phải quyết định các vấn đề chính sách một cách trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý và các sáng kiến được đưa vào bỏ phiếu kín. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, các vấn đề lập pháp có thể phải quyết định trực tiếp trước các cử tri. Khi có một sáng kiến luật, chính các công dân có thể thu thập một số lượng chữ ký đủ theo quy định (thường theo tỷ lệ % số cử tri đăng ký tại bang) và yêu cầu vấn đề đó phải được đưa ra bỏ phiếu trong lần tiếp theo, ngay cả khi có sự phản đối của cơ quan lập pháp bang hay thống đốc bang. Như tại bang California, các cử tri phải xử lý hàng tá các sáng kiến luật mỗi khi tổ chức bầu cử, từ những vấn đề liên quan tới ô nhiễm môi trường tới vấn đề phí bảo hiểm ô-tô.
Đạo đức dân chủ và phe đối lập trung thành
Các nền dân chủ được phát triển trên cơ sở tính công khai và tính trách nhiệm, với một điểm đặc biệt quan trọng là hành động bầu cử. Để được tự do bỏ phiếu và hạn chế tối đa khả năng hăm dọa khi bầu cử, cử tri phải được quyền bỏ phiếu kín, đồng thời phải bảo vệ được các thùng phiếu và việc kiểm phiếu phải được tiến hành công khai tối đa có thể, khi đó các công dân mới tin tưởng rằng kết quả bầu cử là chính xác và chính phủ đã được thành lập do chính sự nhất trí của họ.
Một trong những khái niệm khó khăn nhất để một số người chấp nhận, đặc biệt là ở những quốc gia đang trải qua thời kỳ chuyển giao quyền lực có tính chất lịch sử bằng vũ lực là khái niệm “phe đối lập trung thành”. Tuy nhiên, ý tưởng này lại có tính chất sống còn cho dân chủ, khái niệm này có nghĩa là các bên trong một thể chế dân chủ cùng chia sẻ một cam kết chung hướng tới các giá trị cơ bản của xã hội. Các đối thủ chính trị không cần thiết phải thương yêu nhau, nhưng họ phải biết chấp nhận nhau và thừa nhận vai trò quan trọng và hợp pháp của nhau. Hơn nữa, các nguyên tắc cơ bản của xã hội phải khuyến khích sự dung hòa và sự lễ độ trong các cuộc tranh luận xã hội.
Khi bầu cử kết thúc, người thua cuộc chấp nhận sự quyết định của cử tri. Nếu đảng cầm quyền thua cuộc, sự chuyển giao quyền lực sẽ diễn ra một cách hòa bình. Cho dù ai thắng cuộc, các bên đều nhất trí hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề chung của xã hội. Những người thua cuộc, nay trở thành bên đối lập chính trị, biết rằng họ sẽ không bị mất mạng hay phải ra tòa. Ngược lại, bên đối lập, cho dù họ gồm một hay nhiều đảng phái khác nhau, có thể tiếp tục tham gia vào đời sống xã hội với một nhận thức là họ đang đóng vai trò quan trọng trong một nền dân chủ xứng đáng với tên gọi như thế. Không phải họ trung thành với các chính sách cụ thể của chính phủ mà họ trung thành với tính hợp pháp cơ bản của nhà nước và trung thành với quá trình dân chủ.
Khi tới lần bầu cử tiếp theo, các đảng đối lập lại có cơ hội để cạnh tranh quyền lực. Hơn nữa, xã hội đa nguyên, do số người nắm quyền lực trong chính phủ chỉ có giới hạn, còn tạo cơ hội tranh cử cho những người thua cuộc vào các vị trí quyền lực công cộng khác ngoài chính phủ. Những người thua cuộc trong bầu cử có thể lựa chọn tiếp tục hoạt động như một đảng đối lập chính thức, hoặc họ cũng có thể quyết định tham gia vào các hoạt động chính trị, các tranh luận công cộng thông qua viết sách báo, giảng dạy hoặc liên kết với các tổ chức tư nhân quan tâm tới các vấn đề chính sách công. Cuối cùng, bầu cử dân chủ không phải là cuộc chiến đấu một mất một còn mà chỉ là sự cạnh tranh để được phục vụ xã hội.
Filed under: Chính Trị | Leave a Comment »